Home TRANG CHỦ Thứ 4, ngày 13/12/2017
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Finance & Retail Tin tức - Sự kiện
Trong nước
Quốc tế
Tin hoạt động của viện
Tin vắn đáng chú ý
Điểm tin y tế
Ngày Sốt rét thế giới 25 tháng 4 (World Malaria Day)
Web Sites & Commerce Hoạt động hợp tác
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Web Sites & Commerce Chuyên đề
Web Sites & Commerce Tư vấn sức khỏe
Web Sites & Commerce Tạp chí-Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động đoàn thể
Web Sites & Commerce Bạn trẻ
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Trung tâm dịch vụ
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
3 2 4 5 9 5 5 3
Số người đang truy cập
1 5 0
 Tin tức - Sự kiện Trong nước
Cập nhật thông tin về sốt xuất huyết dengue trên thế giới và Việt Nam

Bệnh do véc tơ truyền (vector born diseases_VBD) chiếm 17% trong tổng số các bệnh truyền nhiễm và là nguyên nhân dẫn đến hơn 1 triệu ca tử vong mỗi năm (WHO, 2016). Hầu hết số ca mắc và tử vong tập trung chủ yếu các bệnh do muỗi truyền như sốt rét, sốt xuất huyết Dengue, sốt vàng, viêm não Nhật Bản, Chikuagunya.

Trong đó, sốt xuất huyết Dengue hiện đang diễn biễn phức tạp và là vấn đề y tế công cộng rất lớn trên toàn cầu, được Tổ chức Y tế thế giới đánh giá là một trong những bệnh quan trọng nhất, thường gây thành dịch và tỷ lệ tử vong cao.

Gần đây, một số bệnh do muỗi Aedes spp. truyền cũng gia tăng và mở rộng ra nhiều vùng mới như vi rút Chikungunya, vi rút Zika.Sau hơn 5 thập kỷ, số ca sốt xuất huyết Dengue trên toàn cầu tăng 30 lần, dịch bệnh lan nhanh và mở rộng ra nhiều quốc gia mà trước đây chưa ghi nhận. Trên thế giới có khoảng 3,9 tỷ người sống ở 128 quốc gia có nguy cơ nhiễm, với 390 triệu ca mắc hàng năm. Số mắc tập trung chủ yếu châu Mỹ, Đông Nam Á và Thái Bình Dương, với số ca mắc trong năm 2008 hơn 1,2 triệu ca và đến năm 2015 số ca mắc tăng lên 3,2 triệu ca. Sự tăng nhanh, mở rộng khu vực bị ảnh hưởng có liên quan đến việc mở rộng phân bố địa lý muỗi Ae. aegyptiAe. albopictus hơn.


Hình 1

Tại Việt Nam, sốt xuất huyết Dengue được ghi nhận là vấn đề y tế công cộng rất lớn với số ca mắc và tử vong hàng năm luôn ở mức cao. Bệnh lưu hành ở hầu hết các tỷnh thành phố, nhưng tập trung chủ yếu tại các tỷnh miền Nam và miền Trung, gần đây lại biến động và lưu hành phức tạp tại các tỷnh miền Bắc, đặc biệt tại một số quận nội thành Hà Nội. Hầu hết các khu vực có bệnh lưu hành đều phát hiện sự có mặt véc tơ chính Ae. Aegypti và/ hoặc Ae. albopictus. Mặc dù chương trình phòng chống sốt xuất huyết Dengue quốc gia hoạt động rất tích cực từ năm 1999 đã làm giảm số mắc và tử vong, song số mắc trung bình hàng năm luôn ở mức rất cao, khoảng 70.000 - 100.000 ca mắc và hàng trăm ca tử vong.


Hình 2

Từ năm 2015 đến nay tình hình sốt xuất huyết ở Việt Nam diễn biến phức tạp và thường phát triển thành dịch ở nhiều vùng sinh thái khác nhau từ thành thị đến nông thôn và miền núi. Mặc dù phần lớn các trường hợp được báo cáo là từ phía Nam (49%), sự gia tăng số lượng ca bệnh ở khu vực phía Bắc (tăng gần 31 lần so với cùng kỳ năm ngoái), với 21/28 tỉnh thành tại miền bắc ghi nhận có bệnh nhân bị sốt xuất huyết dengue, đặc biệt là từ Hà Nội với 28.158 vụ, cao hơn rất nhiều lần cùng kỳ năm 2016. Số bệnh nhân sốt xuất huyết ở miền Bắc chưa phải cao nhất, song tốc độ gia tăng nhanh “kỷ lục” và được coi là hiện tượng bất thường.

Biến đổi khí hậu với biểu hiện cơ bản là sự nóng lên toàn cầu dẫn đến sự thay đổi và dịch chuyển của các đới khí hậu lên phía bắc, đồng thời ảnh hưởng đến độ ẩm, nhiệt độ trung bình năm, lượng mưa tại tất cả các nơi trên thế giới. Những yếu tố này là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh sản và phát triển của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết là muỗi Aedes spp. theo như dự đoán các yếu tố này sẽ thay đổi theo hướng tạo thuận lợi hơn cho sự phát triển của muỗi. Ngoài ra, yếu tố về mật độ dân số, đô thị hóa, dân trí, vệ sinh môi trường, tăng du lịch giao lưu, kiểm soát muỗi không hiệu quả, năng lực hệ thống y tế cơ sở.

Bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) được tác giả Spaniards mô tả lần đầu tiên vào năm 1764. Căn nguyên gây bệnh là các virut Dengue phát hiện bởi Ashburn và Graig phát hiện năm 1907. Sốt xuất huyết Dengue lan rộng khắp vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới với các yếu tố liên quan hay nguy cơ chịu ảnh hưởng của biến động khu vực như lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm tương đối, mức độ đô thị hoá và chất lượng dịch vụ kiểm soát vector tại các khu vực thành thị.


Hình 3

Trước năm 1970, chỉ có 9 quốc gia đã trải qua những đợt SXHD. Ngày nay, căn bệnh này xảy ra ở hơn 100 quốc gia thuộc khu vực châu Phi, châu Mỹ, Đông Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Trong đó, châu Mỹ, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Khu vực Đông Nam Á cũng trong xu hướng chung là mức độ bệnh sẽ ngày càng mạnh và tần số bùng phát các vụ dịch ngày càng cao. Năm 2017 được ghi nhận là năm có số ca mắc sốt xuất huyết cao so với các năm trước ở hầu hết các nước thuộc khu vực Đông Nam Á, bao gồm cả Việt Nam.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), số mắc SXHD trong 50 năm qua đã gia tăng gấp 30 lần và lan rộng ở 128 quốc gia trên thế giới với 3,9 tỷ người (hơn 40% dân số toàn cầu) có nguy cơ mắc bệnh. Hằng năm, có 390 triệu người nhiễm bệnh, 96 triệu trường hợp có triệu chứng. SXHD là nguyên nhân hàng đầu gây ra tình trạng trẻ em nhập viện ở 8/10 quốc gia ASEAN. SXHD khủng bố áp đảo ngân sách dành cho y tế ở những quốc gia có hệ thống chăm sóc sức khỏe mong manh, ở cả những nước đang phát triển.

Những đặc điểm quan trọng của bệnh SXHD

Bệnh SXHD là bệnh nhiễm trùng cấp tính do vi rút Dengue (DEN) thông qua muỗi truyền và có thể gây thành dịch lớn. Đây là bệnh dịch lưu hành địa phương ở Việt Nam, nhất là ở các tỷnh đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng Bắc bộ và vùng ven biển miền Trung. Do đặc điểm địa lý, khí hậu khác nhau, ở miền Nam và miền Trung bệnh xuất hiện quanh năm, ở miền Bắc và Tây Nguyên bệnh thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng 11. Tại miền Bắc những tháng khác bệnh ít xảy ra vì thời tiết lạnh, ít mưa, không thích hợp cho sự sinh sản và hoạt động của muỗiAedes aegypti. Bệnh SXHD phát triển nhiều nhất vào các tháng 7, 8, 9, 10 trong năm.

Chẩn đoán xác định trong phòng thí nghiệm bằng phân lập/phát hiện vật liệu di truyền hoặc kháng nguyên vi rút trong máu trong vòng 5 ngày đầu kể từ khi sốt hoặc phát hiện kháng thể IgM kháng vi rút Dengue đặc hiệu trong huyết thanh sau ngày thứ 5.


Hình 4

Tác nhân gây bệnh

Bệnh nhiễm trùng cấp tính do vi rút Dengue thuộc nhómFlavivirus, họ Flaviviridae với 4 type huyết thanh DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4. Sự lưu hành của từng type sẽ thay đổi tùy từng vùng địa lý, từng giai đoạn năm xảy ra dịch SXHD và đặc biệt độc lực của virus có thay đổi tùy theo từng type virus;

Thời kỳ ủ bệnh của bệnh SXHD dao động từ 3-14 ngày, trung bình từ 5-7 ngày. Bệnh nhân là nguồn lây bệnh trong thời kỳ có sốt, nhất là 5 ngày đầu của sốt là giai đoạn trong máu có nhiều vi rút. Muỗi bị nhiễm vi rút thường sau 8-12 ngày sau hút máu có thể truyền bệnh. Mọi người chưa có miễn dịch đặc hiệu đều có thể bị mắc bệnh từ trẻ sơ sinh cho đến người lớn. Sau khi khỏi bệnh sẽ được miễn dịch suốt đời với type vi rút Dengue gây bệnh nhưng không được miễn dịch bảo vệ chéo với các type vi rút Dengue khác. Nếu bị mắc bệnh lần thứ hai với type vi rút Dengue khác, bệnh nhân có thể sẽ bị bệnh nặng hơn và dễ xuất hiện sốc Dengue.

Véc tơ truyền bệnh

Ngay từ ban đầu, người ta đã nghĩ đến muỗi là thủ phạm truyền vi rút Dengue từ người mắc bệnh sang người lành, nhưng mãi tới năm 1903 vấn đề này mới được Graham chứng minh. Nhiều chuyên gia nghiên cứu về véc tơ truyền bệnh SD/SXHD và thống nhất đi đến kết luận sốt Dengue (SD) và sốt xuất huyết Dengue (SXHD) đều được truyền bởi muỗi Ae. aegypti và muỗi Ae albopictus, trong đó Ae. aegypti đóng vai trò quan trọng nhất. Những nghiên cứu tiếp theo ở Philippines, Indonesia và các đảo thuộc Thái Bình Dương cho thấy ngoài Ae. aegyptiAe. albopictus, còn một số loài muỗi khác như Ae. polysiensis, Ae. scutellaris, Ae. cooki, Ae. votume, Ae. ebrideus, Ae. tongue, Ae. tabu cũng có thể là véc tơ truyền vi rút này.


Hình 5

Năm 1964 và 1968, hội thảo về SD/SXHD của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG ở Băng Cốc - Thái Lan, đã cho thấy véc tơ truyền bệnh được nhiều tác giả nghiên cứu và Ae. aegypti được khẳng định là véc tơ chủ yếu, Ae. albopictus đóng vai trò nhất định trong việc lưu trữ vi rút trong tự nhiên. Một số tác giả cho rằng Ae. albopictus truyền nhiều vi rút Dengue type 2 và 4 chỉ gây ra ở người bệnh sốt với triệu chứng nhẹ. Ngược lại, Ae. aegypti khi truyền vi rút gây ra những biến chứng nặng. Trong thực tế cho thấy, sự thay thế Ae. albopictus bằng Ae. aegypti ở các vùng thành phố Đông Nam Á liên quan đến việc xuất hiện SXHD ngày càng thường xuyên hơn. TCYTTG tổng kết tình hình ở Đông Nam Á và thế giới, đã xây dựng một hướng dẫn toàn diện về bệnh SD/SXHD. Các chuyên gia trên thế giới một lần nữa khẳng định Ae. aegypti là vec tơ quan trọng nhất truyền vi rút Dengue, ngoài ra một số loại muỗi khác cũng truyền bệnh như Ae. albopictus, Ae. polinesiensis và một số loài thuộc nhóm Saitellaris.

Cả hai loài có kích thước nhỏ đến trung bình, thường từ 4-6mm, thân có màu đen bóng, có nhiều vẩy trắng bạc tập trung thành từng cụm hay từng đường, đặc biệt trên phần ngực. Loài Ae. aegypti định loại dựa vào trên mặt lưng của ngực có hai đường vẩy trắng bạc phình ra như hai nửa vòng cung ôm hai bên lưng nên gọi là hình đàn. Còn đối với loài Ae. albopictus, trên mặt lưng của ngực chỉ có 1 đường vảy trắng bạc ở giữa lưng.



Hình 5

Bệnh SXHD được lan truyền từ người bệnh qua người lành thông qua muỗi cái Aedes spp. Có rất nhiều loài thuộc giống Aedes spp. trên thế giới, tuy nhiên loài muỗi Aedes được xác định có khả năng truyền chính trên toàn thế giới là Ae. aegypti Ae. albopictus. Muỗi đực hút nhựa, mật hoa, không đốt người do đó không có khả năng truyền bệnh cho con người. Sự phân bố, tập tính sinh thái của hai loài này không giống nhau và thường xuyên thay đổi, cho nên biện pháp can thiệp cũng khác nhau.

Ae. aegypti có nguồn gốc từ Trung Phi và được tìm thấy trên phạm vi toàn cầu, tuy nhiên loài muỗi này phổ biến nhất ở 35 độ vĩ bắc và 35 độ vĩ nam. Khu vực Đông Nam Á, Ae. aegypti phân bố rộng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (trong khoảng 40 độ vĩ tuyến Bắc và 400 vĩ tuyến Nam) giới hạn bằng đường đẳng nhiệt 200C. Muỗi này phổ biến nhất ở khu vực thành thị nhưng hiện nay đã lan rộng ra các vùng nông thôn liên quan đến quá trình đô thị hóa, phát triển cơ sở hạ tầng như mở rộng các công trình cấp thoát nước và cải tạo hệ thống giao thông (WHO, 2011; CDC, 2016).

Độ cao là yếu tố quan trọng giới hạn sự phân bố muỗi Ae. aegypti và càng lên cao thì mật độ muỗi giảm dần. Tại Ấn Độ, Ae. aegypti phân bố độ cao từ 0 đến 1200 m so với mặt nước biển. Khu vực Đông Nam Á, độ cao từ 1000 m đến1500 m được xem là giới hạn phân bố của loài này. Tuy nhiên ở các khu vực khác thì loài muỗi này phân bố ở độ cao lên đến 2.200 m như Columbia và 2.400 m ở Eritrea (WHO, 1997 và WHO, 2011).

Ae. aegypti là một trong những véc tơ quan trọng nhất truyền arbovi rúte vì chúng thường sống trong nhà, gần người và thích đốt người.Loài này đốt ban ngày và có hai đỉnh đốt gồm sáng sớm và chiều tối, tuy nhiên đỉnh hoạt động có thể thay đổi thùy theo địa phương và mùa. Ae. aegypti thường đốt hơn một người để hoàn thành một chu kỳ tiêu sinh, nên làm gia tăng nguy cơ lan truyền bệnh. Loài này không đốt vào ban đêm nhưng sẽ đốt nếu trong phòng có ánh sáng. Giai đoạn ấu trùng thường tìm thấy ở những dụng cụ chứa nước (DCCN) trong và xung quanh nhà gồm bể xi măng, chum vại, lọ hoa, lốp xe và các vật thải có chứa nước khác.

Hơn 90% muỗi sống ở những nơi ẩm, ít ánh sáng, nơi yên tĩnh như phòng ngủ, tủ áo, phòng tắm, nhà bếp. Những giá thể muỗi thường đậu gồm quần áo, gầm giường, gầm bàn và đậu độ cao từ 2 m trở xuống để tiêu máu. Do vậy, phun tồn lưu không phải là biện pháp để kiểm soát Ae. aegypti như véc tơ sốt rét. Khả năng phát tán của loài này phụ thuộc vào vị trí sinh sản cũng như vật chủ, nhưng thông thường giới hạn khoảng từ 30-50 m tính từ vị trí muỗi xuất hiện. Tuy nhiên những nghiên cứu gần đây cho thấy, loài này có thể phát tán hơn 400 m ở Puerto Rico, Mỹ. Ngoài ra chúng có thể vận chuyển thụ động thông qua những dụng cụ có bọ gậy và trứng.


Hình 6

Tại Việt Nam, Ae. aegypti là véc tơ chính truyền SXHD, phân bố ở 3 sinh cảnh: Chủ yếu tập trung ở thành phố, rồi đến các đồng bằng ven biển và các làng mạc gần đường giao thông. Đó là những nơi có dân cư đông đúc, có nhiều dụng cụ chứa nước và các phương tiện giao thông thường xuyên qua lại. Hiện nay kinh tế phát triển (rác thải bia, đồ hộp….) và việc đô thị hóa nhanh chóng nhưng không đồng bộ (cấp thoát nước chưa đầy đủ, vệ sinh môi trường kém), cũng như sự thay đổi môi trường sống làm cho vùng phân bố của Ae. aegypti ngày càng mở rộng. Theo Kawada và cộng sự (2009) đã tiến hành điều tra muỗi Aedes dọc quốc lộ 1A cho thấy tại khu vực miền Bắc muỗi Ae. albopictus chiếm ưu thế hơn so với Ae. aegypti, tuy nhiên đối với khu vực miền Nam, miền Trung và Tây Nguyên, thì Ae. aegypti chiếm ưu thế hơn so với Ae. albopictus. Ở khu vực miền Bắc vào những tháng mùa đông do nhiệt độ xuống thấp nên muỗi không thể hoạt động được hoặc giảm hoạt động, nên chỉ số mật độ muỗi và bọ gậy rất thấp vào những tháng này.

Về đặc điểm sinh học muỗi Ae. albopictus, Ae. albopictus có nguồn gốc ở rừng nhiệt đới Đông Nam Á và hiện phân bố ở tất cả các khu vực trên thế giới. Loài này phân bố rộng ở châu Á cả vùng nhiệt đới và ôn đới. Trong hai thập kỷ qua loài này mở rộng vùng phân bố đến Bắc và Nam Mỹ kể cả vùng Caribbean, châu Phi, phía Nam châu Âu và một số quần đảo Thái Bình Dương. Loài này phân bố ở vùng khí hậu lạnh hơn so với Ae. aegypti.

Ae. albopictus phân bố chính ở trong rừng nhưng đã thích nghi với môi trường sống của con người ở khu vực đô thị, bán đô thị và nông thôn. Trong sinh cảnh rừng chúng đẻ trong các hốc cây tre nứa, nách lá; sinh cảnh đô thị chúng đẻ trong những DCCN nhân tạo. Không giống như muỗi Ae. aegypti, một số quần thể Ae. albopictus thích nghi với vùng có khí hậu lạnh ở Bắc Á và châu Mỹ, vì trứng của chúng có khả năng tồn tại qua mùa đông. Loài muỗi này cũng là véc tơ truyền bệnh SXHD nhưng ít quan trọng hơn so với loài Ae. aegypti.

Về cơ bản Ae. albopictus là một loài hoang dã thường được tìm thấy trong khu vực bìa rừng và muỗi thường đẻ trong hốc cây, kẻ lá vỏ dừa. Loài này hiện đã xâm nhập vào các vùng ngoại ô ở đô thị thông qua các dụng cụ chứa nước nhân tạo. Ở các công viên và các vườn cây thành phố loài này đẻ ở trong những dụng cụ chứa nước nhân tạo và tự nhiên. Tại Thái Lan, Ae. albopictus đã được thu thập trong ba môi trường sống rừng ở độ cao từ 430-1800m và loài này có khả năng phát tán lên đến 500 m.

Sau khi xuất hiện muỗi cái trưởng thành giao phối và hút máu lần đầu trong vòng 24-36 giờ. Do loài này đốt cả máu người, động vật và thường sống ngoài nhà, bìa rừng cho nên vài trò truyền bệnh thấp hơn so với Ae. aegypti. Nơi trú đậu của muỗi Ae. albopictus thường là cây cối, bụi cỏ, bụi cây rậm rạp và tạinhững nơi râm mátcó bóng cây che phủ. Mặc dù cả hai loài muỗi Ae. aegypti Ae. albopictus thường hoạt động trong giới hạn bán kính 30-600 m từ môi trường sống ban đầunhưng hiện nay chúng phát tán hàng trăm, hàng ngàn km và có mặt khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là loài muỗi Ae. albopictus có thể phân bố ở những nơi có khí hậu ôn đới (WHO, 2013). Nguyên nhân phát tán hai loài muỗi này trên toàn thế giới là do:

- Sự chuyên chở trứng (chịu đựng được mùa khô) và bọ gậy trong những bồn chứa nước, tàu bè, túi đựng nước của các du mục,…

- Sự chuyên chở các dạng muỗi trưởng thành bằng những phương tiện chuyên chở nhanh (xe lửa, máy bay, tàu,…).

Ngược lại, sự phát tán của hai loài muỗi này cũng có chiều hướng bị hạn chế bởi một số yếu tố như việc diệt côn trùng thường xuyên theo quy định quốc tế ở các cảng, sân bay, tàu bè và sự tăng mức sống bằng những tiện nghi, nước máy, giáo dục sức khỏe.Tại Việt Nam, loài Ae. albopictus dễ dàng tìm thấy ở khu vực rừng núi và vùng thôn thôn trên toàn quốc. Tuy nhiên, hiện nay loài này xâm nhập mạnh vào các khu vực đô thị lớn trên phạm vi cả nước. Tập tính hoạt động của loài này khác so với Ae. aegypti. Ae. albopictus hoạt động đốt người chủ yếu ngoài nhà cho nên việc giám sát loài này cũng gặp nhiều khó khăn hơn so với Ae. aegypti hoạt động chủ yếu trong nhà.

Ở Việt Nam, nghiên cứu về vec tơ truyền bệnh SD/SXHD được tiến hành trong nhiều năm đều khẳng định Ae. aegypti là vec tơ chính trong các vụ dịch SD/SXHD ở Việt Nam. Muỗi Ae. albopictus chỉ có mặt trong một số ít các vụ dịch với chỉ số mật độ rất thấp và cũng chưa có kết quả phân lập vi rút Dengue dương tính từ Ae.albopictus. Như vậy, Việt Nam cho đến thời điểm này Ae. aegypti vẫn là vec tơ chính truyền vi rút Dengue trong các vụ dịch SD/SXHD đã xảy ra trước đây. Để phòng chống có hiệu quả SD/SXHD cũng như các bệnh khác do muỗi Ae. aegypti truyền thì việc nghiên cứu những biểu hiện về sinh học, sinh thái, bộ gen của loài muỗi này đóng vai trò quan trọng.

1.1.2Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của SD/SXHD

Muỗi Ae. aegypti có vòng đời biến thái hoàn toàn với ấu trùng sống trong nước, chu kỳ phát triển gồm 4 giai đoạn: trứng, bọ gậy, lăng quăng và muỗi trưởng thành, trong đó chỉ có giai đoạn trưởng thành liên quan trực tiếp tới khâu truyền bệnh. Thời gian trung bình từ trứng đến muỗi trưởng thành trong điều kiện phòng thí nghiệm là 8,35 ± 0,2 ngày, dài nhất là 10 ngày, ngắn nhất 7 ngày. Muỗi trưởng thành có màu đen hoặc màu nâu đen với những đốm trắng bạc ở thân và ở chân. Những đốm này tạo thành hình đàn ở mặt lưng. Bụng, chân có các vảy trắng và đốt cuối cùng hoàn toàn trắng.

Muỗi cái trưởng thành giao phối (Ae.aegypti có thể giao phối ở không gian hẹp), hút máu người hoặc động vật (nhưng thích hút máu người hơn và thường hút mạnh nhất vào lúc sáng sớm và chiều tối). Muỗi cái đậu chủ yếu trong nhà (99,6% ở thành phố, 96,9% ở nông thôn). Muỗi ưa nơi kín gió, trú đậu ở cả nơi tối và sáng và nhiệt độ thích hợp là 20-250C. Trong số các gia đình có muỗi, 39,4% ở nông thôn và 31,9% ở thành phố có ổ bọ gậy Ae. aegypti. Như vậy, có thể thấy mỗi gia đình có ổ bọ gậy Ae. aegypti là có thể cung cấp muỗi trưởng thành cho chính gia đình họ và ít nhất một gia đình hàng xóm. Muỗi Ae. aegypti chủ yếu đậu nghỉ trên các giá có chất liệu bằng vải như quần áo, chăn màn (68-71%), hoặc có thể trú đậu trên các đồ vật bằng gỗ, dây phơi hay đậu nghỉ trên tường (1,2-3,8%).

Trứng muỗi rời rạc nhưng được đẻ thành đám bám vào thành ẩm của các dụng cụ chứa nước sạch không có nắp đậy như bình hoa, thùng chứa nước đặc biệt là nền nhà tắm ẩm ướt và bồn vệ sinh. Trứng có màu đen, có nắp và có khả năng vượt hạn. Muỗi Ae. aegypti mỗi lần đẻ trung bình 78,6-10,6 trứng, nhiều nhất 163, ít nhất 16 trứng. Tỷ lệ sống sót trung bình của muỗi Ae. aegypti từ trứng tới muỗi trưởng thành là 59,7 %, ở điều kiện nhiệt độ 280C, độ ẩm 80-87%. Bọ gậy của muỗi Ae. aegypti sống hoàn toàn trong nước, có phần phụ miệng kiểu nghiền, không chân và hô hấp bằng hệ thống ống khí với một ống thở nằm cuối cơ thể.

1.2Một số yếu tố thời tiết, khí hậu ảnh hưởng lên bệnh SXHD

1.2.1.1Khí hậu và thời tiết

Theo Ủy ban Liên quốc gia về Biến đổi khí hậu (IPCC), thời tiết trong nghĩa hẹp thường định nghĩa là “Thời tiết trung bình”, hoặc chính xác hơn là bảng thống kê mô tả định kì về ý nghĩa các sự thay đổi về số lượng có liên quan trong khoảng thời gian khác nhau, từ hàng tháng đến hàng nghìn, hàng triệu năm. Thời tiết là tập hợp các trạng thái các yếu tố khí tượng xảy ra trong khí quyển ở một thời điểm - khoảng thời gian nhất định. Thuật ngữ này thường nói về hoạt động của các hiện tượng khí tượng trong các thời kỳ ngắn, khác với thuật ngữ “khí hậu” về điều kiện không khí bình quân trong một thời gian dài.

Khoảng thời gian quy định thường dùng là 30 năm, theo như định nghĩa của Tổ chức Khí tượng Thế giới (World Meteorological Organization-WMO). Các số liệu thường xuyên được đưa ra là các biến đổi về nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm và gió. Thời tiết trong nghĩa rộng hơn là một trạng thái, gồm thống kê mô tả của hệ thống thời tiết.

1.2.1.2Nhiệt độ

Theo định luật 1 nhiệt động lực học cho biết “nếu hai hệ nhiệt động lực, A và B, ở trạng thái cân bằng nhiệt động với hệ nhiệt động lực thứ ba, C, thì A và B cũng ở trạng thái cân bằng nhiệt động với nhau”. Định luật này rút ra từ quan sát thực nghiệm, chứ không có cơ sở lí thuyết. Cả ba hệ A, B và C đều ở cùng trạng thái cân bằng nhiệt động, nên ta có thể đặt một tính chất chung cho trạng thái đó. Nó gọi là nhiệt độ. Nhiệt độ được đo bằng nhiệt kế. Nhiệt độ được đo bằng các đơn vị khác nhau và có thể biến đổi bằng các công thức. Trong hệ đo lường quốc tế, nhiệt độ được đo bằng đơn vị Kelvin, kí hiệu là K.

1.2.2Lượng mưa

Lượng mưa là đại lượng thể hiện mức độ mưa nhiều hay ít sau mỗi cơn mưa. Được đo bằng độ cao của nươc mưa thu được trên một bề mặt phẳng không bị nhà cửa hay cây cối bao phủ hay che lấp và được tính bằng mm hay L/m2. Lượng mưa đo bằng 1mm nghĩa là mức độ nước mưa thu được (ngập sâu) là 1 mm trên 1 mét vuông mặt phẳng. Lượng mưa 1mm tương đương với cách gọi lượng mưa 1 lít/m2.

1.2.2.1Độ ẩm

Độ ẩm tuyệt đối: là thuật ngữ được dùng để mô tả lượng hơi nước tồn tại trong một thể tích hỗn hợp dạng khí nhất định. Độ ẩm tuyệt đối được định nghĩa bằng tỷ số giữa khối lượng hơi nước (thường được tính bằng gam) trên thể tích của một hỗn hợp không khí nào đó (thường được tính bằng m3) chứa nó:


Trong đó:AH là độ ẩm tuyệt đối của thể tích không khí được xét;m(H2O) là khối lượng hơi nước chứa trong hỗn hợp khí; V(mixture) là thể tích hỗn hợp khí có chứa lượng hơi nước đó.

Độ ẩm tương đối: là tỷ số của áp suất hơi nước hiện tại của bất kỳ một hỗn hợp khí với hơi nước nào so với áp suất hơi nước bão hòa tính theo đơn vị là %. Định nghĩa khác của độ ẩm tương đối là tỷ số giữa khối lượng nước trên một thể tích hiện tại so với khối lượng nước trên cùng thể tích đó khi hơi nước bão hòa. Khi hơi nước bão hòa, hỗn hợp khí và hơi nước đã đạt đến điểm sương.

1.2.2.2Tốc độ gió

Gió làm không khí chuyển động, tốc độ của gió bằng cách nhìn lá rung trên cây khi có gió nhưng không thể đo được tốc độ của gió vì ta không thể thấy nó. Dụng cụ để đo tốc độ của gió được gọi là "phong kế" do nhà khoa học người Anh, Robert Hooke, phát minh vào năm 1667.

Có nhiều loại phong kế, hầu hết đều có ba hoặc bốn miếng hình nhôm này có thể quay tự do khi gió thổi vào. Khi gió thổi mạnh thì chúng quay nhanh. Người ta tính tốc độ của gió tuỳ theo mức quay của những miếng nhôm này. Dụng cụ này có một bộ đo tốc độ quay của những miếng nhôm. Từ đó, ta tính được tốc độ của gió. Biết được tốc độ của gió sẽ rất hữu ích trong ngành khí tượng để dự báo thời tiết.


Hình 9

Tổng số giờ nắng trong tháng

Là tổng số giờ nắng các ngày trong tháng cộng lại. Số giờ nắng là số giờ có cường độ bức xạ mặt trời trực tiếp với giá trị bằng hay lớn hơn 0,1 kw/m2 (≥ 0,2 Calo/cm2 phút). Thời gian nắng được đo bằng nhật quang ký. Nó được xác định bằng vết cháy trên giản đồ bằng giấy có khắc thời gian do các tia mặt trời chiếu xuyên qua quả cầu thủy tinh hội tụ lại tạo nên.

Tại thành phố, đô thị mật độ dân cư cao, nhà cửa chật hẹp và liền sát nhau sẽ tạo các ngóc ngách cho muỗi trú ngụ, sinh sôi phát triển. Những vùng dân cư dân trí thấp không biết tự phòng tránh muỗi như nằm ngủ không mắc màn, nguồn nước kém vệ sinh, vệ sinh môi trường kém, nhiều ao tù vũng nước đọng, bụi rậm cũng là những điều kiện thuận lợi cho dịch bệnh xuất hiện. Ở nhiều nơi, hệ thống y tế yếu kém phát triển, khả năng tuyên truyền cảnh báo, phòng trừ dịch bệnh không hiệu quả cũng là một nguyên nhân khiến tỷ lệ mắc sốt xuất huyết không thể giảm xuống.

Như vậy, có thể nói môi trường, khí hậu và sốt xuất huyết có những mối quan hệ rất mật thiết. Sự thay đổi của môi trường và khí hậu sẽ kéo theo sự thay đổi của dịch bệnh sốt xuất huyết Dengue mà nguyên nhân chủ yếu liên quan đến sự phát triển của vật trung gian gây bệnh là muỗi Aedes spp.

Khái niệm về mật độ dân số và đô thị hóa

Mật độ dân số: là số cư dân trung bình sinh sống trên một đơn vị diện tích lãnh thổ nào đó (đơn vị: người /km2). Mật độ dân sốlà số liệuvề mật độ dân sốcho ta biết tình hình phân bố dân cư một địa phương một nước;

Đô thị hóa: là sự mở rộng củađô thị, tính theo tỷ lệphần trăm (%) giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực. Nó cũng có thể tính theo tỷ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian. Tính theo cách đầu thì nó còn được gọi làmức độ đô thị hóa; còn theo cách thứ hai, nó có tên làtốc độ đô thị hóa.

Đô thị hóa là quá trình phát triển rộng rãi lối sống thị thành thể hiện qua các mặt dân số, mật độ dân số, chất lượng cuộc sống, ...

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Bộ Y tế (2011), Báo cáo tổng kết công tác Phòng chống Sốt xuất huyết năm 2010, Dự án Phòng chống sốt xuất huyết, Hà Nội.

2.Bộ Y tế (2012), Báo cáo tổng kết công tác phòng chống sốt xuất huyết dengue năm 2011, Dự án phòng chống sốt xuất huyết, Hà Nội.

3.Bộ Y tế (2014), Báo cáo tổng kết công tác Phòng chống Sốt xuất huyết năm 2013, Hà Nội.

4.Bộ Y tế (2014), Hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh Sốt xuất huyết Dengue, Hà Nội.

5.Bộ Y tế (2014), Báo cáo tổng kết hoạt động phòng chống sốt xuất huyết năm 2013 và kế hoạch hoạt động, kinh phí năm 2014-Dự án phòng chống sốt xuất huyết, Hà Nội.

6.Bộ Y tế (2016), Báo cáo tình hình dịch bệnh sốt xuất huyết khu vực Tây Nguyên và các hoạt động phòng chống đã triển khai trong 7 tháng đầu năm 2016, Hà Nội.

7.Bộ Y tế ( 2017), Quyết định số 3711/QĐ-BYT ngày 19/9/ 2017 về hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue, Bộ Y tế.

8.Cassab A, Morales Vet al., (2011). Climatic factors and cases of dengue in Monteria, Colombia (2003-2008). Rev Salud Publica (Bogota), 13(1):115-28.

9.Shah Alam (2017). Govt to declare Dengue hot spots as outbreak areas, Borneo Post, London, http://www.theborneopost.com/2017/.

10.Centers for Disease Control and Prevention (2012). Dengue and climate, http://www.cdc.gov/dengue/entomologyEcology/climate.html.

11.Hoang Quoc Cuong et al. (2011). Quantifying the Emergence of Dengue in Hanoi, Vietnam: 1998-2009. PLoS Negl Trop Dis, 5(9).

12.Pinto E et al. (2011). The influence of climate variables o­n dengue in Singapore", Int J Environ Health Res, 21(6), tr. 415-26.

13.Su GL (2008). Correlation of climatic factors and dengue incidence in Metro Manila, Philippines", Ambio, 37(4), tr. 292-4.

14.Michael A. Johansson, Francesca Dominici (2009). Local and global effects of climate o­n Dengue transmission in Puerto Rico. Journal.pntd, Gordon Research Conferences 1371(10).

15.Thai KT et al. (2010). Dengue dynamics in Binh Thuan province, southern Vietnam: periodicity, synchronicity and climate variability.PLoS Negl Trop Dis, 4(7).

16.Beatty ME et al. (2011). Health economics of Dengue: A systematic literature review and expert Panel's Assessment. Am J Trop Med Hyg, 84(3):473-88.

17.Harving ML and Rönsholt FF (2007). The economic impact of dengue hemorrhagic fever o­n family level in Southern Vietnam. Dan Med Bull, 54(2):170-2.

18.Cory Morin, Andrew C. Comrie (2013). Climate and Dengue Transmission: Evidence and Implications. Environ Health Perspect, 121(11-12).

19.Hau V Pham et al. (2011). Ecological factors associated with dengue fever in a central highlands Province, Vietnam. BMC Infect Dis, 11(172).

20.Hales S et al. (2002). Potential effect of population and climate changes o­n global distribution of dengue fever: an empirical model. Lancet, 360(9336):830-4.

21.Xuan le TT et al ( 2017), "Estimates of meteorological variability in association with dengue cases in a coastal city in northern Vietnam: an ecological study." Glob Health Action, 7(23119).

22.Anthony C. FredericksandAna Fernandez-Sesma (2015), “The burden of Dengue and Chikungunya worldwide: Implications for the southern united states and California”, Ann Glob Health, 80(6): pp. 466-475.

23.Basile Kamgang,Sébastien Marcombe,Fabrice Chandre (2011), “Insecticide susceptibility of Aedes aegyptiand Aedes albopictus in Central Africa”, Parasit Vectors, 4: 79.

24.Bhatt,S., Gething,P.W., Brady,O.J., Messina,J.P., (2013). “The global distribution and burden of Dengue”, Nature, 496 (7446), pp. 504-507.

25.Butler, D. (2016), Zika virus: Brazil's surge in small-headed babies questioned by report Nature, 530(7588):13-14.

26.Christophe Paupy, Benjamin Ollomo, Basile Kamgang (2010), “Comparative role of Aedes albopictus and Aedes aegypti in the emergence of Dengue and Chikungunya in central Africa”, Vector Borne and Zoonotic Diseases,10(3): 259-266.

27.Costa CA,Santos IG,Barbosa Mda G., (2009), Detection and typing of dengue viruses in Aedes aegypti (Diptera: Culicidae) in the City of Manaus, State of Amazonas”, Rev Soc Bras Med Trop, 42(6): 677-81.

28.Dave D Chadee (2013), “Resting behaviour of Aedes aegypti in Trinidad: with evidence for the re-introduction of indoor residual spraying (IRS) for dengue control”, Parasites & Vectors, 6:255  doi:10.1186/1756-3305-6-255.

29.Dieng H, Saifur RGM, Hassan AA, Salmah MRC, Boots M, et al. (2010), “Indoor-Breeding of Aedes albopictus in Northern Peninsular Malaysia and Its Potential Epidemiological Implications”, PLoS o­nE, 5(7): e11790. doi:10.1371/journal.pone.0011790.

30.Edillo FE, Roble ND, Otero ND (2012), “The key breeding sites by pupal survey for dengue mosquito vectors, Aedes aegypti (Linnaeus) and Aedes albopictus (Skuse), in Guba, Cebu City, Philippines”, Southeast Asian J Trop Med Public Health, 43(6): pp. 1365-74.

31.Eisen L,Moore CG (2013), “Aedes (Stegomyia) aegypti in the continental United States: a vector at the cool margin of its geographic range”, J Med Entomol, 50(3): pp467-78.

32.Enny S. Paixão, MSc,Florisneide Barreto, Maria da Glória Teixeira,Maria da Conceição N. Costa, andLaura C. Rodrigues (2016),“History, Epidemiology, and Clinical Manifestations of Zika: A Systematic Review”, Am J Public Health, 106(4): pp. 606–612.

33.Figueiredo, M. L., & Figueiredo, L. T. (2014), “Emerging alphaviruses in the Americas: Chikungunya and mayaro”, Revista Da Sociedade Brasileira De Medicina Tropical, 47(6), pp. 677-683. doi:10.1590/0037-8682-0246-2014.

34.García-Rejón JE,Loroño-Pino MA,Farfán-Ale JA,Flores-Flores LF,López-Uribe MP,Najera-Vazquez Mdel R,Nuñez-Ayala G,Beaty BJ,Eisen L. (2011), “Mosquito infestation and dengue virus infection in Aedes aegypti females in schools in Merida, Mexico”. Am J Trop Med Hyg,84(3):489-96. doi: 10.4269/ajtmh.2011.10-0654.

35.Huong Vu Duc and Ngoc Nguyen Thi Bach (1999), “Susceptibility of Aedes aegypti to insecticides in South Viet nam”, Dengue Bulletin – Vol 23, pp.85-88.

36.Komalamisra N,Srisawat R,Phanbhuwong T,Oatwaree S. (2011), “Insecticide susceptibility of the dengue vector, Aedes aegypti (L.) in Metropolitan Bangkok”, Southeast Asian J Trop Med Public Health, 42(4): pp. 814-23.

37.Kawada Hitoshi, Yukiko Higa, Yen T. Nguyen, Son H. Tran, Hoa T. Nguyen and Masahiro Takagi (2009), Nationwide Investigation of the Pyrethroid Susceptibility of Mosquito Larvae collected from used tires in Vietnam", PLoS Med, 9(3), pp. 391-397.

38.Kow CY,Koon LL,Yin P.F. (2001),Detection of dengue viruses in field caught male Aedes aegypti and Aedes albopictus (Diptera: Culicidae) in Singapore by type-specific PCR”, J Med Entomol, 38(4): pp.475-479.

39.Kumari R,Kumar K,Chauhan LS. (2011), “First dengue virus detection in Aedes albopictus from Delhi, India: its breeding ecology and role in dengue transmission”, Trop Med Int Health, 16(8):949-954. doi: 10.1111/j.1365-3156.2011.02789.x.

40.Laurent Guillaumot (2012), “Distribution ofAedes albopictus(Diptera, Culicidae) in southwestern Pacific countries, with a first report from the Kingdom of Tonga”, Parasites & Vectors, 5:247.

41.Leopoldo M. Rueda (2004), Pictorial keys for the identification of mosquitoes (Diptera: Culicidae) associated with Dengue Virus Transmission”, Zootaxa 589: 1-60.

42.Louis Lambrechts mail, Thomas W. Scott and Duane J. Gubler (2010), “Consequences of the Expanding Global Distribution of Aedes albopictus for Dengue Virus Transmission”, PLoS Neglected Tropical Diseases, 4(5).

43.Leonardo M. Díaz-Nieto,Arnaldo Maciá,M. Alejandra Perotti,andCorina M. Berón (2013), “Geographical Limits of the Southeastern Distribution of Aedes aegypti (Diptera, Culicidae) in Argentina”, PLoS Negl Trop Dis, 7(1): e1963. 10.1371/journal.pntd.0001963.

44.Moritz UGKraemer., et al. (2015), “The global distribution of the arbovirus vectors Aedes aegypti and Ae. albopictus”, Elife.doi: 10.7554/eLife.08347.

45.Olger Calderón-Arguedas (2015), “Dengue viruses inAedes albopictusSkuse from a pineapple plantation in Costa Rica”, Journal of vector ecology, 40 (1), pp. 184–186.

46.Roth A, Mercier A, Lepers C, Hoy D et al., (2014), “Concurrent outbreaks of dengue, chikungunya and Zika virus infections: An unprecedented epidemic wave of mosquito-borne viruses in the Pacific 2012-2014”, Eurosurveillance, 19 (41).

47.Samyra Giarola Cecílio (2015), “Dengue virus detection inAedes aegyptilarvae from southeastern Brazil”, Journal of vector ecology, 40 (1), pp. 71–74.

48.Singh RK, Haq S, Gaurav Kumar, Mittal PK and Dhiman RC (2013), “Insecticide-susceptibility status of dengue vectors Aedes aegypti and Aedes albopictus in India: a review”, Dengue Bulletin37(1): pp.177-191.

49.Theeraphap Chareonviriyaphap,Michael J Bangs (2013). Review of insecticide resistance and behavioral avoidance of vectors of human diseases in Thailand. Parasit Vectors, 6 (280). doi: 10.1186/1756-3305-6-280.

50.Thilini C. Weeraratne, M. Devika B. Perera, (2013). Prevalence and breeding habitats of the dengue vectors Aedes aegypti and Aedes albopictus (Diptera: Culicidae) in the semi-urban areas of two different climatic zones in Sri Lanka. International Journal of Tropical Insect Science, Cambridge University, pp. 1-11.

51.Warabhorn Preechaporn, Mullica Jaroensutasinee_and Krisanadej Jaroensutasinee (2006). The Larval Ecology of Aedes aegypti and Ae. albopictus in Three Topographical Areas of Southern Thailand. Dengue Bulletin, 30, pp. 204-213.

52.WHO (2011), Comprehensive Guidelines for Prevention and Control of Dengue and Dengue Haemorrhagic Fever, WHO Regional Office for South-East Asia, New Delhi.

53.WHO (2016), Dengue and severe dengue. http://www.who.int/mediacentre/factsheets

 

Ngày 06/12/2017
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang  

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên ngành của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế về các bệnh ký sinh trùng và các bệnh do véc tơ truyền, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng mới nổi như sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ, giun lươn, giun đũa chó và các bệnh thông thường khác; khám bảo hiểm y tế và xét nghiệm chẩn đoán bệnh bằng các phương tiện kỹ thuật cao như sinh hóa, huyết học, miễn dịch (ELISA), sinh học phân tử và chẩn đoán hình ảnh bằng nội soi tiêu hóa, siêu âm màu…

   Trung tâm Dịch vụ khoa học kỹ thuật của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế chuyên sản xuất mua bán hóa chất, vật tư, chế phẩm diệt côn trùng; dịch vụ diệt côn trùng gây bệnh, côn trùng gia dụng như muỗi, ruồi, gián, kiến…; dịch vụ phòng diệt mối mọt và xét nghiệm phát hiện tôm bằng các kỹ thuật hiện đại.


Tin đáng chú ý
Thông điệp về Ngày Sốt rét thế giới 25-4 (World Malaria Day)
Ngày Sốt rét thế giới-Ngày Chăm sóc sức khỏe toàn cầu (World malaria day – A day to make the world care)
 KẾT QUẢ TUYỂN SINH
 CHUYÊN ĐỀ
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: Khu vực 8-Phường Nhơn Phú-Tp. Quy Nhơn- Tỉnh Bình Định.
Tel: (84) 056 3547492 - Fax: (84) 056 3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng ban biên tập: TTND.PGS.TS. Nguyễn Văn Chương - Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích