Chương trình An ninh Y tế Toàn cầu (ANYTTC) nhằm tiến tới một thế giới an toàn hơn với các nguy cơ do bệnh truyền nhiễm gây ra, ngăn ngừa và giảm thiểu tác động của bệnh dịch nguy hiểm, phát hiện sớm dịch bệnh, minh bạch thông tin, chia sẻ với cộng đồng quốc tế nhằm đáp ứng hiệu quả với dịch bệnh trên người và động vật thông qua thúc đẩy việc thực thi các nội dung cơ bản IHR 2005, coi việc đẩy mạnh ANYTTC như là một vấn đề ưu tiên Quốc tế.
Hình 4. Hệ thống giám sát chủ động và Cảnh báo sớm bệnh truyền nhiễm thông minh tại Trung Quốc (EHRs: hồ sơ sức khỏe điện tử; AI: trí tuệ nhân tạo)
(Nguồn: https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S2589791824000185)
ANYTTC cần một sự chia sẻ trách nhiệm chứ không thể đạt được bằng một hành động hoặc một quốc gia, tổ chức đơn lẻ. Thành công sẽ phụ thuộc vào hợp tác giữa các ngành y tế, an ninh và nông nghiệp. TCYTTG, Tổ chức Thú y Thế giới và Tổ chức Nông Lương của Liên hiệp quốc là các Tổ chức quốc tế có trách nhiệm hỗ trợ các nước thành viên về kỹ thuật và tài chính trong việc tăng cường năng lực ứng phó với các nguy cơ bệnh truyền nhiễm ở người và ở động vật. Các tổ chức này sẽ cùng phối hợp chặt chẽ với các nước thành viên chia sẻ thông tin, kết quả nghiên cứu dịch bệnh, cùng thảo luận đưa ra các biện pháp phòng chống phù hợp với từng quốc gia cũng như các khuyến cáo chung cho các nước trong khu vực và toàn cầu.
Chương trình ANYTTC không trùng lặp với các nỗ lực khác, mục đích tăng cường sự chú ý chính trị, mở rộng sự tham gia của các ngành liên quan, tập trung vào cam kết, điều phối nhằm để bảo vệ con người từ sự đe doạ của bệnh tật và môi trường sống. Những hoạt động khác nhau để đẩy mạnh năng lực cơ bản của Điều lệ Y tế Quốc tế và khuôn khổ của ANYTTC, ví dụ như Tổ chức Thú Y Quốc tế, Tổ chức Tiêu chuẩn thực phẩm Codex Quốc tế sẽ tạo ra những tiêu chuẩn an toàn cơ bản có thể nhân rộng. Chương trình cũng sẽ thực hiện những nỗ lực đa phương hiện có, bao gồm các khối G8, G20; Tổ chức toàn cầu chống lại sự lan rộng của nguyên liệu hủy diệt lớn; Sáng kiến ANYTTC và các diễn đàn khu vực. Các quốc gia đối tác của chương trình ANYTTC sẽ giữ vai trò chủ đạo, điều phối để phát triển các cam kết, đặc biệt cam kết sẽ được ưu tiên phát triển trong thời gian sắp tới.

Hình 5. Khung khuyến nghị nhằm tăng cường hệ thống giám sát nhiễm trùng dựa trên phòng thí nghiệm và hệ thống cảnh báo dịch bệnh thông qua việc tiếp cận phổ biến với phân tích giải trình tự toàn bộ hệ gen theo thời gian thực, tích hợp dữ liệu này với dữ liệu vi sinh, lâm sàng, môi trường và dịch tễ học; tăng cường hợp tác liên ngành về Một Sức khỏe; Hợp tác Quốc tế để kết nối các mạng lưới giám sát và hài hòa các phương pháp; Chia sẻ dữ liệu mở và nghiên cứu để đánh giá lợi ích.
(Nguồn: https://www.frontiersin.org/journals/science/10.3389/fsci.2024.1298248/full)
- Ngăn chặn xuất hiện và lây lan bệnh lây truyền qua động vật mới xuất hiện, vi sinh vật kháng thuốc và hóa chất; đẩy mạnh khung điều lệ Quốc tế về an toàn thực phẩm (ATTP); hành động nhằm giảm yếu tố nguy cơ gây kháng thuốc & sự đe doạ của các bệnh lây truyền qua động vật; tăng cường giám sát và phát hiện sớm các sinh vật kháng kháng sinh, bệnh lây truyền qua động vật mới lạ; tăng cường quản lý thuốc kháng sinh; đẩy mạnh chuỗi cung cấp thực phẩm, thực hiện an toàn trong chăn nuôi & tiêu thụ sản phẩm từ động vật; đẩy mạnh việc sử dụng kháng sinh phù hợp và có trách nhiệm tại các cơ sở;
- Đẩy mạnh ATSH Quốc gia và hệ thống ANSH: Phát triển tiếp cận đa ngành tại các nước, khu vực trong quản lý các chế phẩm sinh học để hỗ trợ chẩn đoán, nghiên cứu và hoạt động giám sát ANSH bao gồm xác định, đảm bảo, theo dõi và lưu trữ các tác nhân nguy hiểm một cách an toàn với một số lượng tối thiểu, tiến tới thực thi hệ thống giám sát ANSH toàn cầu.
- Giảm số lượng và mức độ của các vụ dịch bệnh truyền nhiễm. Thiết lập các chương trình bao phủ vaccine có hiệu quả để chống lại các bệnh truyền nhiễm gây dịch; Tăng cường giám sát và kiểm soát nhiễm khuẩn trong bệnh viện;
- Tăng cường mạng lưới liên kết toàn cầu cho việc giám sát sinh học kịp thời. Đẩy mạnh việc thành lập hệ thống giám sát có thể dự đoán và xác định đe doạ của các bệnh truyền nhiễm; hệ thống thông tin sinh học và diễn đàn của mạng lưới chia sẻ thông tin, có thể kết nối với các trung tâm phát hiện bệnh tật của các khu vực;
- Tăng cường việc chia sẻ, minh bạch thông tin bệnh dịch và mẫu bệnh phẩm trong các sự kiện y tế quốc tế khẩn cấp. Đẩy mạnh năng lực báo cáo chuẩn xác và minh bạch thông tin tới WHO, IOE và FAO trong tình huống khẩn cấp, đi cùng chia sẻ mẫu và sinh phẩm nhanh chóng giữa các nước và các tổ chức quốc tế;
- Phát triển và tiến hành các kỹ thuật chẩn đoán có độ nhạy, độ đặc hiệu cao trong hệ thống phòng xét nghiệm. Đẩy mạnh năng lực của các quốc gia và khu vực trong thu thập và phân tích thông tin một cách chính xác, kịp thời để phát hiện tất cả các tác nhân nguy hiểm liên quan tới an ninh sinh học;
- Đào tạo và sử dụng hiệu quả lực lượng cán bộ giám sát ANSH. Xây dựng năng lực hoạt động thực địa cho lực lượng này và cả cho cán bộ phòng xét nghiệm;
- Phát triển mạng lưới kết nối toàn cầu các Trung tâm về tình trạng khẩn cấp và đáp ứng đa ngành với các sự cố sinh học. Xây dựng và vận hành các đội phản ứng nhanh đa ngành, với quyền truy cập vào hệ thống thông tin kịp thời và khả năng tìm ra nguồn gốc của một ổ dịch hay sự kiện sức khỏe bất thường có tính nguy hiểm cho cộng đồng;
- Cải thiện việc tiếp cận toàn cầu cho biện pháp y tế và “phi y tế” trong tình huống an ninh sức khỏe khẩn cấp. Đẩy mạnh khả năng sản xuất, phân phối các trang thiết bị phòng hộ cá nhân, thuốc kháng sinh, hóa chất khử trùng, vaccine và các trang bị kỹ thuật khác. Tăng cường chính sách & khuôn khổ hoạt động để chia sẻ giữa y tế và thú y, giữa nhân viên y tế và đối tác khác.
Để tổ chức hiệu quả, tăng cường và đo lường được tiến trình, các nước sẽ phát triển hành động cụ thể để tăng cường khả năng liên kết quốc gia, khu vực và toàn cầu nhằm đáp ứng với các bệnh truyền nhiễm mới nổi. Các quốc gia độc lập hoặc theo nhóm sẽ thực hiện các hành động theo kế hoạch chung cũng như riêng rẽ của mình; khuyến khích những hoạt động đã được chứng minh rằng có thể nhân rộng bởi các nước khác và cho những kết quả có thể đo lường được. Có thể sử dụng các tiêu chí của Điều lệ Y tế Quốc tế làm thước đo sự thành công của ANYTTC.
Việc tham gia Chương trình ANYTTC sẽ giúp Việt Nam tăng cường hơn nữa năng lực giám sát, phát hiện sớm và xử lý can thiệp nhằm giảm thiểu tác động của dịch bệnh đối với kinh tế và sức khỏe người dân, đồng thời nâng cao vai trò của Việt Nam với cộng đồng thế giới. Trong thời gian qua, thông qua Chương trình ANYTTC, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật Mỹ (US.CDC) đã hỗ trợ Bộ Y tế nâng cao năng lực xét nghiệm các bệnh dịch nguy hiểm mới nổi tại Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương (NIHE) và Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh (PI), xây dựng Văn phòng Đáp ứng Phòng chống dịch bệnh của Bộ Y tế (EOC). Đây sẽ là các đơn vị đầu mối chia sẻ thông tin và phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan thuộc các Bộ, ngành và các Tổ chức Quốc tế cùng xử lý các vấn đề y tế công cộng ảnh hưởng đến sức khỏe con người như bão lụt, thiên tai, thảm họa cũng như dịch bệnh truyền nhiễm. Cùng với việc hỗ trợ trong giám sát dịch, các Tổ chức Quốc tế WHO, FAO, OIE cũng thường xuyên tổ chức các hội thảo chia sẻ thông tin và cung cấp cho Việt Nam những khuyến cáo phòng chống dịch bệnh tại cửa khẩu và nội địa phù hợp với thực tế tại Việt Nam và cộng đồng quốc tế. Khi TCYTTG yêu cầu các quốc gia thành viên chia sẻ dữ liệu y tế, từ số liệu dịch bệnh, thông tin người bệnh cho đến dữ liệu di truyền của mầm bệnh, tổ chức này phải đối mặt với nhiều thách thức thực tế vô cùng phức tạp.

Hình 6. Dữ liệu dịch tễ đóng vai trò quan trọng trong kiểm soát dịch bệnh. (Nguồn:https://www.projectguru.in/epidemiological-data-play-important-role-healthcare-policy-making)
Dưới đây là các nhóm thách thức thực tế lớn nhất mà TCYTTG đang gặp phải:
1. Chủ quyền dữ liệu và Xung đột lợi ích địa chính trị
- Rào cản từ "Chủ quyền dữ liệu": Nhiều quốc gia coi dữ liệu y tế và thông tin sinh học là tài sản chiến lược hoặc an ninh Quốc gia. Họ e ngại việc chuyển giao dữ liệu ra nước ngoài có thể làm suy giảm quyền kiểm soát hoặc bị các thế lực khác khai thác;
- Tranh chấp đa phương và song phương: Cuộc đàm phán về hệ thống Tiếp cận Mầm bệnh và Chia sẻ Lợi ích (Hệ thống PABS) thuộc Thỏa thuận Đại dịch của TCYTTG thường xuyên rơi vào thế bế tắc. Sự xuất hiện của các chiến lược y tế đơn phương từ các cường quốc lớn cạnh tranh trực tiếp với hệ thống đa phương của TCYTTG, khiến nhiều nước từ chối chia sẻ thông tin mầm bệnh nguy hiểm.
2. Sự bất bình đẳng về lợi ích kinh tế (Quyền tiếp cận công bằng)
- Nỗi lo "bị bóc lột dữ liệu": Các nước đang phát triển (đặc biệt khu vực châu Phi) thường ngần ngại chia sẻ dữ liệu hoặc mẫu mầm bệnh. Lý do là sau khi họ cung cấp dữ liệu, các công ty dược phẩm lớn ở các nước giàu sẽ dùng nó để phát triển vaccine, thuốc điều trị và bán lại cho họ với giá đắt đỏ, thay vì được chia sẻ lợi ích công bằng;
- Thiếu hụt nguồn lực bù đắp: Việc thu thập, chuẩn hóa và gửi dữ liệu y tế tốn rất nhiều chi phí. Nếu không có cơ chế hỗ trợ tài chính rõ ràng cho hoạt động quản lý dữ liệu, các nước nghèo không có động lực để ưu tiên việc này.
3. Rào cản pháp lý và Quyền riêng tư nghiêm ngặt
- Luật bảo vệ dữ liệu nội địa: Các quy định khắt khe như Quy định chung về bảo vệ dữ liệu (GDPR) của Liên minh Châu Âu hoặc Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân của từng nước đặt ra bức tường pháp lý lớn. Việc chia sẻ dữ liệu y tế (vốn là dữ liệu nhạy cảm) ra quy mô Quốc tế rất dễ vi phạm pháp luật nếu chưa có sự đồng ý rõ ràng mang tính pháp lý của người bệnh;
- Thiếu sự đồng thuận chung: Ngay cả giữa các nước phát triển, việc giải thích các quy định bảo mật dữ liệu và phê duyệt thử nghiệm lâm sàng (TNLS) xuyên biên giới vẫn thiếu sự đồng bộ, gây chậm trễ từ vài tháng đến nửa năm.
4. Hệ thống công nghệ phân mảnh và chất lượng dữ liệu kém
- Sự lệch pha về công nghệ: Nhiều quốc gia thành viên vẫn bị tê liệt bởi các hệ thống y tế số phân mảnh, thiếu khả năng tương tác và liên thông dữ liệu. Dữ liệu từ các CSYT nói chung khác nhau và không đồng nhất/ đồng bộ không thể "bắt cặp” được với nhau, dẫn đến việc không thể tổng hợp để gửi cho TCYTTG;
- Dữ liệu thiếu chính xác: Dữ liệu thu thập từ các nước có nền y tế kém phát triển thường bị thiếu sót, không nhất quán về định nghĩa lâm sàng và thiếu các giao thức khoa học chuẩn chỉnh.
5. Áp lực kinh tế - xã hội khi công bố dịch bệnh
- Sợ bị trừng phạt kinh tế: Khi một quốc gia minh bạch chia sẻ dữ liệu về một ổ dịch mới xuất hiện, họ ngay lập tức phải đối mặt với nguy cơ bị cấm vận thương mại, hủy bỏ chuyến bay và tổn hại nghiêm trọng đến ngành du lịch. Bài học từ các đại dịch trước cho thấy "phần thưởng" cho sự minh bạch đôi khi lại là sự cô lập kinh tế, khiến các nước có xu hướng trì hoãn báo cáo;
- Cơ chế thiếu tính bắt buộc: TCYTTG hoạt động dựa trên sự tự nguyện của các nước thành viên. Điều lệ Y tế Quốc tế yêu cầu chia sẻ thông tin kịp thời, nhưng TCYTTG không có quyền lực cưỡng chế hay trừng phạt các quốc gia giấu dịch hoặc chậm trễ chia sẻ dữ liệu.
Mặc dù các đợt bùng phát dịch bệnh và rủi ro, sự kiện cấp tính khác đối với sức khỏe cộng đồng thường khó lường và đòi hỏi nhiều biện pháp ứng phó khác nhau, Quy định Y tế Quốc tế (IHR, 2005) cung cấp một khuôn khổ pháp lý bao quát xác định các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc quản lý các rủi ro, sự kiện và tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng có khả năng vượt biên giới.
(Hết Phần 2) ----> (Tiếp theo Phần 3)
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang & Ths.BS. Nguyễn Công Trung Dũng
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn