Home TRANG CHỦ Thứ 4, ngày 26/06/2019
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Web Sites & Commerce Tin tức - Sự kiện
Web Sites & Commerce Hoạt động hợp tác
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Web Sites & Commerce Chuyên đề
Finance & Retail Tư vấn sức khỏe
Hỏi-Đáp
Y học thường thức
Kiến thức phổ thông
Web Sites & Commerce Tạp chí-Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động Đảng & Đoàn thể
Web Sites & Commerce Bạn trẻ
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Trung tâm dịch vụ
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
3 7 4 5 0 7 1 2
Số người đang truy cập
1 2 9
 Tư vấn sức khỏe Hỏi-Đáp
Làm thế nào biết được các triệu chứng của bệnh thủy đậu, điều trị và cách phòng ngừa?

Lê Thị Nguyệt H…., 46 tuổi, Nam Trà My, Quảng Namhỏi: Xin bác sỹ cho biết làm thế nào biết được các triệu chứng của bệnh thủy đậu, điều trị và cách phòng ngừa? Vaccine tiêm có hiệu quả tuyệt đối hay không? Chân thành cảm ơn quý bác sỹ ở Viện Sốt rét-Ký sinh trùng Quy Nhơn-Bình Định!

Trả lời: Liên quan đến câu hỏi của bạn, chúng tôi xin phúc đáp như sau: Bệnh thủy đậu là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do loại virus có tên khoa học vius varicella zoster gây ra và thường bùng phát thành dịch vào mùa xuân-hè. Virus gây bệnh thủy đậu lây chủ yếu qua đường hô hấp hoặc lây qua các chất tiết có màm bệnh qua không khí. Người lành dễ bị nhiễm bệnh nếu hít phải những giọt nước bọt bắn ra khi bệnh nhân thủy đậu ho, hắt hơi hoặc nhảy mũi. Ngoài ra, khi tiếp xúc với bệnh nhân thủy đậu, bệnh có thể lây từ bóng nước khi bị vỡ ra, lây từ vùng da bị tổn thương hoặc lở loét từ người mắc bệnh. Đặc biệt, phụ nữ mang thai (PNMT) không may bị nhiễm bệnh sẽ rất dễ lây cho thai nhi thông qua nhau thai.

Một số cách lây nhiễm khác có thể xảy ra nếu không cẩn thận khi tiếp xúc với bệnh nhân thủy đậu như: bệnh có thể lây từ bóng nước khi bị vỡ ra, lây từ vùng da bị tổn thương hoặc lở loét từ người mắc bệnh. Đặc biệt, PNMT không may bị nhiễm bệnh sẽ rất dễ lây cho thai nhi thông qua nhau thai. Varicella-zoster virus gây bệnh thủy đậu và Herpes zoster. Thủy đậu thường sau phơi nhiễm ban đầu với virus và ca bệnh điển hình thường biểu hiện nhẹ, tự giới hạn, nhưng có thê bệnh lan rộng trên các cơ địa trẻ em suy giảm miễn dịch. Sự tái hoạt của các virus ngủ dẫn đến ban đỏ ở da đau và thường liên quan đến đau thần kinh (postherpetic neuralgia).


Hình 1

Triệu chứng bệnh

Thủy đậu khi khởi phát, người bệnh có thể có biểu hiện sốt, đau đầu, đau cơ, một số trường hợp có thể không có triệu chứng báo trước, nhất là trẻ em. Khoảng 10 - 14 ngày sau khi xâm nhập vào cơ thể, người bệnh bắt đầu biểu hiện triệu chứng nhiễm thủy đậu. Trẻ nhỏ thường sốt nhẹ, biếng ăn còn người lớn bị sốt cao, đau đầu, đau cơ, nôn ói. Sau đó cơ thể sẽ bắt đầu nổi mụn nước ở vùng đầu mặt, chi và thân. Mụn nước có đường kính vài milimet.

Sau khi nốt đậu mọc thì thường người bệnh giảm sốt và tổn thương bóng nước khô dần rồi tự bong vẩy vài ngày sau đó nhưng để lại sẹo mờ trên da sau vài tuần mới hết hẳn. Thông thường bệnh diễn biến kéo dài khoảng 2 tuần. Nếu bị nặng, mụn nước sẽ to hơn hay khi nhiễm thêm vi trùng mụn nước sẽ có màu đục do chứa mủ. Sau 1-2 ngày mới xuất hiện nốt đậu. Nốt đậu nổi nhiều là dấu hiệu cảnh báo bệnh có thể diễn tiến nặng.

Khi mắc, cơ thể người bệnh sẽ xuất hiện những thương tổn trên da thường gọi là “nốt rạ”. Đây là những nốt tròn nhỏ xuất hiện nhanh trong vòng 12-24 giờ, các nốt này sẽ tiến triển thành những mụn nước, bóng nước. Nốt rạ có thể mọc khắp toàn thân hay mọc rải rác trên cơ thể, số lượng trung bình khoảng 100-500 nốt trên cơ thể. Bình thường, những mụn nước này khô đi, trở thành vảy và tự khỏi hoàn toàn trong 4-5 ngày. Ở trẻ em, thủy đậu thường kéo dài khoảng 5-10 ngày dẫn đến trẻ ốm phải nghỉ học hoặc nghỉ đến nơi giữ trẻ, hội chứng nhiễm trùng có thể bội nhiễm bởi các vi khuẩn.


Hình 2

Biến chứng do thủy đậu

Thủy đậu là bệnh lành tính, nhưng bệnh cũng có thể gây biến chứng nguy hiểm nếu không chăm sóc cân thận và tùy thuộc vào từng cơ địa, thể trạng bệnh nhân như viêm màng não, xuất huyết, nhiễm trùng huyết, nhiễm trùng nốt rạ, viêm mô tế bào, viêm gan do virus thủy đậu. Một số trường hợp có thể gây tử vong nếu người bệnh không được điều trị kịp thời.

-Nhiễm trùng tại các nốt đậu: Khi nốt đậu bị vỡ hoặc trầy xước, có thể gây viêm tấy, nhiễm khuẩn da gây viêm mủ da, chốc lở thậm chí gây viêm cầu thận cấp... Nếu không chữa trị kịp thời, tổn thương sẽ ăn sâu, lan rộng, để lại nốt sẹo rỗ gây mất thẩm mỹ, nặng hơn còn dẫn đến viêm mô tế bào, nhiễm trùng máu.

-Viêm phổi: Biến chứng thường gặp ở người lớn hơn là trẻ em và thường xuất hiện vào ngày thứ 3-5 của bệnh. Biểu hiện sốt cao, thở nhanh, khó thở, tím tái, đau ngực, ho ra máu, đây là biến chứng rất nguy hiểm, bệnh nhân có thể tử vong.

-Viêm não: Bệnh thủy đậu có thể gây biến chứng viêm màng não vô khuẩn đến viêm não, thường gặp ở người lớn. Viêm não do thủy đậu cũng xảy ra, không hiếm sau thủy đậu trẻ bỗng trở nên vật vã, kích thích, nhiều khi kèm theo co giật, hôn mê. Những trường hợp này có thể mang di chứng thần kinh lâu dài: bị điếc, chậm phát triển, động kinh. Gặp biến chứng này, tỉ lệ tử vong chiếm 5-20%. Ngay cả khi được cứu sống vẫn có thể để lại di chứng nặng nề hoặc phải sống đời thực vật.

-Biến chứng với phụ nữ mang thai: Nếu mẹ mắc thủy đậu từ 5 ngày trước đến 2 ngày sau khi sinh, trẻ sinh ra dễ mắc bệnh thủy đậu chu sinh và có tỷ lệ tử vong cao (khoảng 30%). Nếu mẹ mắc thủy đậu trước sinh trên 1 tuần diễn biến lành tính, khi sinh trẻ có kháng thể nên không nguy hiểm lắm. Mẹ mắc bệnh thủy đậu khi mang thai dưới 20 tuần sinh con ra sẽ có một tỉ lệ nhỏ (khoảng 2%) bị hội chứng thủy đậu bẩm sinh với các biểu hiện: sẹo da, nhẹ cân, các bệnh về mắt (đục thủy tinh thể, tổn thương võng mạc...), tay chân ngắn, đầu bé, chậm phát triển tâm thần...


Hình 3

Điều trị bệnh thủy đậu

Hiện chưa có thuốc đặc trị bệnh mà cách điều trị bệnh thủy đậu tùy thuộc vào sự phát hiện bệnh sớm trong 24 giờ đầu. Cần cho người bệnh đi khám bệnh ngay. Căn cứ vào tình trạng bệnh, bác sĩ sẽ cho điều trị nội trú hoặc điều trị tại nhà. Lựa chọn điều trị dựa trên các yếu tố sau: tuổi bệnh nhân, tình trạng miễn dịch bệnh nhân, thời gian có triệu chứng và biểu hiện lâm sàng.

Thuốc chống virus làm giảm thời gian tồn tại triệu chứng và các triệu chứng đau thần kinh sau nhiễm virus, đặc biệt khi khởi bệnh trong vòng hai tuần kể từ khi phát ban. Thuốc acyclovir đường uống có thể được kê đơn trên một số ca khỏe mạnh có triệu chứng điển hình. So với thuốc acyclovir đường uống, các thuốc khác như valacyclovir, penciclovir, famciclovir có thể làm giảm thời gian đau của bệnh nhân.

Varicella zoster immune globulin (VariZIG) được chỉ định trên các đối tượng có nguy cơ cao trong vòng 10 ngày (lý tửơng nhất trong vòng 4 ngày) khi phơi nhiễm bệnh thủy đậu. Các nhóm nguy cơ gồm:

-Trẻ em và người lớn suy giảm miễn dịch;

-Trẻ sơ sinh của các bà mẹ bị varicella trong thời gian ngắn trước hoặc sau sinh;

-Trẻ sơ sinh;

-Trẻ em nhỏ hơn 1 tuổi;

-Người lớn không có miễn dịch;

-Phụ nữ mang thai.


Hình 4

Chăm sóc người bệnh bị thủy đậu

-Vì thủy đậu là một bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường hô hấp và tiếp xúc trực tiếp với dịch trong nốt phỏng/ nốt ra nên khi trẻ bị thủy đậu, việc đầu tiên là các bậc cha mẹ nên cách ly trẻ tại nhà (không cho đến trường hoặc nhà trẻ) cho tới khi khỏi hẳn;

-Bổ sung thêm vitamin C, vệ sinh mũi họng hàng ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý 0,9%, nhỏ mũi 2 lần/ngày cho trẻ;

-Nên mặc quần áo rộng, nhẹ, mỏng; quần áo vải mềm, thấm hút mồ hôi và đặc biệt chú ý tới việc đảm bảo vệ sinh da cho trẻ để tránh xảy ra biến chứng;

-Giữ bàn tay cho trẻ thật sạch. Thay quần áo và tắm rửa hàng ngày bằng nước ấm sạch;

-Tắm rửa bằng các dung dịch sát khuẩn, tránh cọ xát làm các bóng nước bị vỡ vì dễ gây bội nhiễm và có thể tạo thành sẹo tồn tại lâu dài;

-Khi cần tiếp xúc người bệnh thủy đậu thì phải đeo khẩu trang;

-Sau khi tiếp xúc phải rửa tay ngay bằng xà phòng;

-Đặc biệt những PNMT cần tuyệt đối tránh tiếp xúc với người bệnh;

-Nằm trong phòng riêng, thoáng khí, có ánh sáng mặt trời, thời gian cách ly là khoảng 7-10 ngày từ lúc bắt đầu phát hiện bệnh (phát nốt rạ) cho đến khi các nốt phỏng nước khô vảy hoàn toàn;

-Sử dụng các vật dụng sinh hoạt cá nhân riêng: khăn mặt, cốc, chén, bát, đũa;

-Nên cắt móng tay cho trẻ, giữ móng tay trẻ sạch hoặc có thể dùng bao tay vải để bọc tay trẻ nhằm tránh biến chứng nhiễm trùng da thứ phát do trẻ gãi gây trầy xước các nốt phỏng nước;

-Ăn các thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu, uống nhiều nước, nhất là nước hoa quả;

-Dùng dung dịch xanh milian hay xanh methylene để chấm lên các nốt phỏng nước đã vỡ. Không bôi các dạng mỡ tetracycline, mỡ peniciline hay thuốc đỏ;

-Trường hợp sốt cao, có thể dùng các thuốc hạ sốt giảm đau thông thường nhưng phải theo hướng dẫn của thầy thuốc;

-Nếu bệnh nhân cảm thấy khó chịu, mệt mỏi, co giật, hôn mê hoặc có xuất huyết trên nốt rạ nên đưa đến ngay các cơ sở y tế để được theo dõi và điều trị;

-Trong vòng 24 giờ đầu khi xuất hiện nốt đậu dùng chống virus loại acyclovir để giúp rút ngắn thời gian và mức độ nghiêm trọng của bệnh. Liều lượng phụ thuộc lứa tuổi hoặc cân nặng.Trường hợp nặng hơn hoặc có biến chứng như viêm màng não, trẻ suy giảm miễn dịch, có thể dùng acyclovir đường tĩnh mạch;

-Có thể dùng kháng sinh trong trường hợp nốt rạ bị nhiễm trùng (có mủ, tấy đỏ vùng da);

-Dùng thuốc chống ngứa, nếu bệnh nhân ngứa loại kháng histamine (loratidin hay cetirizine);

-Tuân thủ chỉ định dùng thuốc của bác sĩ. Không tự ý dùng thuốc hoặc nghe lời mách bảo mà dùng thuốc sai lầm, dẫn đến thủy đậu bội nhiễm nặng;

-Giai đoạn vừa mới lành bệnh, cần phải tuyệt đối chống nắng và tránh cào gãi gây trầy xước. Bổ sung đầy đủ các vitamin và yếu tố vi lượng cho da thông qua chế độ ăn hoặc thuốc uống. Giữ vệ sinh cơ thể sạch sẽ và nghỉ ngơi nhiều.


Hình 5

Phòng bệnh thủy đậu

Mặc dù bệnh có thể lây lan nhanh chóng trong cộng đồng, nhưng hiện tại đã có biện pháp chủ động để phòng ngừa bệnh thủy đậu, đó là chủng ngừa bằng vaccine:

-Đối với trẻ từ 12 tháng tuổi tới 12 tuổi, tiêm 1 liều và liều thứ 2 nên tiêm thêm cách liều thứ nhất 6 tuần trở đi hoặc trong khoảng 4-6 tuổi để gia tăng hiệu quả phòng bệnh và giảm việc mắc bệnh thuỷ đậu trở lại mặc dù trước đó đã tiêm phòng;

-Đối với trẻ trên 13 tuổi, thanh niên và người lớn, tiêm 2 liều cách nhau tốt nhất là sau 6 tuần. Không tiêm hai mũi tiêm cách nhau 4 tuần;

-Không tiêm vaccine thuỷ đậu cho phụ nữ đang mang thai. Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15-49 tuổi) nên tiêm vaccine thủy đậu trước khi mang thai 3 tháng;

-Hiệu quả bảo vệ của vaccine thủy đậu có tác dụng lâu bền.

-Nếu đã được chủng ngừa vaccine thủy đậu thì đại đa số từ 80-90% có khả năng phòng bệnh tuyệt đối. Tuy nhiên, cũng còn khoảng 10% còn lại là có thể bị thủy đậu sau khi tiêm chủng, nhưng các trường hợp này cũng chỉ bị nhẹ, với rất ít nốt đậu, khoảng dưới 50 nốt, và thường là không bị biến chứng;

-Thời gian ủ bệnh của thuỷ đậu là từ 1-2 tuần sau khi tiếp xúc với bệnh nhân, do đó, nếu một người chưa được tiêm phòng vaccine thuỷ đậu mà có tiếp xúc với bệnh nhân thuỷ đậu, trong vòng 3 ngày ta có thể tiêm ngừa thì vaccine có thể phát huy tác dụng bảo vệ ngay sau đó giúp phòng ngừa thủy đậu.

Đau và dị cảm da là các triệu chứng điển hình đầu tiên của nhiễm trùng virus VZV. Đến khi các đặc điểm ban đỏ trên da vỡ ra, thì chẩn đoán khó hơn. Các triệu chứng đau thường gặp khoảng 41% số bệnh nhân, ngứa trên 27% số bệnh nhân và 12% số ca có biểu hiện dị cảm trên da thương tổn (http://emedicine.medscape.com). Trong giai đoạn cấp, bệnh nhân có thể đau (90%), tình trạng không tự lo cho thân thể được và trầm cảm (20%) và hội chứng giống cúm (12%).

Hy vọng với các thông tin trên, bạn có thể hiểu rõ cách phát hiện và phòng bệnh thủy đậu cho bạn và gia đình.

 

Ngày 17/08/2017
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang  

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên khoa của Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn về các bệnh ký sinh trùng và các bệnh do véc tơ truyền, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng mới nổi như sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ, giun lươn, giun đũa chó và các bệnh thông thường khác; khám và xét nghiệm chẩn đoán bệnh bằng các phương tiện kỹ thuật cao như sinh hóa, huyết học, miễn dịch (ELISA), sinh học phân tử và chẩn đoán hình ảnh bằng nội soi tiêu hóa, siêu âm màu…

   Trung tâm Dịch vụ khoa học kỹ thuật của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế chuyên sản xuất mua bán hóa chất, vật tư, chế phẩm diệt côn trùng; dịch vụ diệt côn trùng gây bệnh, côn trùng gia dụng như muỗi, ruồi, gián, kiến…; dịch vụ phòng diệt mối mọt và xét nghiệm phát hiện tôm bằng các kỹ thuật hiện đại.


 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 CHUYÊN ĐỀ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: Khu vực 8-Phường Nhơn Phú-Thành phố Quy Nhơn- Tỉnh Bình Định.
Tel: (84) 0256.3547492 - Fax: (84) 0256.3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng ban biên tập: TTND.PGS.TS. Nguyễn Văn Chương - Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích