Home TRANG CHỦ Thứ 3, ngày 28/05/2024
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Web Sites & Commerce Tin tức - Sự kiện
Web Sites & Commerce Hoạt động hợp tác
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Finance & Retail Chuyên đề
Dịch tễ học
Côn trùng học
Nghiên cứu lâm sàng & điều trị
Ký sinh trùng sốt rét
Ký sinh trùng
Sinh học phân tử
Sán lá gan
Sốt xuất huyết
Bệnh do véc tơ truyền
Vi khuẩn & Vi rút
Sán
Giun
Nấm-Đơn bào
Web Sites & Commerce Tư vấn sức khỏe
Web Sites & Commerce Tạp chí-Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động Đảng & Đoàn thể
Web Sites & Commerce Bạn trẻ
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Trung tâm dịch vụ
Web Sites & Commerce Thông báo-Công khai
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
5 2 7 6 8 3 4 6
Số người đang truy cập
3 0 9
 Chuyên đề Nghiên cứu lâm sàng & điều trị
Phần 3. Người mang ký sinh trùng sốt rét không triệu chứng: Ổ chứa tiềm tàng & khó khăn trong loại trừ sốt rét trên toàn cầu

Phần 1. Người mang ký sinh trùng sốt rét không triệu chứng: Ổ chứa tiềm tàng & khó khăn trong loại trừ sốt rét trên toàn cầu
Phần 2. Người mang ký sinh trùng sốt rét không triệu chứng: Ổ chứa tiềm tàng & khó khăn trong loại trừ sốt rét trên toàn cầu

Mô hình áp dụng điều trị hàng loạt (MDA) hoặc mở rộng có chủ đích (TDA) trên quần thể NMTKTC có hiêu quả như thế nào?

Tại Gambia, Joseph Okebe và cộng sự (2015) nghiên cứu khả năng diệt giao bào của PQ trên nhóm NMTKTC cùng với thuốc DHA-PPQ. Nghiên cứu gồm 4 nhánh, ngẫu nhiên có đối chứng, nhãn mở nhằm xác định và so sánh hiệu quả của 3 liều đơn khác nhau PQ phối hợp với DHA-PPQ trên nhóm NMTKTC có mang giao bào và có hoạt độ G6PD bình thường. Tổng số 1200 người đưa vào và theo dõi 42 ngày với đánh giá ban đầu là tỷ lệ người mang giao bào P. falciparum ở ngày thứ 7 theo dõi bằng xét nghiệm phân tử và đánh giá thứ hai là thử nghiệm sinh học xác định tính nhiễm với muỗi. Tại châu Phi, tỷ lệ thiếu G6PD tương đối cao nênảnh hưởng đến tiềm năng dùng PQ để giảm lan truyền. Tuy nhiên, sàng lọc G6PD không thể khả thi về chi phí và phiên giải kết quả nguy cơ tán huyết do PQ, điều này còn lệ thuộc vào liều PQ có thể diệt giao bào và ngăn lan truyền.

Nghiên cứu của Isaac Ghinai và cộng sự (2017) đánh giá dịch tễ sốt rét ở Myanmar về ổ chứa NMTKTC, đồng thời giáp với vùng kháng thuốc do P. falciparum với Campuchia và Thái Lan, nếu muốn LTSR cần đánh giá đầy đủ về dịch tễ toàn bộ Myanmar từ điều tra cắt ngang tại Phyu, Bago của Myanmar trong suốt mùa mưa. Tất cả dữ liệu lâm sàng và hành vi được ghi nhận, lấy giọt máu trên giấy thấm làm PCR và huyết thanh. Mẫu P. falciparum dương tính được phân tích tìm đột biến gen K13 liên quan đến kháng artemisinin. Tỷ lệ huyết thanh và PCR đặc hiệu được tính toán và phân tích hồi quy xác định YTNC dương tính với P. falciparum. Kết quả cho thấy trong 1638 người từ 500 hộ gia đình, tỷ lệ dương tính PCR thấp (2,5%) và hầu hết không có sốt (93%). P. falciparum loài phổ biến nhất và 5 ca có đột biến gen K13 liên quan đến P. falciparum kháng thuốc. P. knowlesi cũng được phát hiện (1%) và P. vivax là 0,4%.

Tỷ lệ huyết thanh (+) là 9,4% đối với P. falciparum và 3,1% với P. vivax. Sự đảo nghịch huyết thanh đối với P. falciparum 0,003/năm trong toàn bộ quần thể, nhưng ở nam giới trên 23 tuổi cao nhất. Số liệu cho thấy tình trạng lan truyền tiếp tục, có thể liên quan đến YTNC hành vi trên đối tượng nam giới độ tuổi lao động, đồng thời đột biến gen kháng và sự có mặt P. knowlesi là thách thức trong LTSR.

Tadesse FG và cộng sự (2015) cũng đánh giá NMTKTC nhiễm P. falciparumP. vivax không thể phát hiện được bằng KHV và test nhanh tại vùng SRLH thấp ở Ethiopia. Điều tra ngang tại Malo (Ethiopia) với 555 mẫu máu có sự hiện diện P. falciparum P. vivax bằng các XN lam máu và RDTs và nested-PCR. Phân tích các mẫu nhiễm P. falciparum xác định kiểu gen thông qua tính đa hình của gen mã hóa protein bề mặt thoi trùng, đồng thời phân tích đột biến gen các biến thể thiếu G6PD. Kết quả cho thấy mọi người tham gia đều không sốt, âm tính với KHV và test nhanh, nhưng kết quả nested-PCR lại biểu hiện nhiễm P. falciparum 5,2% (29/555), P.vivax 4,3% (24/555) và nhiễm phối hợp 0,2% (1/555). Việc phát hiện nhiều ca nhiễm bởi công cụ phân tử là câu hỏi liệu có thể LTSR thành công?

Nghiên cứu của Rupam Tripura và cộng sự (2017) tại Campuchia về tỷ lệ NMTKTC tại phía Tây cho biết tỷ lệ P. falciparum giảm trong vòng 10 năm qua không song song với giảm P. vivax. Người ta không biết sự lan truyền tại chỗ vẫn tồn tại kéo dài như thế nào vì NMTKTC vẫn còn và lan truyền thông qua nhóm dân di biến động. Áp dụng công cụ phân tử siêu nhạy tại 20 thôn của Battambang, phía tây Campuchia để phát hiện P. falciparum P. vivax vào mùa lan truyền. Mẫu máu được XN Plasmodium spp. bằng test nhanh, KHV và uPCR, tiếp đó các mẫu dương được làm định loài Plasmodium spp. Trong số 1000 mẫu phân tích có 91 ca (9,1%) dương tính bằng uPCR, 7 ca (0,7%) dương bằng KHV và 2 ca (2%) bằng test nhanh. Tỷ lệ nhiễm P. vivax bằng uPCR là 6,6%, P. falciparum 0,7% và loài Plasmodium spp. khác (1,8%). Tỷ lệ P. vivax được xác định bằng uPCR có liên quan ý nghĩa với tỷ lệ mắc mới P. vivax từ 2014-2015, ngược lại không có mối liên quan trên nhóm nhiễm P. falciparum. Tỷ lệ nhiễm Plasmodium spp. cho thấy không tương xứng về các ổ chứa giữa các thôn điều tra và tỷ lệ sốt rét ở đó. Mối liên quan ở đây cũng biểu hiện nhiễm P. vivax cao gấp 9 lần P. falciparum và nếu không dùng PQ điều trị tiệt căn, P. vivax tiếp tục lan truyền ngay cả khi P. falciparum giảm xuống và dân di biến động liên quan đến 1/3 số ca sốt rét này.

Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 2010) đã cân nhắc áp dụng chỉ định MDA để ngăn chặn sốt rét kháng thuốc artemisinin tại Tiểu vùng sông Mê Kông (GMS). Sau khi nhìn nhận P. falciparum tại biên giới phía Tây Campuchia-Thái Lan biểu hiện kháng artemisinin và vùng này trong lịch sử đã từng xảy ra kháng với nhiều thuốc khác do P. falciparum sau đó lan rộng từ châu Á sang châu Phi,ảnh hưởng nghiêm trọng đến chiến lược LTSR. Xét nghiệm loạtmẫu máu bằng PCR cho thấy có một lượng lớn NMTKTC nhiễm Plasmodium spp. và nhiều ca có mật độ thấp không thể phát hiện dưới ngưỡng KHV hay test nhanh. Một tiếp cận tiềm năng có thể chẩn đoán được các ca như thế và chỉ định MDA trong một vùng địa lý nhất định chỉ là công cụ PCR. Nhìn chung, TCYTTG không khích lệ áp dụng MDA như một biện pháp thường quy vì nghiên cứu chỉ ra chúng tác động lên sự lan truyền chỉ tồn tại trong thời gian ngắn và một số kiểu gen của KSTSRchọn lọc kháng thuốc như trong trường hợp artemisinin, song nếu áp dụng MDA loại bỏ các quần thể Plasmodium spp. khó có thể phát hiện như nhóm NMTKTC.

Gretchen Newby và cộng sự (2015) của Đại học California đã tổng hợp MDA và sử dụng PQ cũng đã đưa ra một số khó khăn. Mặc dù MDA là một trong những thành phần của PCSR trong kỷ nguyên tiêu diệt SR, nhưng sau đó hiếm khi triển khai do liên quan đến tính khả thi và nguy cơ kháng thuốc. Tuy nhiên, gần đây các nhà làm chính sách đã nhận ra vai trò lợi điểm mới của MDA như một công cụ LTSR, nhất là trên các quần thể đích, phương pháp cải thiện độ bao phủ và dùng PQ an toàn. Nhìn chung, MDA về căn bản làm giảm nguy cơ nhiễm trong máu, song tác động bền vững sau 6 tháng can thiệp MDA? Để đánh giá liệu MDA có tác động lên lan truyền sốt rét trong thời gian dài không thì đòi hỏi phải có nghiên cứu thử nghiệm nhằm tiến tới LTSR, đặc biệt tại các vùng lan truyền thấp và vừa để đạt đầu ra với kết quả dài hạn.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Bộ Y tế (2020). Quyết định số 2699/QĐ-BYT, ngày 26 tháng 6 năm 2020 về việc Hướng dẫn Chẩn đoán và điều trị bệnh sốt rét. Hà Nội.

2.Abtie Abebaw, Yibeltal Aschale, Asrat Hailu et al., (2022). The prevalence of symptomatic and asymptomatic malaria and its associated factors in Debre Elias communities, Northwest Ethiopia. Malaria Journal (2022) 21:167.

3.Adela Ida Jiram, Choo Huck Ooi, Nor Parina Ismail, Nor Wahida Alias (2019).Evidence of asymptomatic submicroscopic malaria in low transmission areas in Belaga district, Kapit division, Sarawak, Malaysia. Malar J (2019) 18:156.

4.Adu B, Issahaque Q-A, Sarkodie-Addo T, Sinclear CK, EyiaAmpah S (2020). Microscopic and submicroscopic asymptomatic Plasmodium falciparuminfections in Ghanaian children and protection against febrile malaria. Infect Immun 88:e00125-20.

5.Akash Ramaswamy, Chakrapani Mahabala, Animesh Jainet al., (2020). Asymptomatic malaria carriers and their characterization in hotpops of malaria at Mangalore. Trop Parasitol.2020 Jun; 10(1):24-28.

6.Awoke Minwuyelet, Tegegne Eshetu, Dagnaneh Milikit, Yibeltal Aschale (2020). Prevalence and risk factors of asymptomatic Plasmodium infection in Gondar Zuria district, Northwest Ethiopia. Infection and Drug Resistance 2020(13):3969-3975.

7.Pedro Berzosa, Aida de Lucio et al., (2018). Comparison of three diagnostic methods (microscopy, RDT, and PCR) for the detectionof malaria parasites in representative samples from Equatorial Guinea. Malar J (2018) 17:333.

8.Cho Naing, Norah Htet Htet, Maxine A. Whittaker et al., (2022). Detection of asymptomatic malaria in Asian countries: A meta-analysis of diagnostic accuracy. Malaria Journal (2022):21:50.

9.Chen I, Clarke SE, Gosling R et al., (2016). Asymptomatic malaria: A chronic and debilitating infection that should be treated. PLoS Med.;13:e1001942.

10.Dhaneswar Prusty, Nidhi Gupta, Arun Upadhyay, Vijay Kumar Prajapati (2021). Asymptomatic malaria infection prevailing risks for human health and malaria elimination. Infection, Genetics and Evolution, Volume 93, September 2021, 104987

11.Gretchen Newby, Jimee Hwang, Kadiatou Koita, Ingrid Chen et al., (2015). Review of mass drug administration and primaquin use for malaria and its operational challenges. The Malaria Elimination Initiative, Global Health Group, University of California.

12.Hofmann N, Mwingira F, Shekalaghe S, Robinson LJ et al., (2015). Ultrasensitive detection of Plasmodium falciparum by amplification of multi-copy subtelomeric targets. PLoS Med 12(3): e1001788.

13.Imwong M, Nguyen TN, Tripura R, Lee SJ et al., (2015). The epidemiology of subclinical malaria infections in South-East Asia: findings from cross-sectional surveys in Thailand-Myanmar border areas, Cambodia, and Vietnam.Malar J.;14:381.

14.Isaac Ghinai, Jackie Cook, Teddy Tun Win Hla et al., (2017). Malaria epidemiology in Central Myanmar: Identification of a multispecies asymptomatic reservoir of infection.Malar J (2017)16:16.

15.Joseph Okebe, Teun Bousema, Gian Luca Di Tanna et al., (2014). The gametocytocidal efficacy of primaquin in malaria asymptomatic carriers treated with dihydroartemisinin-piperaquine in the Gambia: Study protocol for a randomised controlled trial. Trials (2015)16:70.

16.Kimberly M. Fornace, Nor Afizah Nuin, Martha Betson, Chris J. Drakeley et al., (2016). Asymptomatic and submicroscopic carriage of Plasmodium knowlesi malaria in household and community members of clinical cases in Sabah, Malaysia. The Journal of Infectious Diseases, 2016;213:784-7.

17.Lucio Luzzatto, Paolo Arese (2018). Favism and the glucose-6-phosphate dehydrogenase deficiency. N Engl J Med 2018; 378:60-71.

18.Maria Koromina, Maria Theodora Pandi, Volker M. Lauschke (2019). The ethnogeographic variability of genetic factors underlying G6PD defciency. Pharmaceutical research, 173(2021):105904.

19.Nguyen TN, Von Seidlein L, Nguyen TV et al., (2018). The persistence and oscillations of submicroscopic Plasmodium falciparum and Plasmodium vivax infections over time in Vietnam: An open cohort study. Lancet Infect Dis. 2018; 18:565-572.

20.Pfeffer DA, Ley B, Howes RE, Adu P, Bansil P et al., (2020). Quantification of glucose-6-phosphate dehydrogenase activity by spectrophotometry: A systematic review and meta-analysis. PLoS Med 17(5): e1003084

21.Natalie E Hofmann, Maria Gruenberg, Alice Ura et al.,(2018). Assessment of ultra-sensitive malaria diagnosis versus standard molecular diagnostics for malaria elimination: An in-depth molecular community cross-sectional study.Lancet Infect Dis 2018;18:1108-16.

22.Lorenz von Seidlein, Jordi Landier, Thuy Nhien Nguyen et al., (2019). The impact of targeted malaria elimination with mass drug administrations o­n falciparum malaria in Southeast Asia: A cluster randomised trial. PLoS Med 16(2): e1002745.

23.Thuy Nhien Nguyen, Huynh Hong Quang, Lorenz von Seidein, Nicholas J. White, Tran Tinh Hien et al., (2017). Community perceptions of targeted anti-malarial mass administration in two provinces in Vietnam: A quantitative survey. Malaria journal (2017): 16:17.

24.Melanie Bannister-Tyrrell, Set Srun, Vincent Sluydts et al., (2018).Importance of household-level risk factors in explaining microepidemiology of asymptomatic malaria infections in Ratanakiri province, Cambodia. Scientific report8:11643.

25.Obinna o­nwujekwe,Eric Obikeze et al., (2010). Improving quality of malaria treatment services: Assessing inequities in consumers' perceptions and providers' behaviour in Nigeria. Int. J. for Equity in Health, 9:22.

26.Paul M. Hayuma, Christian W. Wang, Edwin Liheluka, Vito Baraka, Rashid A. Madebe, Daniel T. R. Minja, Gerald Misinzo, Michael Alifrangis, John P. A Lusingu et al.,(2021).Prevalence of asymptomatic malaria, submicroscopic parasitaemia and anaemia in Korogwe District, north-eastern Tanzania. Malar J (2021) 20:424.

27.Stephanie I, StudnibergGarnhamDiana S Hansenet al., (2022). Molecular profiling reveals features of clinical immunity and immunosuppression in asymptomatic P. falciparum malaria. Molecular Systems Biology, 18:e10824

28.Tiengkham Pongvongsa, Koukeo Phommasone, Bipin Adhikariet al., (2018). The dynamic of asymptomatic P. falciparum infections following mass drug administrations with dihydroarteminisin-piperaquin plus a single low dose of primaquin in Savannakhet province, Laos. Malar J (2018) 17:405.

29.Sarah Auburn, Qin Cheng, Jutta Marfurt, Ric N. Price (2021). The changing epidemiology of Plasmodium vivax: Insights from conventional and novel surveillance tools. PLoS Med 18(4): e1003560

30.Shehu S. Awandu, Jaishree Raman, Takalani I. Makhanthisa, Philip Kruger, John Frean, Teun Bousema, Jandeli Niemand, Lyn‑Marie Birkholtz (2018). Understanding human genetic factors infuencing primaquine safety and efcacy to guide primaquine roll-out in a preelimination setting in southern Africa. Malar J (2018) 17:120

31.WHO (2022). World Malaria Report.

32.Yan Zhao, Jie Zeng, Yonghong Zhao, Qingyang Liu, Yang He, Jiaqi Zhang, Zhaoqing Yang, Qi Fan, Qinghui Wang, Liwang Cui, Yaming Cao (2019). Risk factors for asymptomatic malariainfections from seasonal cross-sectional surveys along the China-Myanmar border. Malar J (2018) 17:247.

Ngày 09/02/2023
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang& CN. Nguyễn Thái Hoàng  

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên khoa của Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn khám bệnh tất cả các ngày trong tuần (kể cả thứ 7 và chủ nhật)

   THÔNG BÁO: Phòng khám chuyên khoa Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn xin trân trọng thông báo thời gian mở cửa hoạt động trở lại vào ngày 20/10/2021.


 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 CHUYÊN ĐỀ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: Khu vực 8-Phường Nhơn Phú-Thành phố Quy Nhơn-Tỉnh Bình Định.
Tel: (84) 0256.3846.892 - Fax: (84) 0256.3647464
Email: impequynhon.org.vn@gmail.com
Trưởng Ban biên tập: TTND.PGS.TS. Hồ Văn Hoàng-Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích