Câu hỏi quan trọng hiện nay là liệu có nên thêm primaquine vào phác đồ điều trị kết hợp artemisinin (ACTs) để điều trị sốt rét do P. falciparum nhằm giảm hơn nữa khả năng lây truyền của bệnh đã được điều trị hay không? Điều trị triệt để bằng primaquine đóng vai trò quan trọng trong việc xóa sổ bệnh sốt rét do P. vivax và P. ovale gây ra. Cần thêm bằng chứng về tính an toàn của primaquine khi được sử dụng mà không sàng lọc thiếu hụt G6PD để định hướng các phương pháp điều trị cá thể và đại trà trong bối cảnh các chương trình loại trừ bệnh sốt rét.
Trong những khu vực vẫn còn muỗi truyền bệnh và có các điều kiện thuận lợi, những trường hợp sốt rét từ bên ngoài cũng có thể làm xuất hiện trở lại sự lây truyền tại địa phương. Loại trừ sốt rét là một thành tựu quan trọng gần 100 năm nay, nhưng không phải là điểm kết thúc của công tác phòng chống sốt rét (PCSR) vì đằng sau đó còn phải duy trì các yếu tố bền vững cho thành quả. Số lượng thuốc dự trữ có thể giảm khi số ca bệnh giảm, nhưng khả năng phát hiện bệnh, cung cấp thuốc và điều trị kịp thời vẫn phải được duy trì thường xuyên và liên tục.
Nói tóm lại, việc có chứng chỉ công nhận loại trừ sốt rét không có nghĩa là bạn ngồi yên và thư giãn ("Malaria Elimination Certification doesn't mean you can sit back and relax.")
ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC HÀNG LOẠT CHO BỆNH SỐT RÉT P. VIVAX: BÀI HỌC VÀ QUYẾT ĐỊNH
Khi các quốc gia trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tiến gần hơn đến việc LTSR, Plasmodium vivax ngày càng trở thành thách thức khó khăn nhất còn lại. Tình trạng tái phát do ký sinh trùng ở giai đoạn ngủ đông trong gan, sự di chuyển dân cư cao và sự lây truyền ở những khu vực khó tiếp cận hoặc không an toàn tiếp tục làm suy yếu các nỗ lực kiểm soát thường quy. Trong bối cảnh đó, việc chỉ định thuốc hàng loạt (MDA) đã nổi lên trở lại trong các cuộc thảo luận toàn cầu và khu vực như một phương án có thể đẩy nhanh tiến độ loại trừ bệnh.
Tuy nhiên, bằng chứng được trình bày trong Hội thảo trực tuyến APMEN TechTalks vào ngày 11 tháng 2 năm 2026, do Nhóm làm việc APMEN Vivax tổ chức đã cho thấy rõ ràng rằng MDA không chỉ mang lại những lợi ích tiềm năng mà còn có những đánh đổi đáng kể mà các chương trình phải cân nhắc kỹ lưỡng.
Vì sao bệnh sốt rét P. vivax khiến các chương trình điều trị bị đình trệ? Các bài thuyết trình trong suốt hội thảo trực tuyến liên tục đề cập đến các đặc điểm sinh học và hoạt động khiến việc loại trừ P. vivax trở nên đặc biệt khó khăn. Thể ngủ đông (hypnozoites), có thể tái hoạt động sau nhiều tuần hoặc nhiều tháng sau khi nhiễm bệnh ban đầu, có nghĩa là ngay cả việc giám sát và quản lý ca bệnh chặt chẽ cũng có thể không ngăn chặn hoàn toàn sự lây truyền. Dữ liệu được trình bày từ nhiều khu vực ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương cho thấy phần lớn các trường hợp nhiễm P. vivax tái phát là do tái nhiễm.
Các diễn giả lưu ý rằng sự lây truyền còn lại ngày càng tập trung ở các quần thể di động, sống trong rừng hoặc ở vùng hẻo lánh. Trong những bối cảnh như vậy, các phương pháp thông thường có thể làm giảm số ca mắc bệnh nhưng khó loại bỏ được nguồn ký sinh trùng còn sót lại, khiến các chương trình phải xem xét các biện pháp can thiệp bổ sung như điều trị hàng loạt (MDA).
Những điều MDA có thể và không thể giải quyết là gì? Bằng chứng do Tiến sĩ Kim Lindblade trình bày dựa trên một đánh giá hệ thống và phân tích tổng hợp do TCYTTG ủy nhiệm, làm cơ sở cho hướng dẫn hiện hành của TCYTTG về điều trị hàng loạt bệnh sốt rét do P. vivax. Các thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên từ khu vực Tiểu vùng Sông Mê Kông mở rộng cho thấy sự giảm đáng kể về tỷ lệ mắc P. vivax trong ngắn hạn, từ 1-3 tháng đầu tiên sau khi thực hiện điều trị hàng loạt, với mức giảm hơn 80% được báo cáo ở một số nơi.
Tuy nhiên, những hiệu quả này không phải lúc nào cũng được duy trì. Dữ liệu thử nghiệm cho thấy rằng sự giảm thiểu thường giảm dần trong vòng 4-12 tháng, đặc biệt là khi không có các biện pháp can thiệp theo dõi mạnh mẽ. Điều này củng cố thông điệp cốt lõi của hội thảo trực tuyến: Điều trị hàng loạt có thể nhanh chóng làm giảm sự lây truyền, nhưng bản thân nó không giải quyết được các nguyên nhân gốc rễ gây tái phát và tái nhiễm.
Hướng dẫn của TCYTTG được trình bày trong phiên họp nêu rõ việc triển khai điều trị hàng loạt (MDA) đối với P. vivax như một khuyến nghị có điều kiện dựa trên bằng chứng có độ tin cậy rất thấp. Các diễn giả nhấn mạnh rằng nếu MDA được thực hiện, nó cần đi kèm với độ bao phủ cao, giám sát cẩn thận và chiến lược bổ sung để ngăn sự tái phát sau khi các đợt MDA kết thúc.
Sự gắn kết cộng đồng và những đánh đổi trong hoạt động? Kinh nghiệm thực tiễn từ Campuchia được trình bày bởi TS. Soy Ty Kheang đã minh họa những sự đánh đổi này trong thực tế. Campuchia đã triển khai 04 đợt điều trị dự phòng hàng loạt bằng chloroquine tại các địa điểm quân sự và dân sự được lựa chọn ở tỉnh Stung Treng trong năm 2025.
Tỷ lệ bao phủ vẫn duy trì ở mức cao trong các đợt liên tiếp, đạt gần như tất cả các đối tượng mục tiêu vào đợt thứ tư. Tuy nhiên, phân tích chi phí cho thấy MDA tiêu tốn nhiều nguồn lực. Chi phí đi lại và nhân sự chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi phí, đặc biệt là ở các vùng sâu vùng xa.
Sự tham gia của người dân bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi các hoạt động canh tác theo mùa, các hạn chế về khả năng tiếp cận và các ưu tiên cạnh tranh, cho thấy bối cảnh định hình, tính khả thi và sự tuân thủ như thế nào? Các kết quả định tính được trình bày trong hội thảo trực tuyến cho thấy nhìn chung cộng đồng và chính quyền địa phương có mức độ chấp nhận cao, xuất phát từ niềm tin vào nhân viên y tế và nỗi sợ hãi về bệnh sốt rét.
Đồng thời, sự “do dự” trong việc sử dụng thuốc và tình trạng vắng mặt vẫn là những thách thức dai dẳng cần được giải quyết liên tục.
Công cụ mới, câu hỏi mới? Buổi hội thảo trực tuyến cũng xem xét liệu các công cụ điều trị triệt để mới hơn có thể tăng cường hiệu quả của MDA hay không. TS. Aung Pyae Phyo trình bày những phát hiện sơ bộ từ một nghiên cứu thí điểm về chương trình điều trị hàng loạt bằng tafenoquine dọc biên giới Thái Lan-Myanmar. Khác với chloroquine, thì tafenoquine mang lại hiệu quả điều trị triệt căn chỉ với một liều duy nhất, có khả năng tiêu diệt cả thể ngủ đông và cải thiện sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân. Nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng tafenoquine một liều duy nhất (7,5mg/kg), kết hợp với xét nghiệm G6PD định lượng tại chỗ là khả thi và được dung nạp tốt ở các cộng đồng vùng sâu vùng xa. Không có tác dụng phụ nghiêm trọng nào liên quan đến tafenoquine được báo cáo và đã quan sát thấy sự giảm ngắn hạn về tỷ lệ mắc P. vivax một tháng sau khi thực hiện chương trình điều trị hàng loạt.
Đồng thời, họ cũng cảnh báo rằng hiệu quả này dường như chỉ là tạm thời, với tỷ lệ mắc bệnh tăng trở lại sau vài tháng. Độ phức tạp trong vận hành cũng rất cao. Một tỷ lệ lớn dân số, gần 30%, không đủ điều kiện sử dụng tafenoquine do hoạt độ G6PD dưới 6,1 IU/gram Hb, mang thai hoặc các chống chỉ định khác như thiếu máu nặng, đòi hỏi các phác đồ thay thế và theo dõi tính an toàn cẩn thận. Những phát hiện này củng cố thêm nhận định rằng, mặc dù tafenoquine mang lại lợi ích về việc tuân thủ điều trị, việc sử dụng thuốc này trong chương trình điều trị hàng loạt (MDA) lại đặt ra những câu hỏi mới liên quan đến quản lý tiêu chí đủ điều kiện, hệ thống an toàn và khả năng mở rộng quy mô.
MDA như một chất xúc tác, chứ không phải là một biện pháp can thiệp độc lập! Trong tất cả các phiên họp và thảo luận, một kết luận luôn được nhấn mạnh: MDA nên được xem như một công cụ thúc đẩy hơn là một giải pháp độc lập. Các bằng chứng và kinh nghiệm thực tiễn được trình bày trong hội thảo trực tuyến cho thấy MDA có thể nhanh chóng ngăn chặn sự lây truyền, nhưng hiệu quả của nó rất dễ bị ảnh hưởng nếu thiếu sự giám sát chặt chẽ, quản lý ca bệnh hiệu quả, kiểm soát vật trung gian truyền bệnh và sự tham gia bền vững của cộng đồng. Các diễn giả nhấn mạnh tầm quan trọng của các chiến lược rút lui rõ ràng, kế hoạch giảm thiểu rủi ro và sự phù hợp với các chương trình loại trừ rộng hơn.
Hỗ trợ đưa ra những quyết định khó khăn thông qua việc học hỏi lẫn nhau! Mức độ tham gia cao phản ánh tầm quan trọng của các cuộc thảo luận này. Hội thảo trực tuyến thu hút 658 lượt đăng ký từ 75 quốc gia, với 329 người tham gia từ 63 quốc gia tham dự trực tiếp. Các câu hỏi từ người tham gia tập trung vào vấn đề an toàn, nguy cơ kháng thuốc, hiệu quả chi phí và cách ưu tiên các nhóm dân cư di động hoặc có nguy cơ cao. Hội thảo trực tuyến TechTalks này đã sử dụng bằng chứng và kinh nghiệm từ nhiều bối cảnh khác nhau để làm nổi bật những khó khăn mà các chương trình phải đối mặt khi xem xét việc triển khai điều trị hàng loạt (MDA).
MDA có thể nhanh chóng làm giảm tỷ lệ nhiễm P. vivax và đẩy nhanh tiến độ trong các bối cảnh cụ thể, nhưng nếu không được duy trì và thực hiện liên tục, ký sinh trùng có thể quay trở lại. Bằng cách tập hợp các nhà nghiên cứu, người thực hiện và nhà hoạch định chính sách, Nhóm làm việc về Vivax của APMEN tiếp tục cung cấp một nền tảng trung lập để các quốc gia học hỏi lẫn nhau và đưa ra quyết định phù hợp với bối cảnh, dựa trên cả khoa học và thực tiễn hoạt động.
BÁO CÁO MỚI CỦA LANCET CHO BIẾT VIỆC XÓA SỔ BỆNH SỐT RÉT LÀ KHẢ THI VÀO NĂM 2050?
Một báo cáo mới của Ủy ban Lancet kêu gọi các nhà lãnh đạo chính sách y tế thống nhất một kế hoạch toàn cầu đầy tham vọng nhằm xóa sổ bệnh sốt rét vào năm 2050 - trái ngược với Báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới được công bố hồi tháng 8, trong đó kết luận rằng còn quá sớm để đặt ra mục tiêu xóa sổ bệnh này. Báo cáo “Xóa sổ bệnh sốt rét trong vòng một thế hệ: Tham vọng, khả thi và cần thiết” đưa ra một lộ trình chi tiết để đạt được mục tiêu xóa sổ bệnh sốt rét trong ba thập kỷ tới. Được biên soạn bởi một nhóm gồm 41 chuyên gia hàng đầu về bệnh sốt rét, kinh tế học, chính sách y tế và khoa học y sinh, báo cáo kết luận rằng việc xóa sổ là khả thi với các công cụ phù hợp, cam kết chính trị và thêm 2 tỷ đô la mỗi năm.
Từ lâu, việc xóa sổ bệnh sốt rét vẫn chỉ là một giấc mơ xa vời, nhưng giờ đây chúng ta đã có bằng chứng cho thấy bệnh sốt rét có thể và nên được xóa sổ vào năm 2050 - Sir Richard Feachem, đồng chủ tịch Ủy ban Lancet về xóa sổ bệnh sốt rét và giám đốc Nhóm Sức khỏe Toàn cầu tại Đại học California, San Francisco (UCSF) cho biết. Tuy nhiên, trong một bài bình luận được đăng kèm với báo cáo đồ sộ của Ủy ban, Tổng Giám đốc TCYTTG - TS. Tedros Adhanom Gheyebresus cảnh báo rằng bệnh sốt rét “không thể được xóa sổ trong khoảng thời gian này” với các công cụ và chiến lược hiện có. TCYTTG và Ủy ban Lancet có quan điểm khác nhau về tính khả thi của việc xóa sổ bệnh ung thư vào năm 2050.
Vào tháng 8, Nhóm Tư vấn Chiến lược về xóa bỏ bệnh sốt rét của TCYTTG (SAGEme) đã đưa ra một đánh giá nghiêm túc hơn nhiều về xu hướng này. Các chuyên gia của TCYTTG cảnh báo rằng thế giới thậm chí còn không “đi đúng hướng để đạt được các mục tiêu toàn cầu cho năm 2020”. Tiến bộ đạt được trong việc giảm số ca mắc và tử vong liên quan sốt rét đã bị đình trệ trong những năm gần đây, với tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do sốt rét không thay đổi kể từ năm 2015. Nhóm nghiên cứu SAGEme kết luận rằng ngay cả trong kịch bản lạc quan nhất, đến năm 2050 vẫn sẽ có 11 triệu ca mắc bệnh sốt rét mỗi năm tại tâm điểm của bệnh sốt rét là Châu Phi. Báo cáo của TCYTTG cũng được đưa ra trong bối cảnh chiến dịch toàn cầu kéo dài 14 năm nhằm xóa sổ bệnh sốt rét của TCYTTG vào những năm 1950 đã thất bại, điều mà các nhà quan sát cho rằng đã khiến cơ quan này ngần ngại đặt ra mục tiêu đầy tham vọng như vậy một lần nữa, trừ khi nó thực sự khả thi.
“Một thế giới không còn bệnh sốt rét, vốn là tầm nhìn của TCYTTG từ ít nhất năm 1955, vẫn là mục tiêu tối thượng của cộng đồng y tế toàn cầu - TS. Pedro Alonso, Giám đốc Chương trình Phòng chống Sốt rét Toàn cầu của TCYTTG chia sẻ với Health Policy Watch, “Chúng tôi có một chiến lược toàn cầu, được Đại hội đồng Y tế Thế giới thông qua năm 2015, giúp thế giới tiến gần hơn 90% đến mục tiêu xóa sổ bệnh sốt rét”. Hiện chưa ai biết cần phải làm gì để loại bỏ hoàn toàn 10% số ca mắc sốt rét, hoặc khi nào chúng ta mới có thể hoàn thành công việc này, nhưng chúng ta biết cần phải làm gì ngay hôm nay- Alonso nói, nhưng để tạo ra “bước đột phá cuối cùng” hướng tới việc xóa sổ bệnh sốt rét, ông nhấn mạnh rằng trước hết Thế giới cần phải “quay trở lại đúng hướng” để đạt được các mục tiêu toàn cầu về PCSR năm 2020. Các quốc gia cần phải áp dụng Bảo hiểm Y tế Toàn dân, “để cung cấp các biện pháp can thiệp phòng chống sốt rét cho tất cả những người cần đến” và các công cụ nghiên cứu và phát triển mới cũng như nhiều nguồn lực hơn cho hệ thống y tế cũng sẽ rất quan trọng.
“Cộng đồng PCSR toàn cầu đã thống nhất rõ ràng xung quanh tầm nhìn về một thế giới không còn bệnh sốt rét và giờ đây chúng ta cần tiến lên để biến điều đó thành hiện thực”, ông kết luận khi bế mạc Diễn đàn Geneva. Trong khi đó, David Reddy - Giám đốc điều hành của Tổ chức Medicines for Malaria Venture (MMV) có trụ sở tại Geneva, Thụy Sỹ đã hoan nghênh sự tập trung mà các báo cáo gần đây của TCYTTG cũng như báo cáo của Ủy ban Lancet đã mang lại cho vấn đề sốt rét, điều này cũng có thể giúp củng cố các cam kết toàn cầu. Với hơn 400.000 người chết mỗi năm vì căn bệnh có thể phòng ngừa và chữa khỏi này, những phân tích này sẽ giúp định hướng lại và tăng cường nỗ lực của chúng ta hướng tới việc xóa bỏ bệnh sốt rét” – TS. Reddy nói. “Thật phù hợp khi hai phân tích toàn diện này ủng hộ quan điểm rằng việc xóa bỏ bệnh sốt rét là khả thi và xác định các biện pháp cụ thể để lấy lại động lực hướng tới một thế giới không còn bệnh sốt rét”.
Ông nói thêm rằng MMV đang hỗ trợ nghiên cứu để phát triển các công cụ nhằm hỗ trợ “việc xóa sổ bệnh sốt rét hoàn toàn”, đồng thời mở rộng trọng tâm vào việc tiếp cận và quản lý sản phẩm để giải quyết các nhu cầu quan trọng chưa được đáp ứng, nhấn mạnh rằng “trừ khi các công cụ mới quan trọng mà chúng tôi đã cùng phát triển có thể dễ dàng có sẵn ở bất cứ nơi nào và bất cứ khi nào cần thiết, chúng ta sẽ không hoàn thành được lời hứa trong sứ mệnh của mình”.
(Hết Phần 2) -----> (Tiếp theo Phần 3)
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang & Ths.Bs. Châu Văn Khánh
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn