Virus sốt do ve Colorado (Colorado Tick Fever Virus-CTFV)
Virus gây sốt do ve Colorado (CTFV) là một loại virus ít được chú ý, thuộc họ Spinareoviridae và giống Coltivirus. Virus lây truyền sang người thông qua ve gỗ Rocky Mountain trưởng thành, Dermacentor andersoni hút máu. Cả ve trưởng thành và giai đoạn thanh trùng đều mang mầm bệnh dai dẳng, tạo điều kiện cho virus tồn tại qua mùa đông. Do loài D. andersoni có phạm vi vật chủ đa dạng, nhiều loài động vật có xương sống khác nhau đã được xác định là vật chủ chứa mầm bệnh (ổ chứa) thích hợp cho CTFV. Sóc đất vàng (Callospermophilus lateralis) được xem là ổ chứa tự nhiên quan trọng nhất của virus CTFV, trong khi các ổ chứa khác gồm sóc chuột, chuột nhắt, chuột cống và thỏ rừng. CTFV phân bố tại miền Tây của Mỹ và miền Tây Nam Canada, tương ứng với phạm vi phân bố của loài ve là vector truyền bệnh.
Các ca nhiễm CTFV ở người thường xuất hiện vào giữa mùa hè, khi mọi người làm việc hoặc tham gia các hoạt động giải trí tại những khu vực có ve sinh sống. Bệnh ở người thường biểu hiện dưới dạng sốt và có thể tự khỏi. Việc chẩn đoán sớm chủ yếu được thực hiện bằng phương pháp RT-PCR hoặc thông qua việc phát hiện nồng độ kháng thể IgG tăng gấp 4 lần trong xét nghiệm huyết thanh.
Virus Powassan
POWV là một loại Arbovirus lây truyền qua ve thuộc họ Flaviviridae, giống Orthoflavivirus. Hai kiểu gen riêng biệt của virus này là dòng POWV-1 và POWV-2. Hầu hết các ca bệnh POWV ở người được ghi nhận tại vùng Hồ Lớn (Great Lakes) và vùng Đông Bắc của Mỹ cũng như miền Đông Canada. Tại Bắc Mỹ, virus này đã được phát hiện ở 4 loài ve thuộc giống Ixodes và loài ve Dermacentor andersoni. Hai chu trình lưu hành tự nhiên của POWV-1 bao gồm: Ve Ixodes cookei với các loài sóc đất hoặc các loài thuộc họ Chồn và ve Ixodes marxi với các loài sóc. POWV-2 duy trì trong một chu trình lưu hành tự nhiên, chủ yếu giữa ve Ixodes scapularis và chuột chân trắng (Peromyscus leucopus). Không giống với một số mầm bệnh lây truyền qua ve khác như Borrelia và Babesia (vốn đòi hỏi ve phải bám vào vật chủ trong 48 và 24 giờ mới có thể lây truyền), sự lan truyền virus POWV có thể xảy ra chỉ từ 15 đến 50 phút sau khi ve bắt đầu hút máu.
Ở người, POWV gây ra bệnh viêm não, tuy không phổ biến (vì ca bệnh chỉ xuất hiện rải rác) nhưng rất nghiêm trọng, tuy nhiên, mức độ nặng nhẹ của bệnh có thể rất khác nhau. Tỷ lệ tử vong ở người lớn khoảng 20% và ở trẻ em khoảng 7%. Các biến chứng thần kinh lâu dài thường gặp ở người lớn. Xét nghiệm huyết thanh dịch não tủy (CSF) vẫn là tiêu chuẩn vàng để xác định bệnh viêm não do POWV.
Virus gây bệnh rừng Kyasanur (-Kyasanur forest disease virus-KFDV)
KFDV là một loại arbovirus lây truyền qua ve, thuộc họ Flaviviridae và giống Orthoflavivirus. Kể từ khi được phát hiện lần đầu vào năm 1957 ở các cá thể khỉ tại rừng Kyasanur thuộc bang Karnataka, Ấn Độ, mỗi năm ghi nhận từ 400 đến 500 ca nhiễm ở người. Haemaphysalis spinigera là vector chính truyền virus KFDV. Mặc dù virus đã được phân lập từ các loài gặm nhấm, chim sống trên mặt đất, nhím, gia súc và dơi, nhưng dường như chỉ các loài linh trưởng mới phát triển thành bệnh. Con người nhiễm bệnh do bị ve mang mầm bệnh đốt hoặc do tiếp xúc với các loài động vật có vú và chim bị nhiễm bệnh. Ở người, KFDV gây bệnh sốt xuất huyết với tỷ lệ tử vong dao động từ 3-5%. Một số bệnh nhân (10-20%) trải qua giai đoạn bệnh thứ hai với tình trạng sốt tái phát kèm viêm màng não.
Chẩn đoán thường được xác định bằng phương pháp RT-PCR trên mẫu máu. Người bệnh thường có nồng độ virus trong máu cao (khoảng 10⁶ pfu/mL) vào khoảng ngày thứ 3 sau khi khởi phát triệu chứng và tình trạng này có thể kéo dài tới hai tuần. Xét nghiệm ELISA có thể được sử dụng để phát hiện kháng thể IgM và IgG. Hiện đã có vaccine KFDV bất hoạt bằng formalin, được sản xuất từ tế bào sợi phôi gà.
Virus sốt xuất huyết Omsk (Omsk hemorrhagic fever virus-OHFV)
OHFV là một loại Arbovirus có quan hệ gần với TBEV (thuộc họ Flaviviridae, giống Orthoflavivirus). Người bị nhiễm thông qua ve đốt hoặc khi tiếp xúc với máu, phân hay nước tiểu của các loài gặm nhấm nhiễm mầm bệnh, chủ yếu là chuột xạ hương (Ondatra zibethicus). Bệnh lưu hành tại bốn khu vực thuộc Tây Siberia, Nga (Kurgan, Tyumen, Omsk và Novosibirsk). Các loài ve thuộc họ Ixodidae như Dermacentor reticulatus và Dermacentor marginatus là vector chính của OHFV tại các khu rừng và vùng thảo nguyên ở Siberia. Gần đây, RNA của OHFV đã được phát hiện trong dịch não tủy của hai bệnh nhân tại Almaty, Kazakhstan. Ngoài ra, virus này cũng được tìm thấy ở ve tại vùng Akmola, Kazakhstan.
Hình 4. Các dạng phát ban của bệnh Lyme (Nguồn: US.CDC, 2020)
Bệnh chủ yếu xảy ra ở những người bẫy chuột xạ hương (chiếm 60% số ca). Thợ săn có nguy cơ nhiễm bệnh khi lột da các con vật bị nhiễm virus. Sốt xuất huyết Omsk (OHF) thường là bệnh cấp tính tự khỏi, mặc dù một tỷ lệ nhỏ trường hợp có thể tiến triển thành thể bệnh xuất huyết. Tỷ lệ tử vong do OHF ở mức thấp (0,5-3%). Việc chẩn đoán OHF dựa vào kỹ thuật RT-PCR, xét nghiệm phát hiện kháng nguyên OHFV-NS1 và các xét nghiệm huyết thanh. Các dữ liệu cho thấy vắc-xin phòng bệnh viêm não do ve (TBE) mang lại hiệu quả bảo vệ cao chống lại bệnh OHF.
Virus Louping ill (LIV)
Virus Louping ill (LIV) là một loại Arbovirus lây truyền qua ve, có quan hệ họ hàng gần với virus viêm não do ve (TBEV) và thuộc họ Flaviviridae, giống Orthoflavivirus. Mặc dù trước đây LIV chỉ được ghi nhận tại quần đảo Anh, nhưng gần đây virus này đã được phát hiện ở Na Uy và trên đảo Bornholm của Đan Mạch (thuộc Biển Baltic). Loài ve Ixodes ricinus được xem là vector duy nhất truyền LIV, trong khi cừu, thỏ núi và gà gô đỏ là các vật chủ quan trọng nhất. Tình trạng nhiễm LIV ở người rất hiếm gặp và thường xảy ra sau khi bị ve đốt hoặc những người tiếp xúc với các mô cừu nhiễm bệnh.
Các nhóm nguy cơ bao gồm những người có tiếp xúc với cừu hoặc các loài động vật có nguy cơ mang mầm bệnh khác, chẳng hạn như công nhân lò mổ, người bán thịt và bác sĩ thú y. Nhiễm LIV ở người thường không có triệu chứng hoặc biểu hiện giống bệnh cúm, trong khi viêm màng não thể nhẹ là trường hợp hiếm gặp.
Virus sốt xuất huyết Alkhumra (Alkhumra Hemorrhagic Fever Virus-AHFV)
AHFV là một loại virus lây truyền qua ve, thuộc họ Flaviviridae và giống Orthoflavivirus. Virus này được phân lập lần đầu tiên vào năm 1995 từ một nam giới 32 tuổi làm nghề giết mổ tại quận Alkhumra (Jeddah, Ả Rập Xê Út). Người này đã tử vong do sốt xuất huyết. Kể từ đó, các ca nhiễm AHFV đã được ghi nhận ở cư dân Ả Rập Xê Út cũng như khách du lịch tại Ai Cập và Djibouti. Đặc điểm dịch tễ học của AHFV vẫn chưa được hiểu rõ hoàn toàn. Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy các ca nhiễm AHFV có liên quan đến việc tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với máu hoặc nội tạng nhiễm bệnh của gia súc bị giết mổ và việc tiêu thụ sữa sống bị nhiễm virus.
Tài liệu y văn cũng ghi nhận khả năng lây truyền qua vết cắn của ve. Ve cứng Hyalomma dromedarii và ve mềm Ornithodoros savignyi là những vector tiềm năng truyền virus AHFV. Các triệu chứng lâm sàng ở người rất đa dạng, từ thể không triệu chứng hoặc nhẹ đến thể nặng và diễn tiến tử vong nhanh chóng. Sốt cấp tính giống cúm, viêm gan và các biểu hiện xuất huyết là những đặc điểm lâm sàng chính của nhiễm AHFV.
Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân nhập viện có thể lên đến 30%. Chẩn đoán có thể được xác định bằng phương pháp RT-PCR hoặc xét nghiệm huyết thanh học.
Virus liên quan đến Kemerovo
Nhóm huyết thanh Kemerovo (họ Reoviridae, giống Orbivirus) gồm hơn 50 loại virus lây truyền qua ve, trong đó chỉ có virus Kemerovo (KEMV), virus Lipovnik (LIPV) và virus Tribeč (TRBV) có liên quan đến các bệnh ở người. Bệnh do virus KEMV gây ra được mô tả lần đầu tiên vào năm 1962 tại vùng rừng Taiga thuộc tỉnh Kemerovo, Tây Siberia; tại đây, virus đã được phân lập từ ve và dịch não tủy của các bệnh nhân bị viêm màng não và viêm nào-màng não sau khi bị ve đốt.
Trong chu trình tự nhiên, các loài gặm nhấm đóng vai trò là vật chủ chứa mầm bệnh (ổ chứa), còn ve I. persulcatus là vector truyền virus KEMV. Ở người, KEMV gây bệnh sốt và đôi khi gây viêm màng não.. Virus LIPV được phân lập từ ve I. ricinus thu thập vào năm 1963 tại làng Lipovnik, Slovakia. Tại Séc, LIPV có liên quan đến các thể bệnh viêm não- màng não và viêm đa rễ thần kinh. Virus TRBV được phân lập vào năm 1963 từ ve I. ricinus và máu của các loài gặm nhấm nhỏ tại vùng núi Tribeč, Slovakia.
TRBV đã được phát hiện ở khu vực trải dài từ Siberia đến Trung Âu thông qua việc phân lập virus từ ve và phát hiện kháng thể ở động vật. Ở người, kháng thể đặc hiệu TRBV đã được tìm thấy ở những bệnh nhân mắc bệnh kèm sốt và viêm màng não.
Bhanja bandavirus
BHAV là một loại Bunyavirus lây truyền qua ve bị lãng quên thuộc họ Phenuiviridae, giống Bandavirus. Virus BHAV được phân lập vào năm 1954 từ loài ve Haemaphysalis intermedia thu thập trên dê tại Bhanjanagar, Ấn Độ, trong khi ca nhiễm BHAV đầu tiên ở người được ghi nhận vào năm 1974. BHAV phân bố rộng rãi tại Trung Âu, khu vực Địa Trung Hải, Trung Đông đến Ấn Độ và vùng cận Sahara châu Phi.
Tuy nhiên, các ca nhiễm bệnh lâm sàng ở người rất hiếm gặp. Các vật chủ tự nhiên của BHAV bao gồm cừu, dê, thỏ rừng, nhím và sóc, trong khi ve thuộc giống Haemaphysalis là vector chính tại Châu Âu. Chỉ một số ít ca bệnh xâm lấn hệ thần kinh do BHAV gây ra ở người đã được ghi nhận. Các phương pháp RT-PCR và xét nghiệm huyết thanh được sử dụng để chẩn đoán nhiễm BHAV.
Hình 5. Bảng định loại các loại ve tìm thấy ở Illinois (Nguồn: https://www.illymeassociation.org/blog/tick-borne-diseases-amp-the-workplace-how-to-decrease-your-exposure)
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang và TS. Đỗ Văn Nguyên
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn