Home TRANG CHỦ Thứ 4, ngày 29/06/2022
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Web Sites & Commerce Tin tức - Sự kiện
Finance & Retail Hoạt động hợp tác
Hợp tác trong nước
Hợp tác quốc tế
Dân tộc thiểu số
Dự án Quỹ toàn cầu PCSR
Quân dân y kết hợp
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Web Sites & Commerce Chuyên đề
Web Sites & Commerce Tư vấn sức khỏe
Web Sites & Commerce Tạp chí-Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động Đảng & Đoàn thể
Web Sites & Commerce Bạn trẻ
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Trung tâm dịch vụ
Web Sites & Commerce Thông báo-Công khai
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
4 7 0 1 9 1 5 6
Số người đang truy cập
1 0 0
 Hoạt động hợp tác Dân tộc thiểu số
(ảnh st)
Người dân tộc Lô Lô

Người dân tộc Lô Lôđược gọi theo cách gọi ở Việt Nam và Thái Lan, còn ở tại Trung Quốc được gọi là người dân tộc Di theo cách gọi ở Trung Quốc. Tiếng Trung Quốc đọc là Yìzú, âm Hán Việt đọc là Di tộc. Dân tộc Lô Lô còn có các tên gọi khác là Mùn Di, Màn Di, La La, Qua La, Ô Man, Lu Lộc Màn; đây là một trong số 54 dân tộc của Việt Nam, đồng thời cũng là một trong số các dân tộc thiểu số của Thái Lan, Lào và Trung Quốc. Tên gọi Lô Lô (Lolo) ở Trung Quốc có khi được xem là mang sắc thái không hay, nhưng lại là tên tự gọi ở Việt Nam và Thái Lan.

Dân số và địa bàn cư trú

Tại Trung Quốc, dân tộc này có dân số 7.762.286 người và được gọi là người Di, tên tự gọi theo phiên tự là Nuosu; đây là dân tộc có dân số đứng hàng thứ 7 trong số 56 dân tộc được công nhận chính thức của Trung Quốc. Họ sống chủ yếu ở các vùng nông thôn, vùng núi thuộc các tỉnh Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý Châu và Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây.

Tại Việt Nam, theo điều tra năm 1999 có 3.307 người dân tộc Lô Lô cư trú chủ yếu ở các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang; huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng; huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người dân tộc Lô Lô ở Việt Nam có dân số 4.541 người, cư trú tại 30 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người dân tộc Lô Lô cư trú tập trung tại các tỉnh Cao Bằng 2.373 người, chiếm tỷ lệ 52,3% tổng số người Lô Lô tại Việt Nam; tỉnh Hà Giang 1.426 người; tỉnh Lai Châu 617 người... Người dân tộc Lô Lô là cư dân có mặt từ rất sớm ở vùng cực bắc của tỉnh Hà Giang.

Lịch sử và ngôn ngữ

Theo lịch sử, có truyền thuyết nói rằng người dân tộc Di bắt nguồn từ tộc người Khương cổ ở miền Tây Trung Quốc. Người Khương cổ được coi là thủy tổ của các dân tộc Tạng, Nạp Tây và Khương (Qiang) ở Trung Quốc ngày nay. Người dân tộc Di đã di cư từ vùng Đông Nam Tây Tạng qua tỉnh Tứ Xuyên xuống tỉnh Vân Nam, đây là nơi ngày nay họ tập trung đông nhất. Người dân tộc Lô Lô còn có tên là Di có lẽ là do họ sống ở miền Nam Trung Quốc.

Ngôn ngữ người dân tộc Lô Lô hay ngôn ngữ người Di thuộc ngữ tộc Tạng-Miến trong ngữ hệ Hán-Tạng và có chữ viết riêng theo vần âm tiết. Chữ viết của người dân tộc Lô Lô trước kia là chữ tượng hình, nhưng hiện nay không dùng nữa. Theo Ethnologue, nhóm các ngôn ngữ người Di tại Trung Quốc bao gồm 29 ngôn ngữ có quan hệ gần gũi với nhau.Khoảng thế kỷ 14, người dân tộc Lô Lô đã có chữ tượng hình với 140 bộ thủ. Người ta dùng phương pháp ghép bộ thủ để diễn đạt nghĩa. Chữ được ghi trên các tấm gỗ mỏng, trên da thú hoặc loại giấy dày, thô. Tới nay chỉ có một số gia đình còn giữ lại được một vài mảnh có ghi lại loại chữ đó mà ít ai đọc được.

Đặc điểm cộng đồng, quan hệ xã hội

Người dân tộc Lô Lô có nhiều dòng họ. Người trong dòng họ thường cộng cư với nhau thành một làng. Người Lô Lô thường lập làng ở lưng chừng núi nhưng gần nguồn nước. Dân tộc Lô Lô có hai nhóm người là Lô Lô hoa hay Di trắng (bình dân) và Lô Lô đen hay Di đen (quý tộc).

Người Lô Lô sống tập trung trong các bản làng tương đối ổn định. Tính cộng đồng của tộc người thể hiện rõ nét. Người dân tộc Lô Lô có hơn 30 dòng họ khác nhau. Mỗi dòng họ thường quần tụ trong phạm vi một làng bản, thờ cúng chung một ông tổ và có một khu nghĩa địa riêng nằm trong nghĩa địa chung của công xã. Người Lô Lô thích các quan hệ hôn nhân nội tộc người và thực hiện nguyên tắc ngoại hôn giữa các dòng họ.

Nhà cửa của người dân tộc Lô Lô ở khá tập trung, mỗi bản làng từ 20 đến 25 nóc nhà. Người Lô Lô có 3 loại nhà khác nhau là nhà đất, nhà sàn nửa đất và nhà sàn.

Nguồn sống chủ yếu của người dân tộc Lô Lô là trồng ngô hoặc lúa nương. Họ còn làm ruộng nước và nương định canh với các cây trồng chính như lúa nếp, lúa tẻ và ngô. Chăn nuôi gia đình tương đối phát triển và là một nguồn lợi đáng kể.

Hôn nhân gia đình và tín ngưỡng

Hôn nhân theo tập tục của người dân tộc Lô Lô là hôn nhân một vợ một chồng, người vợ cư trú tại nhà chồng.Phong tục cưới xin của người dân tộc Lô Lô mang nặng tính gả bán với việc thách cưới cao như bạc trắng, rượu, thịt... Sau hôn nhân, cô dâu cư trú bên nhà chồng. Con trai của người cô có thể lấy con gái của người cậu nhưng không được ngược lại. Người phụ nữ khi mang thai phải kiêng kỵ nhiều trong chế độ ăn uống và sản xuất. Sản phụ đẻ ở nhà với sự giúp đỡ của bà mụ trong bản. Sau 12 ngày làm lễ đặt tên cho con và có thể đổi tên nếu đứa trẻ hay khóc hoặc chậm lớn.

Người dân tộc Lô Lô thờ cúng tổ tiên, bố mẹ và những người thân đã mất là chính. Họ theo tín ngưỡng xem mọi vật đều có linh hồn. Trên bàn thờ có những bài vị hình nhân bằng gỗ, vẽ mặt bằng than đen. Linh hồn giữ vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh. Đứng đầu dòng họ là Thầu chú (Bimaw). Người này phụ trách việc cúng bái và duy trì tục lệ của dòng họ. Họ vẫn còn giữ được một vài văn bản tôn giáo cổ viết bằng một thứ chữ tượng hình của họ. Tôn giáo của dân tộc Lô Lô cũng mang nhiều yếu tố của Đạo giáo và đạo Phật.

Khi có người chết, tang ma có nhiều lễ thức độc đáo như hoá trang, nhảy múa, đánh lộn... Dấu vết của tục săn đầu còn thể hiện khá rõ ở hiện tượng một người luôn đeo chiếc túi vải có đựng khúc gỗ hay quả bầu có vẽ mặt người trong tang lễ.

Đặc điểm văn hóa

Tuỳ từng nơi, người dân tộc Lô Lô sống trong ba loại nhà là nhà trệt, nhà sàn hoặc nhà nửa sàn nửa đất ở các huyện Ðồng Văn, Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang; huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng; huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Về phương tiện vận chuyển, người dân tộc Lô Lô quen dùng gùi đan bằng mây, giang, có hai quai để chuyên chở; địu trẻ em trên lưng khi đi xa hoặc lúc làm việc

Người dân tộc Lô Lô chủ yếu ăn ngô bằng cách xay thành bột đồ chín. Bữa ăn phải có canh. Họ thường dùng bát và thìa bằng gỗ.

Văn hóa dân gian của người dân tộc Lô Lô đa dạng, đặc sắc thể hiện qua các điệu nhảy múa, hát ca, truyện cổ... Cách bố trí hoa văn trên khăn áo, váy, quần có nét riêng biệt rất sặc sỡ.

Lịch của người dân tộc Lô Lô chia một năm thành 11 tháng, mỗi tháng tương ứng với tên một con vật.

Người dân tộc Lô Lô có trống đồng được bảo quản bằng cách chôn xuống đất và chỉ khi nào sử dụng mới đào lên. Tộc trưởng của mỗi họ là người được giữ trống. Trống chỉ được dùng trong các đám tang hoặc đánh để giữ nhịp cho các điệu nhảy múa. Họ là một trong số ít các dân tộc ở Việt Nam hiện nay còn sử dụng trống đồng trong sinh hoạt. Trống đồng là một nhạc cụ truyền thống của người Lô Lô gắn liền với huyền thoại về nạn hồng thuỷ. Theo huyền thoại thì ngày xưa có nạn lụt lớn, nước dâng cao đến tận trời. Có hai chị em nhờ trời cứu để chị vào trống đồng to, em vào trống đồng nhỏ. Hai chị em thoát chết nhờ trống nổi lên mặt nước. Hết lũ lụt họ ở trên núi, sống với nhau thành vợ, thành chồng. Họ là thuỷ tổ của loài người tái sinh.

Quan niệm về âm dương, sự sinh sôi nảy nở có lẽ còn được bảo tồn rõ ràng với lối hoà tấu hai trống đực và cái cùng một lúc. Trống treo trên giá đặt ở phía chân người chết; mặt của hai trống quay lại với nhau. Người đánh trống đứng ở giữa, cầm dùi đánh bằng hai đầu, cứ một đầu dùi đánh một trống. Chỉ những người đàn ông chưa vợ hoặc có vợ không ở trong thời kỳ thai nghén mới được đánh trống.Trống đồng không những là một tài sản quý, một nhạc cụ độc đáo mà còn là một khí cụ mang tính chất tôn giáo. Có tiếng trống đồng thì hồn người chết mới tìm được đường về nơi sinh tụ đầu tiên của tổ tiên.

Nhiều người dân tộc Di ở vùng Tây Bắc tỉnh Vân Nam còn giữ một hình thức phức tạp của chế độ nô lệ. Người Di trắng và một vài nhóm tộc khác còn bị giữ làm nô lệ. Những nô lệ "đẳng cấp cao" thì được phép canh tác trên ruộng đất của họ, có nô lệ của mình và dần dần có thể "mua" tự do cho mình.

Tết Nguyên đán của người dân tộc Lô Lô tổ chức như người Hán và người Việt. Ngoài ra họ còn có tập tục ăn cơm mới, Tết Ðoan ngọ, Rằm tháng bảy...

Đặc điểm trang phục

Trang phục của người dân tộc Lô Lôkháphong phú về chủng loại, kỹ thuật tạo dáng áo và độc đáo về phong cách mỹ thuật, khó lẫn lộn với bất cứ tộc người nào. Có nhiều nhóm địa phương với các loại trang phục.

Namgiới người dân tộc Lô Lô thường mặc áo xẻ nách năm thân dài tới gối, màu chàm. Quần cũng là loại xẻ dùng màu chàm. Trong đám tang mặc áo dài xẻ nách, trang trí hoa văn sặc sỡ theo từng chi và dòng họ.

Người phụ nữ dân tộc Lô Lô để tóc dài quấn ngang đầu. Bên cạnh đó họ còn dùng khăn quấn thành nhiều lớp trên đầu hoặc đội. Khăn cũng được trang trí các loại hình hoa văn và các tua vải màu sắc sặc sỡ. Ngoài ra còn có loại mũ khăn trang trí hoa văn theo lối ghép vải, một phong cách mỹ thuật khá điển hình của cư dân Tạng-Miến mà dân tộc Lô Lô là tộc người có nét biểu hiện khá tập trung và điển hình. Các nhóm người dân tộc Lô Lô có kiểu ăn mặc khác nhau. Xưa người Lô Lô phổ biến loại áo dài cổ vuông, tay dài, chui đầunhư ở vùng Bảo Lạc, Cao Bằng; hoặc loại áo ngắn thân cổ vuông, ống tay áo nối vào thân, có thể tháo ra. Cạnh đó còn có loại áo cánh ngắn, xẻ ngực, cổ cao, tròn cài cúc. Nhóm Lô Lô trắng có áo dài lửng ống tay rộng, xẻ nách cao, theo kiểu đuôi tôm; cổ áo, gấu áo trước và sau được trang trí hoa văn trên nền sáng; hoặc còn có loại tương tự màu chàm nhưng ít trang trí hoa văn. Váy là loại kín hình ống. Cạp váy chỉ dùng để dắt váy, dưới cạp được chiết ly, thân váy được thêu, ghép hoa sặc sỡ. Bên ngoài còn có tấm choàng váy, hai mép và phía dưới được trang trí hoa văn. Có nhóm mặc quần, đi giày vải...

Ngày 31/10/2011
TTƯT.BS. Nguyễn Võ Hinh  

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên khoa của Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn khám bệnh tất cả các ngày trong tuần (kể cả thứ 7 và chủ nhật)

   THÔNG BÁO: Phòng khám chuyên khoa Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn xin trân trọng thông báo thời gian mở cửa hoạt động trở lại vào ngày 20/10/2021.


 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 CHUYÊN ĐỀ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: Khu vực 8-Phường Nhơn Phú-Thành phố Quy Nhơn-Tỉnh Bình Định.
Tel: (84) 0256.3547492 - Fax: (84) 0256.3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng Ban biên tập: TTND.PGS.TS. Hồ Văn Hoàng-Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích