Thực hiện Dự án quốc gia phòng chống sốt rét (PCSR) và phòng chống giun sán (PCGS) ở khu vực miền Trung-Tây Nguyên. Viện Sốt rét KST-CT Quy Nhơn đã tiến hành nhiều đề tài nghiên cứu khoa học (NCKH) cấp nhà nước, cấp bộ, cơ sở và hợp tác quốc tế, các đề tài đã được nghiệm thu và đánh giá cao về chất lượng nghiên cứu.
1. Kinh tế - xã hội và sốt rét:
Đaklak, Gia lai, Kon Tum KT – XH phát triển chậm nhất cả nước. Khó khăn cho phát triển kinh tế hộ gia đình là thiếu vốn, ở Kon Tum: 74,7%, Đaklak: 70% và Gia lai: 62,6%, thiếu sức khỏe: 8,5%. Vùng III thiếu vốn: 74,6%, vùng I: 67,8% cao hơn vùng II, thiếu sức khỏe vùng III cao nhất: 11,7%. Cần vốn để phát triển kinh tế cao nhất Kinh: 84,7%, kế đến Bana, Mnông, Hơ lang, Êđê và thiếu sức khỏe cao nhất là Mnông.
DDT, Icon, Deltamethrin và Permethrrin là những hóa chất đã và đang sử dụng trong chương trình PCSRQG, các hóa chất này có tác dụng diệt các vector truyền bệnh sốt rét trú đậu trong nhà ngày, đêm và hạn chế vào nhà đốt máu. Đã làm giảm rõ rệt tỷ lệ KSTSR ở các vùng SRLH.
An. dirus và An. minimus là 2 loài truyền bệnh sốt rét chính ở 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Quảng Nam, chúng phân bố rộng đến các vùng SRLH vừa như Quảng Trị và Quảng Nam. Một số loài Anopheles như: An.philippinensis, An.aconitus, An.kochi…
Miền Trung – Tây Nguyên đã phát hiện 48 loài Anopheles chiếm 81,35% số lượng loài cả nước. An. dirus và An. minimus là 2 vector truyền bệnh sốt rét ở khu vực. Mùa truyền bệnh sốt rét ở khu vực lưu hành quanh năm và cũng tạo thành 2 đỉnh quan trọng ở mùa khô và ở mùa mưa.
Ở Vân Canh, Bình Định và Khánh Phú, Khánh Hòa hiện nay An.dirus và vector đóng vai trò truyền bệnh sốt rét quan trọng hơn An.minimus và các tháng trong mùa mưa (tháng 9 – 10 -11) là mùa truyền bệnh sốt rét mạnh nhất ở miền Trung. An minimus có khả năng lan truyền sốt rét quanh năm và An.dius chỉ góp phần tăng cường lan truyền sốt rét vào các tháng trước và sau mùa mưa ở Tây Nguyên.
1. Thực trạng các vùng trọng điểm sốt rét miền Trung- Tây Nguyên và các giải pháp ưu tiên. .tr 7.
2. Sốt rét ở nam Trà My tỉnh Quảng Nam- Nguy cơ và giải pháp .. tr 14.
3. Biện pháp quản lý sốt rét vùng biên giới và tuyến đường Hồ Chí Minh tại Thưa Thiên- Huế .tr. 16.
4. Tình hình sốt rét trong ngành cao su 5 năm (2000-2004) < Nguyễn Văn Minh>tr. 20.
5. Công tác truyền thông giáo dục xã hội hoá phòng chống sốt rét tỉnh Qủang Trị 2001- 2005 ...tr. 23.
6. Tình hình sốt rét tại một số đơn vị quân đội ở khu vực miền Trung- Tây Nguyên 2001- 2004. .tr.26.
Huyện Sơn hòa (tỉnh Phú yên) và huyện Ninh Sơn (Ninh Thuận ) được chọn nghiên cứu vì nằm sâu trong vùng sốt rét lưu hành vừa và nặng, có đặc điểm tình hình sốt rét phức tạp, nhất là P.falciparum đa kháng thuốc và công tác giám sát, chẩn đoán, điều trị BNSR ở các tuyến rất hạn chế.
Nghiên cứu hiệu lực của artemisinin và artesunat trong điều trị sốt rét tại khu vực miền Trung Tây Nguyên, bằng thử nghiệm in vitro 28 ngày của WHO đã xác định:
- Artemisinin và artesunat điều trị đơn thuần có tác dụng cắt sốt, cắt ký sinh trùng nhanh trong 24- 28 giờ điều trị, nhưng tỷ lệ tái phát sớm ( N7 – N14) khoảng 18 – 40%. Chưa thấy tác dụng phụ xuất hiện trong quá trình theo dõi.
Trang tin điện tử Viện Sốt rét Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005Địa chỉ: 611B Nguyễn Thái Học - Tp. Quy Nhơn - T.Bình Định.Tel: (84) 056 847725 - Fax: (84) 056 847921 Trưởng ban biên tập: TS. Triệu Nguyên Trung - Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích