Trong vòng 5 năm trở lai đây, với khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới khuyên dùng thuốc trong điều trị sốt rét dưới dạng thuốc phối hợp ACTs (Artemisinins Based Combination Therapies) hoặc Non-ACTs (Non - Artemisinins Based Combination Therapies) thay cho việc dùng các thuốc đơn trị liệu artesunate hay artemisinine đơn thuần đang có hiện tượng giảm nhạy và kháng thuốc xảy ra tại khu vực biên giới Campuchia và Thái Lan
Thuốc kháng ở một giai đoạn của ký sinh trùng sốt rét thường kéo theo kháng các giai đoạn khác nhau, khi KST kháng thuốc bất kỳ thì chúng có khả năng duy trì suốt vòng đời, truyền sang đời sau, dễ phát sinh kháng chéo trong cùng một nhóm thuốc (chẳng hạn nhóm 4-aminoquinoleine) hoặc có khả năng gây cho muỗi tăng nhiễm KST kháng. Nguyên nhân của sự phát sinh, phát triển KSTSR kháng thuốc có thể do:
Artemisinin được khám phá vào năm 1971 bởi các nhà khoa học Trung Quốc khi nghiên cứu về thảo dược chống lại KSTSR với loại thanh hoa hoa vàng - Artemisinia annua. Artemisinin (ART) có lẽ là chất đầu tiên trong lớp thuốc chiết suất này, khi đó đã sử dụng chúng theo liệu pháp đơn trị liệu, cứu sống hàng triệu người trên toàn thế giới, song đến nay không còn khuyến cáo sử dụng như đơn trị liệu nữa, song thay vì thế nó đã phối hợp với một loại TSR khác như piperaquine (PPQ), lumefantrine (L),
Thực tế trên lâm sàng, một số trường hợp bệnh nhân sốt rét được chữa trị bằng thuốc điều trị ưu tiên theo quy định của Bộ Y tế nhưng có khả năng bị thất bại do ký sinh trùng sốt rét có thể kháng lại với thuốc sử dụng. Vì vậy các cơ sở y tế cần quan tâm đến vấn đề này để xử trí biện pháp phù hợp bằng thuốc điều trị thay thế nhằm đạt được hiệu quả và chủ động ngăn ngừa sốt rét thể thông thường chuyển sang sốt rét ác tính gây tử vong.
Các thử nghiệm sinh học phân tử phân loại kiểu gen (genotype) của P. vivax và phân biệt rõ ràng tái nhiễm và tái phát. Tuy nhiên, việc phân biệt tái phát sớm với tái nhiếm hay tái phát là rất cần thiết để xác định hay phân tích chi tiết về đáp ứng điều trị. Các phương pháp phân tích về mặt di truyền hiện có chưa cho phép phân tích chi tiết điều này.
Plasmodium vivax chiếm phần lớn số ca sốt rét ngoài khu vực châu Phi với ước tính 80-100 triệu ca mỗi năm và nhiều người có nguy cơ nhiễm P. vivax hơn là nhiễm P. falciparum. Một bệnh lý người nghèo sống trong vùng rìa của nền kinh tế đang phát triển, sốt rét P. vivax ngăn cản xã hội trong một vòng lẩn quẩn của đói nghèo. Miễn dịch bảo vệ chống lại P. vivax thường không do lan truyền từng đợt và bệnh xảy ra ở tất cả nhóm tuổi, dù đặc biệt ở người nam trẻ tuổi.
Mặc dù phần lớn các trường hợp sốt rét ác tính, tử vong và mắc bệnh đều quy kết cho P. falciparum, song P. vivax cũng ảnh hưởng đến gần 100 triệu người mỗi năm trên toàn cầu. 10 - 20% số ca P. vivax trên toàn cầu là ở châu Phi, nam Sahara; tại vùng Đông và Nam Phi, P. vivax chiếm khoảng 10% và riêng tại Tây và Trung Phi, P. vivax chiếm dưới 1%. Ngoài châu Phi, P. vivax chiếm trên 50% và trong đó đó 80 - 90% số ca là nằm ở các quốc gia Trung Đông, châu Á, Tây Thái Bình Dương
Trong nghiên cứu đánh giá hiệu lực thuốc sốt rét tại thực địa (nghiên cứu in vivo), điều trị bệnh nhân sốt rét tại cộng đồng hoặc các tuyến bệnh viện, đôi khi gặp phải một số trường hợp thất bại điều trị cần biết cách nhận định chính xác và có quyết định thay đổi phác đồ điều trị hợp lý.
Hội chứng tim phổi do loại virus Hanta (Hantavirus (cardio-)pulmonary syndrome hayHantavirus pulmonary syndrome_HPS) là một bệnh lý có thể dẫn đến tử vong lây truyền qua các loài gặm nhấm thông qua nước tiểu, giọt tiết bắn ra hoặc nước bọt của chúng bắn ra.
Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005Địa chỉ: 611B Nguyễn Thái Học - Tp. Quy Nhơn - T.Bình Định.Tel: (84) 056 3547492 - Fax: (84) 056 3647464 Email: impe.quynhon@gmail.comTrưởng ban biên tập: TTND.TS. Nguyễn Văn Chương - Viện trưởng Phó Trưởng ban biên tập: TTND.PGS.TS.Triệu Nguyên Trung - Nguyên Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích