3. Triển khai chương trình phòng chống STH và chuyển sang giai đoạn tiền thẩm định
Các khuyến cáo hiện nay của WHO đối với các chương trình phòng chống STH tập trung vào việc loại trừ bệnh tật thông qua phân phát định kỳ thuốc kháng giun, bên cạnh giáo dục thay đổi hành vi và cải thiện việc tiếp cận, sử dụng nước sạch, vệ sinh môi trường cũng như thực hành vệ sinh cá nhân.
Nếu các quốc gia có bệnh lưu hành mong muốn tiến hành thẩm định đạt mục tiêu STH EPHP ở trẻ em, họ phải đáp ứng các tiêu chí cụ thể, phù hợp với khung giám sát và đánh giá (1). Các quốc gia phải cung cấp bằng chứng cho thấy, trước khi bắt đầu các hoạt động tiền thẩm định, họ đã triển khai hóa dự phòng liên tục trong > 5 năm với độ bao phủ hiệu quả tại tất cả đơn vị triển khai (IU) có bệnh lưu hành. Quy trình thẩm định không được tiến hành nếu có những đơn vị IU đáp ứng các tiêu chí để phân phát hóa dự phòng nhưng chương trình không thể đạt được độ bao phủ hiệu quả tại đó trong 5 năm liên tiếp vì bất kỳ lý do gì, chẳng hạn như thiếu nguồn lực, xung đột hoặc thiên tai.
4. Quy trình tiền thẩm định và thẩm định: Các giai đoạn đánh giá
Quá trình thẩm định việc loại trừ bệnh giun truyền qua đất khỏi vấn đề sức khỏe cộng đồng (STH EPHP) ở trẻ em chỉ nên được khởi động khi tất cả các đơn vị triển khai (IU) đều đáp ứng các tiêu chí về STH EPHP ở trẻ em (nghĩa là tỷ lệ nhiễm bất kỳ loại giun truyền qua đất nào dưới 20% và tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất ở cường độ từ trung bình đến cao (MHI) dưới 2%, ở trẻ em từ 10–14 tuổi (Bảng 2)). Việc xác định các tiêu chí này đã đạt được tại mỗi IU là một quy trình gồm hai bước (Hình 1) được gọi là tiền thẩm định.
Sau 5 năm liên tiếp triển khai hóa dự phòng đạt độ bao phủ hiệu quả, các quốc gia có bệnh lưu hành được yêu cầu tiến hành các cuộc điều tra đánh giá tác động đầu tiên (IA 1) nhằm đo lường tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm STH trong các IU. Nếu tiêu chí về STH EPHP ở trẻ em đạt được tại một IU nhất định, IU đó sẽ bước vào giai đoạn giám sát tiền thẩm định kéo dài ba năm. Nếu tiêu chí về STH EPHP ở trẻ em không đạt được tại một IU, việc triển khai hóa dự phòng cần được tiếp tục như trước với độ bao phủ hiệu quả trong các năm tiếp theo và lặp lại hoạt động IA 1. IA 1 có thể cần phải lặp lại vài lần cho đến khi đạt được các tiêu chí về STH EPHP ở trẻ em, trước khi chuyển IU đó sang giai đoạn giám sát tiền thẩm định.
Trong quá trình giám sát tiền thẩm định, tần suất hóa trị dự phòng có thể được thay đổi theo hướng dẫn của TCYTTG hoặc hướng dẫn quốc gia. Khi kết thúc giai đoạn giám sát tiền thẩm định 03 năm, một cuộc điều tra đánh giá tác động khác (IA 2) cần được thực hiện. Nếu tại thời điểm IA 2, IU không đáp ứng các tiêu chí EPHP, đơn vị đó sẽ phải tiếp tục tiếp nhận PC thêm các năm bổ sung trước khi bắt đầu lại quy trình tiền thẩm định tại IU đó. Nếu IA 2 chứng minh rằng IU vẫn đáp ứng các tiêu chí STH EPHP, việc triển khai hóa trị dự phòng nên được tiếp tục với tần suất hiện tại hoặc giảm đi theo hướng dẫn của TCYTTG hoặc hướng dẫn quốc gia. Chỉ khi tất cả các IU đều đạt tiêu chí tại cả IA 1 và IA 2 thì quá trình thẩm định mới có thể được bắt đầu.
Các chương trình quốc gia về phòng chống STH cần nhận thức được rằng tiến độ đạt các tiêu chí về STH EPHP ở trẻ em có thể không đồng đều, đồng thời tần suất và thời gian điều trị có thể khác nhau giữa các bối cảnh trong một quốc gia nhất định. Các quốc gia chỉ nên khởi động toàn bộ quá trình thẩm định khi tất cả các IU đã đáp ứng các tiêu chí về STH EPHP ở trẻ em tại cả IA 1 và IA 2 (xem Bảng 2 và Hình 1).
Mặc dù các phương pháp điều tra có thể khác nhau, các cuộc đánh giá tác động đòi hỏi phải có một khung mẫu và phương pháp điều tra phù hợp nhằm cho phép đánh giá chính xác tình hình dịch tễ học hiện tại của STH trong nước. TCYTTG thường khuyến nghị đánh giá tác động thông qua các cuộc điều tra cắt ngang quốc gia về cường độ nhiễm và tỷ lệ nhiễm STH trên một quần thể mà tối thiểu phải bao gồm trẻ em từ 10-14 tuổi. Ở những bối cảnh hạn chế về nguồn lực có tỷ lệ nhập học phổ thông trên 75%, hoạt động đánh giá tác động có thể được tiến hành bằng các cuộc điều tra dựa vào trường học để ước tính tỷ lệ nhiễm ở nhóm tuổi này. Yêu cầu tối thiểu về việc bao gồm các cuộc điều tra ở trẻ từ 10-14 tuổi dựa trên tính sẵn có của các dữ liệu đó và khả năng đánh giá tác động của hóa trị dự phòng ở nhóm này do họ có thời gian tiếp xúc lâu hơn với nhiều đợt hóa trị dự phòng.
Các cuộc đánh giá tác động nên được tiến hành ít nhất 6 tháng sau đợt điều trị trước đó, thường là ngay trước đợt cấp phát hóa dự phòng tiếp theo, nhằm đảm bảo rằng kết quả phản ánh đúng thực trạng dịch tễ học thực tế của quần thể được điều trị và không bị sai lệch do sự sụt giảm tạm thời từ đợt hóa trị dự phòng gần đây (1).
Các yêu cầu kỹ thuật và hướng dẫn về giám sát cũng như báo cáo tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm STH có thể được tìm thấy trong tài liệu Đánh giá các chương trình phòng chống bệnh sán máng và bệnh giun truyền qua đất: Khung giám sát và đánh giá (1).
Một khi tất cả các IU đã đáp ứng các tiêu chí STH EPHP ở trẻ em tại cả IA 1, IA 2 và bất kỳ cuộc đánh giá tiếp theo nào, các quốc gia có thể tiến tới giai đoạn thẩm định bằng cách nộp hồ sơ của mình.
Hình 1. Quy trình 02 bước nhằm thẩm định việc loại trừ các bệnh giun truyền qua đất
khỏi vấn đề sức khỏe cộng đồng ở trẻ em (STH EPHP ở trẻ em)
Bảng 2. Tiêu chí để bước vào giai đoạn tiền thẩm định và bắt đầu quy trình thẩm định việc loại trừ các bệnh giun truyền qua đất khỏi vấn đề sức khỏe cộng đồng ở trẻ em (STH EPHP ở trẻ em)
| Tiêu chí | Các bước hướng tới thẩm định |
| Tỷ lệ nhiễm bất kỳ loài giun truyền qua đất (STH) nào ở trẻ em từ 10-14 tuổia là ≥ 20% tại bất kỳ đơn vị triển khai (IU) nào (không phụ thuộc vào tỷ lệ nhiễm ở cường độ trung bình và nặng [MHI]). | Các hoạt động của chương trình, bao gồm can thiệp hóa dự phòng, cần được duy trì theo khung giám sát và đánh giá của TCYTTG (1).ᵇ Không nên bắt đầu quy trình thẩm định. |
| Tỷ lệ nhiễm bất kỳ loài giun truyền qua đất (STH) nào ở trẻ em từ 10-14 tuổiᵃ là < 20% tại tất cả các đơn vị triển khai (IU). nhưng Tỷ lệ nhiễm ở cường độ trung bình và nặng (MHI) là ≥ 2% (với giới hạn dưới của khoảng tin cậy 95% nhỏ hơn 2%) tại bất kỳ đơn vị triển khai (IU) nào. | Các hoạt động của chương trình, bao gồm can thiệp hóa dự phòng, cần được duy trì theo khung giám sát và đánh giá của WHO (1).ᵇ Không nên bắt đầu quy trình thẩm định. |
| Tỷ lệ nhiễm bất kỳ loài giun truyền qua đất (STH) nào ở trẻ em từ 10-14 tuổiᵃ là < 20% tại tất cả các đơn vị triển khai (IU). và Tỷ lệ nhiễm ở cường độ trung bình và nặng (MHI) ở trẻ em từ 10-14 tuổi là < 2% (với giới hạn trên của khoảng tin cậy 95% nhỏ hơn 2%) tại tất cả các đơn vị triển khai (IU). | Bước vào giai đoạn giám sát tiền thẩm định trong vòng 3 năm, sau khoảng thời gian này quy trình thẩm định có thể được bắt đầu bởi Bộ Y tế, nếu cả hai tiêu chí trên được duy trì liên tục trong suốt 3 năm đó. Cho đến khi việc thẩm định được TCYTTG xác nhận, các hoạt động chương trình, bao gồm phân phối thuốc hóa dự phòng, cần được duy trì theo khung giám sát và đánh giá của TCYTTG (1).ᵇ |
a. Mẫu điều tra cần bao gồm trẻ em trong độ tuổi từ 10-14 tuổi.
b. Theo khung giám sát và đánh giá của TCYTTG (1), nếu tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất (STH) là:
- < 2%: Tạm dừng can thiệp hóa dự phòng hoặc phân phối thuốc tại các sự kiện đủ điều kiện (ví dụ: theo độ tuổi, năm học, chăm sóc tiền sản);
- ≥ 2% đến < 10%: Triển khai can thiệp hóa dự phòng 2 năm một lần, đích hướng tới là tất cả các nhóm có nguy cơ trong vòng 05 năm;
- ≥ 10% đến < 20%: Triển khai can thiệp hóa trị dự phòng mỗi năm một lần, đích hướng tới là tất cả các nhóm có nguy cơ trong vòng 05 năm;
- ≥ 20%: Triển khai can thiệp hóa trị dự phòng 02 lần một năm, đích hướng tới là tất cả các nhóm có nguy cơ trong vòng 05 năm.
5. Hồ sơ thẩm định việc loại trừ giun truyền qua đất khỏi vấn đề sức khỏe cộng đồng ở trẻ em
Hướng dẫn này được dành cho các Quốc gia Thành viên có nguyện vọng đệ trình yêu cầu lên Tổ chức Y tế Thế giới để thẩm định việc loại trừ nhiễm giun truyền qua đất khỏi vấn đề sức khỏe cộng đồng ở trẻ em sau khi triển khai hóa dự phòng.
5.1 Chuẩn bị và đệ trình hồ sơ thẩm định
Các Quốc gia Thành viên có nguyện vọng được Tổ chức Y tế Thế giới công nhận chính thức về việc đạt các tiêu chí loại trừ nhiễm giun truyền qua đất khỏi vấn đề sức khỏe cộng đồng ở trẻ em cần đệ trình lên TCYTTG một bộ hồ sơ minh chứng cho các biện pháp đã triển khai và các bằng chứng hỗ trợ cho tuyên bố này. Các Quốc gia Thành viên nên tham khảo biểu mẫu hồ sơ của TCYTTG (Phụ lục 1) để được hướng dẫn và đảm bảo thông tin trình bày đáp ứng các tiêu chí cần thiết tối thiểu nhằm hỗ trợ cho tuyên bố đó (xem Phụ lục 2). Nếu có nhu cầu, các Quốc gia Thành viên có thể yêu cầu Nhóm Đánh giá Chương trình Khu vực cho ý kiến phản hồi về dự thảo hồ sơ quốc gia thông qua văn phòng khu vực của TCYTTG trước khi đệ trình chính thức.
Các Quốc gia Thành viên cần đệ trình hồ sơ hoàn chỉnh (một bản cứng và một bản điện tử) đến văn phòng quốc gia của TCYTTG để gửi tới đại diện của TCYTTG. Văn phòng quốc gia có trách nhiệm xác nhận đã nhận được bản cứng và bản điện tử của hồ sơ từ Quốc gia Thành viên, đồng thời chuyển tiếp hồ sơ đến đầu mối phụ trách các bệnh nhiệt đới bị lãng quên (NTDs) tại văn phòng khu vực của TCYTTG. Sau đó, văn phòng khu vực của TCYTTG sẽ thông báo cho Ban Sốt rét và Bệnh nhiệt đới bị lãng quên tại trụ sở chính của TCYTTG.
Phụ lục 3 bao gồm một số câu hỏi thường gặp nhằm hỗ trợ các quốc gia trong quá trình chuẩn bị hồ sơ minh chứng cho việc loại trừ nhiễm giun truyền qua đất khỏi vấn đề sức khỏe cộng đồng ở trẻ em.
5.2 Thu thập dữ liệu để chuẩn bị hồ sơ
Các chương trình phải thu thập dữ liệu để chuẩn bị hồ sơ. Mỗi phần của hồ sơ mẫu cần được giải quyết và chứng minh bằng dữ liệu của chương trình. Các chương trình quốc gia phòng chống nhiễm giun truyền qua đất nên lưu trữ thông tin trong suốt lịch sử hoạt động của chương trình. Trong trường hợp không có sẵn kho lưu trữ như vậy, các nguồn dữ liệu thông tin sau đây (không bao gồm tất cả) có thể chứa dữ liệu hỗ trợ cho hồ sơ:
+ Báo cáo của Bộ Y tế/ Sở Y tế;
+ Dữ liệu chương trình được ghi nhận trong cơ sở dữ liệu tích hợp về các bệnh nhiệt đới bị lãng quên (NTDs) hoặc bất kỳ hệ thống quản lý dữ liệu quốc gia tương tự nào;
+ Báo cáo đã đệ trình lên TCYTTG:
- Báo cáo về nhiễm giun truyền qua đất gửi TCYTTG;
- Các bài trình bày tại Nhóm Đánh giá Chương trình Khu vực và/ hoặc các cuộc họp quản lý chương trình;
- Các biểu mẫu gói Đơn đăng ký chung (JAP) của TCYTTG;
- Biểu mẫu Báo cáo Chung (JRF);
- Đơn yêu cầu Chung cho các Thuốc được Chọn (JRSM);
- Biểu mẫu Báo cáo Dữ liệu Dịch tễ học (EPIRF);
- Ngân hàng dữ liệu PCT của Tổ chức Y tế Thế giới (13);
- Các công bố trên các tạp chí được bình duyệt dựa trên các dự án nghiên cứu hoặc các cuộc điều tra;
- Các ấn phẩm từ văn phòng khu vực của TCYTTG, bao gồm các báo cáo cuộc họp chính thức của Nhóm Đánh giá Chương trình Khu vực và/hoặc các nhà quản lý chương trình;
- Báo cáo hoạt động từ các tổ chức hợp tác, các tổ chức phi chính phủ và/hoặc các tổ chức song phương;
- Báo cáo từ các đánh giá chương trình, phân tích tình huống và/hoặc từ các chuyên gia tư vấn.
Các tài liệu này cũng có thể bao gồm bằng chứng về các tiêu chí bổ sung được khuyến khích đã đề cập ở phần 2 nêu trên, liên quan đến: Các kế hoạch quốc gia về tẩy giun cho phụ nữ trong độ tuổi sinh sản; Hoạt động hóa dự phòng hiện tại và lịch sử đối với bệnh giun chỉ bạch huyết và bệnh mù sông; Các cải thiện về cơ sở hạ tầng, khả năng tiếp cận và sử dụng nước sạch, vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân, giảm thiểu tình trạng phóng uế bừa bãi; và một kế hoạch được xác định rõ ràng nhằm giám sát tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm giun truyền qua đất sau khi thẩm định việc loại trừ khỏi vấn đề sức khỏe cộng đồng ở trẻ em.
(Hết Phần 2) ---> (Tiếp theo Phần 3)
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang & CN. Nguyễn Thái Hoàng
Viện Sốt rét-kST-CT Quy Nhơn