Home TRANG CHỦ Chủ nhật, ngày 08/12/2019
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Web Sites & Commerce Tin tức - Sự kiện
Finance & Retail Hoạt động hợp tác
Hợp tác trong nước
Hợp tác quốc tế
Dân tộc thiểu số
Dự án Quỹ toàn cầu PCSR
Quân dân y kết hợp
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Web Sites & Commerce Chuyên đề
Web Sites & Commerce Tư vấn sức khỏe
Web Sites & Commerce Tạp chí-Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động Đảng & Đoàn thể
Web Sites & Commerce Bạn trẻ
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Trung tâm dịch vụ
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
3 9 4 9 8 1 8 2
Số người đang truy cập
1 6
 Hoạt động hợp tác Dân tộc thiểu số
Giờ học thực hành tin học của học sinh Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Sa Thầy. (Ảnh: Trần Lê Lâm/TTXVN)
Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng sau 25 năm đổi mới

Hiện nay ở nước ta, đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14% dân số của cả nước; họ cư trú trên 52 tỉnh, thành phố; phần lớn đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo. Đây là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái.

Quán triệt sâu sắc quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định vấn đề dân tộc, đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta; giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; công tác dân tộc là một bộ phận quan trọng của đường lối cách mạng Việt Nam; chính sách dân tộc là một bộ phận hữu cơ trong chính sách phát triển kinh tế-xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Chủ trương nhất quán và đúng đắn về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta là: đoàn kết, bình đẳng, thương yêu, tôn trọng giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc; đồng thời, giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc; chống kỳ thị dân tộc, nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hiến pháp năm 1992, quy định: “Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thống nhất của cả dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và phát huy những phong tục tập quán truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình”. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội X về vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc và miền núi, với sự quyết tâm của các ngành ở trung ương và các ngành, các cấp ở địa phương cùng với sự nỗ lực vươn lên của đồng bào các dân tộc đã tạo ra được những chuyển biến đáng kể về phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng và giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc ở miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhiều mô hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả đã được hình thành và phát triển; đời sống của đại đa số đồng bào các dân tộc đã được cải thiện và nâng lên; cơ cấu kinh tế miền núi đã có bước chuyển biến tích cực, tạo đà phát triển mới theo hướng sản xuất hàng hoá và từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Cùng với quá trình phát triển kinh tế-xã hội, nhìn chung, vấn đề ổn định chính trị và an ninh, quốc phòng ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi đã được thực hiện tốt; đồng bào các dân tộc luôn tin tưởng vào đường lối đổi mới, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nâng cao cảnh giác trước mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch.

Trong các chương trình mục tiêu quốc gia, Đảng và Nhà nước luôn ưu tiên cho vùng đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi, như: Chương trình xoá đói giảm nghèo, Chương trình nước sạch cho nông thôn miền núi, Chương trình 135 hỗ trợ phát triển cho các xã miền núi đặc biệt khó khăn. Những Chương trình trên đã đạt được kết quả tốt, góp phần tích cực giúp đồng bào các dân tộc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng có hiệu quả hơn, tạo thêm việc làm, tăng cường bảo vệ rừng, môi trường sinh thái, hạn chế thiên tai, từng bước chuyển sang sản xuất hàng hoá để thoát đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu.

Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, các cấp uỷ Đảng và sự quản lý điều hành của bộ máy nhà nước, sự tập hợp và động viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng bào các dân tộc đã nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng, thể hiện trên các mặt sau đây:

Một là, xây dựng được cơ sở hạ tầng với diện rộng và đều khắp trên các vùng dân tộc thiểu số, đó là điều kiện vật chất cần thiết để thu hẹp dần khoảng cách giữa các vùng và các dân tộc.

- Về giao thông, một số tỉnh phía Bắc địa hình rất khó khăn như Hà Giang, Lào Cao, Lai Châu, Điện Biên, Lạng Sơn, Thái Nguyên, các tỉnh Tây Nguyên, … đã có đường ô tô đến các trung tâm xã và đến phần lớn các buôn làng; phần lớn đã có đường nhựa đến trung tâm huyện.

- Về giáo dục, đa số xã vùng cao đã có lớp mẫu giáo; trường phổ thông (tiểu học) đã được xây dựng ở tất cả các xã. Phần lớn các xã và cụm xã có trường trung học cơ sở toàn cấp. 100% huyện có ít nhất 1 trường trung học phổ thông. Trường phổ thông dân tộc nội trú đã được xây dựng thành hệ thống với gần 50 trường tỉnh, gần 300 trường huyện được trang bị phương tiện dạy và học khá tốt. Hàng vạn con em đồng bào dân tộc thiểu số đến học ở các trường này được Nhà nước nuôi, dạy hoàn toàn miễn phí, nhằm đào tạo cán bộ là người dân tộc cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Ngoài ra, còn có hàng trăm trường bán trú dân lập hoặc trường nội trú dân nuôi tại các xã và cụm xã . Các tỉnh miền núi đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học.

- Về phát triển khoa học-công nghệ ở miền núi, Nhà nước đã đầu tư hàng ngàn tỷ đồng cho công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học-công nghệ ở miền núi. Hàng ngàn cán bộ khoa học ở các viện nghiên cứu, các trường đại học thuộc các bộ, ngành và địa phương được huy động để nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ thích hợp cho miền núi thông qua các chương trình nghiên cứu khoa học và công nghệ, các dự án hỗ trợ hoạt động khoa học và công nghệ cho miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

- Về y tế, 100% số xã ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số đã có trạm y tế xã, trên 80% trạm y tế xã đã được xây dựng kiên cố, gần 70% số trạm có đủ trang thiết bị; hệ thống khám, chữa bệnh từ tỉnh đến huyện được xây dựng mở rộng, cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của đồng bào các dân tộc.

- Về điện, điện lưới đã đến được 100% số huyện và 95% số xã. Nhiều nơi ở vùng sâu, vùng xa đã có điện lưới như Điện Biên Đông, Pha Long (Lào Cai). Đã có hơn 70% số hộ được dùng điện, nhiều tỉnh đã có 100% số xã có điện.

- Về Bưu chính-Viễn thông, hầu hết các xã vùng sâu, vùng xa đã có bưu điện văn hoá xã, 100% số xã ở vùng dân tộc thiểu số đã có máy điện thoại. Điện thoại đã lên đến xã Lãng Cú, nơi cực Bắc của Tổ quốc.

- Về phát thanh-truyền hình, đã phủ sóng phát thanh được trên 90% và truyền hình đạt gần 80% lãnh thổ quốc gia. Đài trung ương và các đài địa phương đã có chương trình tiếng dân tộc thiểu số, đã thông tin kịp thời chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào khắp mọi miền của đất nước; đồng thời, cũng phản ánh được những thành tựu về kinh tế-xã hội, tâm tư tình cảm và nguyện vọng chính đáng của đồng bào các dân tộc thiểu số đến với các cơ quan, cán bộ lãnh đạo Đảng và Nhà nước.

Chương trình phát triển kinh tế-xã hội giành cho các xã vùng dân tộc thiểu số, miền núi đặc biệt khó khăn (Chương trình 135) đã đi nhanh vào cuộc sống. Một số trung tâm cụm xã được xây dựng thành những trung tâm chính trị, thương mại, giao lưu văn hoá ở các vùng sâu, vùng xa, đã kích thích sản xuất, theo hướng sản xuất hàng hoá, thực hiện xoá đói, giảm nghèo có hiệu quả rõ rệt, làm tăng thêm lòng tin của đồng bào các dân tộc đối với Đảng và Nhà nước.

Hai là, ở tất cả các vùng, các dân tộc, các địa phương đã xuất hiện những mô hình hộ gia đình, trang trại, hợp tác xã sản xuất giỏi, vươn lên làm giàu.

Sản xuất nông nghiệp miền núi đã có bước phát triển mới, từng bước chuyển từ kinh tế tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá, hình thành nhiều vùng sản xuất hàng hoá chuyên canh qui mô lớn, làm thay đổi cơ bản phương thức canh tác nông nghiệp truyền thống. Sản lượng lương thực ở miền núi không ngừng tăng lên. Nhiều vùng đã đảm bảo được an ninh lương thực trên địa bàn, nhiều cánh đồng miền núi đã trở thành điển hình về thâm canh lúa đạt năng suất cao nhất cả nước như cánh đồng Mường Thanh (Lai Châu); cánh đồng Lăk (Đăk Lăk). Đã xuất hiện mô hình xã làm ăn giỏi có thể tiến kịp miền xuôi như xã Tân Châu, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

Ba là, hệ thống chính trị vùng đồng bào dân tộc thiểu số được xây dựng, củng cố ngày càng vững mạnh. Đội ngũ cán bộ trí thức người dân tộc thiểu số đã được hình thành và trưởng thành rõ rệt.

Hơn 40 dân tộc thiểu số đã có con em của mình tốt nghiệp cao đẳng và đại học. Tất cả các dân tộc thiểu số đều có người của dân tộc mình là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Hầu hết cán bộ chủ chốt người dân tộc thiểu số từ cấp huyện trở lên đều có trình độ đại học, cán bộ chủ chốt cấp xã có trình độ cấp phổ thông cơ sở trở lên. Số học sinh ở các tỉnh miền núi, vùng cao dự thi học sinh giỏi các môn ngày càng tăng, hàng năm đã có nhiều học sinh đạt giỏi cấp tỉnh và cấp quốc gia. Số lượng học sinh người dân tộc thiểu số thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng và các trường chuyên nghiệp ngày càng tăng.

Có thể khẳng định rằng, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới là người đem đến cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam quyền bình đẳng và sự phát triển về mọi mặt như ngày nay. Cũng từ đó mà khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố và tăng cường mạnh mẽ hơn bất cứ lúc nào; không kẻ thù nào có thể chia rẽ, phá vỡ khối đại đoàn kết mà Bác Hồ và Đảng ta thường xuyên chăm lo xây dựng. Sự thất bại nhục nhã của bọn phản động gây rối ở Tây Nguyên tháng 2-2001 đã chứng minh điều đó. Đồng bào các dân tộc đã cực lực lên án và vạch mặt bọn phản động lợi dụng vấn đề dân tộc để lừa dối một số người nhẹ dạ, cả tin nhằm hoạt động trái với chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước ta, hòng kích động chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia.

Tuy nhiên, so với vùng đồng bằng và vùng đã phát triển tương đối khá thì miền núi và vùng dân tộc thiểu số còn là vùng khó khăn nhất. Tỷ lệ nghèo ở các vùng dân tộc thiểu số còn cao so với mặt bằng chung cả nước. Số người mù chữ còn nhiều. Trình độ dân trí, mức hưởng thụ văn hoá của đồng bào ở một số vùng dân tộc thiểu số còn thấp. Việc chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế. Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định. Vẫn còn nhiều kẽ hở cho các thế lực thù địch dễ lợi dụng vấn đề dân tộc để “diễn biến hoà bình-bạo loạn lật đổ” chống phá cách mạng Việt Nam.

Trong thời gian tới, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch sẽ tiếp tục thông qua chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, tăng cường lợi dụng vấn đề dân tộc để tạo cớ can thiệp nhằm thực hiện “diễn biến hoà bình-bạo loạn lật đổ” đối với Việt Nam. Chúng sẽ lợi dụng những sơ hở, thiếu sót của ta, sự thoái hoá, biến chất, tình trạng tham nhũng trong một số cán bộ, đảng viên để tuyên truyền kích động, phá hoại tư tưởng, gây hoang mang dao động, làm giảm lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, tạo xu hướng chống đối từ bên trong. Chúng tìm cách xây dựng khu vực “tự trị” của người dân tộc thiểu số, hình thành lực lượng đối lập, đối trọng với chính quyền nhằm tạo ra một cơ sở xã hội không ổn định, suy yếu từ bên trong để khi có điều kiện sẽ thực hiện “diễn biến hoà bình-bạo loạn lật đổ” đối với chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Các thế lực thù địch sẽ tăng cường hỗ trợ, kích động, chỉ đạo lực lượng phản động trong và ngoài nước tổ chức móc nối, tập hợp lực lượng nhằm tạo thế và lực cả bên trong và bên ngoài, đặc biệt là lực lượng chống đối từ bên trong, từng bước đẩy một số người trong đồng bào dân tộc thiểu số công khai đối đầu với chính quyền theo hướng “hợp pháp hoá” và “quốc tế hoá”, sau đố phối hợp với lực lượng phản động khác để thực hiện “diễn biến hoà bình-bạo loạn lật đổ”, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch sẽ tiếp tục thông qua nhiều hình thức, nhiều lực lượng để tăng cường “điều tra”, nắm bắt tình hình dân tộc để hỗ trợ, kích động, chỉ đao lực lượng phản động trong người dân tộc thiểu số tổ chức hoạt động chống đối, tạo ra những “điểm nóng dân tộc”, lấy cớ can thiệp để hướng, lái Việt Nam đi chệch khỏi quĩ đạo của chủ nghĩa xã hội.

Thực tế đã chứng minh, dù bất kỳ tình hình nào, thủ đoạn và biện pháp có thể thay đổi, nhưng âm mưu và mục tiêu của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là không hề thay đổi. Hiện nay phương pháp hoạt động của chúng chủ yếu vẫn là đẩy mạnh “diễn biến hoà bình-bạo loạn lật đổ” tạo ra những nhân tố đối lập bên trong, thúc đẩy nhân tố này phát triển thành lực lượng đối lập với Đảng, đối trọng với chính quyền, qua đó làm cho Việt Nam suy yếu về mọi mặt, sau đó gây sức ép (kể cả sức ép quân sự) để lái Việt Nam đi chệch khỏi quĩ đạo chủ nghĩa xã hội. Khi thực hiện phương pháp trên, chúng triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc, tìm cách gây ra những “điểm nóng” dân tộc để can thiệp trực tiếp vào Việt Nam. Nếu chúng ta không nhận rõ âm mưu của chúng, không kiên quyết khắc phục tình trạng xa dân, tham nhũng, thoái hoá, biến chất trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; không thực hiện tốt quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về vấn đề dân tộc; lơ là mất cảnh giác, không quan tâm đến việc đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc để phá hoá cách mạng; không thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, mở rộng và phát huy dân chủ, không làm tốt công tác tư tưởng đối với quần chúng, không chủ động các biện pháp phòng ngừa thì sẽ rất nguy hiểm, các thế lực thù địch có thể thực hiện được ý đồ của chúng.

Chúng ta có đủ điều kiện để thực hiện thắng lợi cuộc đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc để phá hoá cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã và đang đạt được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp đổi mới; kinh tế tiếp tục phát triển, chính trị ổn định, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được cải thiện, nâng cao; vị trí, vai trò nước ta trên trường quốc tế ngày càng lớn. Đó là nguồn động viên, cổ vũ lớn lao đối với quần chúng nhân dân, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân nói chung, của đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng đối với Đảng, với Nhà nước và sự nghiệp đổi mới.

Tuy nhiên, chúng ta không được chủ quan, mất cảnh giác; phải xác định rõ cuộc đấu tranh chống “diễn biến hoà bình-bạo loạn lật đổ” trong lĩnh vực dân tộc là một bộ phận quan trọng của cuộc đấu tranh giai cấp trong điều kiện mới. Cuộc đấu tranh này sẽ ngày càng gay go, quyết liệt và phức tạp hơn. Để làm thất bại âm mưu “diễn biến hoà bình-bạo loạn lật đổ” của các thế lực thù địch trong vấn đề dân tộc, đòi hỏi chúng ta phải thực hiện tốt các giải pháp chiến lược về xây dựng và bảo vệ Đảng, củng cố trận địa tư tưởng-văn hoá, đẩy mạnh công cuộc đổi mới kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện cơ chế dân chủ, giải quyết tốt những vấn đề kinh tế-xã hội, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vững mạnh, xây dựng và hoàn thiện các kế hoạch, phương án xử lý trong mọi tình huống có thể xảy ra.

Để thực hiện thắng lợi cuộc đấu tranh chống “diễn biến hoà bình-bạo loạn lật đổ” của các thế lực thù địch trong vấn đề dân tộc, chúng ta cần thực hiện tốt những vấn đề cơ bản sau đây:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân tộc, phát huy trách nhiệm của các cấp, các ngành và đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác dân tộc.

Để phát huy vai trò lãnh đạo của các tổ chức Đảng, trách nhiệm của các cấp chính quyền, các ngành và đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, cần quán triệt sâu sắc các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là những quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến vấn đề dân tộc và công tác dân tộc; các đối sách và các mặt công tác đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc để phá hoại cách mạng. Lãnh đạo các cấp, các ngành thường xuyên quan tâm đến các mặt công tác đối với vấn đề dân tộc; chăm lo xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ làm công tác dân tộc hoặc liên quan đến vấn đề dân tộc; quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi cho họ hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Thứ hai, thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, xây dựng môi trường lành mạnh, ngăn chặn kịp thời mọi âm mưu, hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc để phá hoại cách mạng của các thế lực thù địch.

Cần phải phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở vùng dân tộc thiểu số với tốc độ cao hơn mức bình quân chung của cả nước mới có thể từng bước thu hẹp khoảng cách giữa các dân tộc và các vùng; quan tâm đến từng vùng và từng dân tộc, tiến tới sự bình đẳng thật sự trên bình diện kinh tế, chính trị, xã hội. Thông qua phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội tạo sự ổn định và nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số, củng cố lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, góp phần động viên đồng bào các dân tộc thiểu số tham gia các phong trào cách mạng; qua đó ngăn chặn âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng họ vào việc chống phá cách mạng.

Thứ ba, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá tốt đẹp của các dân tộc; giữ gìn và làm giàu tiếng nói của mỗi dân tộc là cốt lõi của văn hoá, phát triển văn học, nghệ thuật của các dân tộc đóng góp vào xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Để thực hiện tốt vấn đề trên cần phải có quy hoạch bồi dưỡng, đào tạo, sử dụng, hình thành đội ngũ cán bộ ở vùng dân tộc thiểu số, sao cho đội ngũ này có phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, số lượng cán bộ tỷ lệ thuận với dân tố của các dân tộc thiểu số. Phát huy dân chủ, thực hiện công khai, minh bạch trong việc thực hiện các chương trình phát triển kinh tế-xã hội ở vùng dân tộc thiểu số để nhân dân biết, giám sát chặt chẽ việc thực hiện các chủ trương, chính sách đó. Phát huy tinh thần tự lực, tự cường của các dân tộc; củng cố, tăng cường đoàn kết các dân tộc xung quanh Đảng Cộng sản Việt Nam; thi đua, giúp đỡ nhau cùng phát triển, chống tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước.

Thứ tư, triển khai sâu rộng phong trào quần chúng, nhất là phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc ở vùng dân tộc thiểu số, chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của quần chúng, tạo thuận lợi cho việc đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng.

Các phong trào quần chúng ở vùng dân tộc thiểu số cần có nội dung và hình thức phong phú, thiết thực, phù hợp với đặc điểm tâm lý đồng bào các dân tộc, cuốn hút được đông đảo quần chúng tham gia, tạo ra khí thế cách mạng trong nhân dân, động viên họ tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước, chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, cảnh giác với âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng của các thế lực thù địch, không bị các thế lực thù địch lôi kéo, lợi dụng.

Thứ năm, xây dựng phương án đấu tranh, kịp thời phát hiện và kiên quyết đấu tranh với những đối tượng ngoan cố, lợi dụng vấn đề dân tộc để phá hoại cách mạng; tích cực đấu tranh với những hoạt động can thiệp từ bên ngoài vào vấn đề dân tộc của Việt Nam.

Cần có phương án tổng thể và phương án cụ thể đối với từng địa bàn, với từng đối tượng, từng vụ việc, có sự thống nhất giữa các cấp, các ngành, các lực lượng. Các phương án đó phải trên cơ sở chủ trương, quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng, đúng pháp luật của Nhà nước và thực tiễn tình hình và đặc điểm từng địa bàn, từng đối tượng; phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng, có sự phối hợp nhịp nhàng của các cấp, các ngành, dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng để ngăn chặn, giải quyết tốt các vụ việc lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng của các thế lực thù địch.

Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch không ngừng thông qua cái gọi là “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc tự quyết”, “dân tộc tự trị” để thực hiện “diễn biến hoà bình-bạo loạn lật đổ” đối với Việt Nam. Chúng đã dung túng, tiếp tay cho bọn phản động người Việt ở hải ngoại; hỗ trợ, kích động, chỉ đạo các phần tử phản động trong các dân tộc thiểu số ở trong nước tổ chức hoạt động chống phá cách mạng nước ta. Hoạt động phá hoại của chúng đã gây không ít khó khăn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta. Thủ đoạn hoạt động chống phá của chúng thông qua vấn đề dân tộc ngày càng gia tăng, tinh vi, sảo quyệt. Trong quá trình hội nhập quốc tế, các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng Việt Nam. Lợi dụng các chính sách mở rộng hợp tác đầu tư phát triển của Đảng, Nhà nước ta, các thế lực thù địch có xu hướng gia tăng các hoạt động chia rẽ dân tộc, kích động ly khai tự trị, lợi dụng vấn đề dân tộc gắn với tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, lợi dụng những khó khăn về đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, những thiếu sót trong việc thực hiện chính sách và một số yếu kém của hệ thống chính trị cơ sở ở một số nơi để chống phá và gây mất ổn định vùng dân tộc thiểu số. Vì vậy, đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, nhất là lực lượng vũ trang cách mạng phải không ngừng nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tỉnh táo, kịp thời phát hiện và chủ động đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ngày 28/12/2011
Nguyễn Võ Hinh (st)
Theo: PGS.TS Bùi Đình Bôn
Thư ký khoa học Hội đồng Lý luận Trung ương
 

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên khoa của Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn về các bệnh ký sinh trùng và các bệnh do véc tơ truyền, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng mới nổi như sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ, giun lươn, giun đũa chó và các bệnh thông thường khác; khám và xét nghiệm chẩn đoán bệnh bằng các phương tiện kỹ thuật cao như sinh hóa, huyết học, miễn dịch (ELISA), sinh học phân tử và chẩn đoán hình ảnh bằng nội soi tiêu hóa, siêu âm màu…

   Trung tâm Dịch vụ khoa học kỹ thuật của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế chuyên sản xuất mua bán hóa chất, vật tư, chế phẩm diệt côn trùng; dịch vụ diệt côn trùng gây bệnh, côn trùng gia dụng như muỗi, ruồi, gián, kiến…; dịch vụ phòng diệt mối mọt và xét nghiệm phát hiện tôm bằng các kỹ thuật hiện đại.


 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 CHUYÊN ĐỀ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: Khu vực 8-Phường Nhơn Phú-Thành phố Quy Nhơn-Tỉnh Bình Định.
Tel: (84) 0256.3547492 - Fax: (84) 0256.3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng Ban biên tập: TTND.PGS.TS. Hồ Văn Hoàng-Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích