Sốt rét là một bệnh nguy hiểm đến tính mạng do ký sinh trùng (KST) gây ra, lây truyền sang người qua vết đốt của muỗi Anopheles spp. cái bị nhiễm mầm bệnh. Bệnh này có thể phòng ngừa và chữa khỏi. Hiện nay, có ít nhất 5 loài KSTSR gây bệnh sốt rét ở người và 2 trong số đó là Plasmodium falciparum và Plasmodium vivax đã gây ra mối đe dọa lớn nhất. Năm 2024, gần một nửa dân số thế giới có nguy cơ mắc bệnh sốt rét. Trong khi khu vực Châu Phi, cận Sahara thì gánh chịu phần lớn gánh nặng sốt rét toàn cầu, các khu vực Đông Nam Á và Đông Địa Trung Hải, Tây Thái Bình Dương và Châu Mỹ cũng báo cáo số lượng ca mắc đáng kể.
Ước tính năm 2024 có khoảng 282 triệu trường hợp mắc sốt rét và 610.000 ca tử vong do sốt rét. Trong năm 2024, khu vực Châu Phi chiếm 94% số ca mắc bệnh và 95% số ca tử vong. Trẻ em dưới 5 tuổi là đối tượng có nguy cơ cao nhất gặp phải các biến chứng nghiêm trọng. Năm 2024, nhóm này chiếm gần 75% tổng số ca tử vong do sốt rét tại khu vực Châu Phi.
“Hợp tác” để tạo nên sức mạnh từ đơn phần
Bản đồ nguy cơ sốt rét đóng vai trò là "la bàn dịch tễ" thiết yếu. Nó giúp cơ quan y tế định vị chính xác các "điểm nóng" lây truyền dựa trên dữ liệu không gian, từ đó tối ưu hóa ngân sách phòng chống, phân bổ nguồn lực và kiểm soát triệt để mầm bệnh. Các giá trị cốt lõi của bản đồ nguy cơ sốt rét bao gồm:
- Cảnh báo sớm: Khoanh vùng các vùng có điều kiện sinh thái (nhiệt độ, thảm thực vật, mật độ muỗi) thuận lợi cho dịch bệnh, giúp dự báo nguy cơ bùng phát trước khi ca xuất hiện;
- Phân bổ nguồn lực hiệu quả: Hướng dẫn các đội phun hóa chất, cấp phát màn tẩm hóa chất, thuốc điều trị đến đúng trọng điểm, tránh lãng phí TTB-VTYT ở những vùng không nguy cơ;
- Quản lý dân di biến động: Xác định các tuyến đường và khu vực mà người dân (người đi rừng, ngủ rẫy, lao động di cư) thường xuyên di chuyển và có nguy cơ cao mang mầm bệnh.
- Định hướng chiến lược quốc gia: Hỗ trợ thiết lập các chính sách, mục tiêu loại trừ sốt rét bền vững dựa trên mô hình trực quan hóa dữ liệu.
Tại Việt Nam, công nghệ hệ thống thông tin địa lý (GIS) thường xuyên được các viện nghiên cứu y tế dự phòng ứng dụng để xây dựng các bản đồ dịch tễ học cấp địa phương nhằm theo dõi sát sao tình hình bệnh.
Kể từ khi ra mắt vào năm 2005, Nhóm Sức khỏe và Phát triển Không gian địa lý, Viện Nghiên cứu Trẻ em, Úc, thông qua Dự án Bản đồ Sốt rét đã đóng góp kiến trúc dữ liệu và phân tích trong hơn hai thập kỷ, tích hợp các nguồn dữ liệu đa dạng, áp dụng mô hình thống kê và không gian địa lý tiên tiến và duy trì kho dữ liệu sốt rét toàn cầu toàn diện. Nhờ vai trò là Trung tâm hợp tác của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) trong mô hình hóa bệnh tật không gian địa lý từ năm 2022, TCYTTG đã được hưởng lợi từ năng lực kỹ thuật mạnh mẽ của họ trong mô hình dịch tễ, phân tích độ bất định và quy trình làm việc có thể tái tạo, mang lại chuyên môn phân tích tiên tiến cho hợp tác.
TCYTTG đóng vai trò lãnh đạo về mặt chuẩn mực, điều phối toàn cầu và năng lực chuyển đổi chính sách, đảm bảo rằng công tác phân tích phù hợp với nhu cầu của các nước thành viên và được đưa trực tiếp vào các chiến lược, hướng dẫn và báo cáo toàn cầu. Vai trò của TCYTTG bao gồm thiết lập khuôn khổ chính sách, duy trì sự giám sát về phương pháp luận, tạo điều kiện tiếp cận dữ liệu chính thức của các quốc gia, triệu tập các quốc gia thành viên và các nhóm chuyên gia và tạo ra nền tảng để thông qua đó các kết quả phân tích có thể cung cấp thông tin cho các khuyến nghị toàn cầu. Nhờ sự kết hợp của những thế mạnh này, công trình nghiên cứu chung có tính khoa học vững chắc, phù hợp với chính sách và hữu ích về mặt vận hành cho việc ra quyết định.
Đóng góp cho ước tính gánh nặng toàn cầu
Trung tâm đã hỗ trợ công việc của TCYTTG trong hơn một thập kỷ, đóng góp các dữ liệu phân tích cốt lõi cho Báo cáo Sốt rét Thế giới hàng năm. Sự hợp tác này bao gồm việc lập báo cáo hàng năm về ước tính gánh nặng bệnh sốt rét cho các quốc gia có gánh nặng cao ở vùng cận Sahara Châu Phi và ước tính về phạm vi bao phủ của các biện pháp can thiệp, chẳng hạn như màn ngủ tẩm thuốc diệt côn trùng và các công cụ kiểm soát sốt rét quan trọng khác. Trung tâm cũng đã hỗ trợ trực tiếp các chương trình PCSR Quốc gia, đặc biệt thông qua phân tích không gian địa lý để phân tầng rủi ro theo sáng kiến "Gánh nặng cao, tác động cao" (HBHI). Nhờ những đóng góp này, TCYTTG đã theo dõi được tiến độ hướng tới các mục tiêu giảm sốt rét toàn cầu và điều chỉnh hoạt động giám sát phù hợp với các Mục tiêu Phát triển Bền vững và Chiến lược Kỹ thuật Toàn cầu về Sốt rét, đảm bảo rằng báo cáo và hướng dẫn toàn cầu dựa trên bằng chứng vững chắc và có liên quan đến chính sách.
Một ví dụ gần đây về nghiên cứu ứng dụng, các phụ nữ mang thai (PNMT) là những nhóm dễ bị tổn thương. Các biện pháp can thiệp phổ biến để chống lại bệnh sốt rét bao gồm sử dụng màn ngủ tẩm thuốc diệt côn trùng (ITNs), gia tăng kiến thức và nhận thức về bệnh sốt rét và uống thuốc chống sốt rét. Mặc dù có sẵn các biện pháp can thiệp này, Kenya vẫn ghi nhận hơn 10.000 trường hợp mắc bệnh mỗi năm. Nghiên cứu đã xem xét sự khác biệt về bệnh sốt rét và các biện pháp can thiệp trên khắp Kenya trong năm 2015 và 2020, họ đã phân tích chỉ số sốt rét Kenya (n=10.072) năm 2015 và (n= 11.549) năm 2020, cùng với dữ liệu khí hậu bằng phương pháp chồng lớp mờ để xem xét mối liên hệ giữa bệnh sốt rét và các biện pháp can thiệp với các điều kiện môi trường cần thiết cho bệnh sốt rét. Nghiên cứu cho thấy 79% BNSR phân bố ở vùng lưu hành sốt rét quanh hồ, 11% ở vùng lưu hành sốt rét ven biển, 7% ở vùng dịch tễ cao nguyên và 3% ở vùng theo mùa. Tỷ lệ sử dụng màn ngủ tẩm (ITNs) là 77% ở vùng lưu hành sốt rét ven hồ, 13% ở vùng lưu hành sốt rét ven biển, 9% ở vùng dịch tễ cao nguyên và 1% ở vùng theo mùa. Kiến thức về sốt rét đạt 82% ở vùng lưu hành sốt rét ven hồ, 9% ở vùng dịch tễ cao nguyên, 6% ở vùng lưu hành sốt rét ven biển và 3% ở vùng theo mùa. Thêm vào đó, dựa trên dữ liệu khí hậu, vùng lưu hành sốt rét ven hồ có tỷ lệ thích hợp cho sự lây truyền sốt rét là 94% so với các vùng khác. Mặc dù đã sử dụng màn ngủ tẩm thuốc diệt côn trùng và nâng cao nhận thức về bệnh sốt rét, sự lây truyền sốt rét vẫn tiếp tục là mối đe dọa, đặc biệt là ở các huyện thuộc vùng lưu hành sốt rét ven hồ. Hơn nữa, nơi cư trú, các yếu tố khí hậu và quyền sở hữu màn ngủ tẩm thuốc diệt côn trùng có thể liên quan đến bệnh sốt rét trong khu vực.
Chuyển giao kiến thức từ sự hợp tác
Sự hợp tác này đã tăng cường khả năng của TCYTTG trong việc hoàn thiện các phương pháp ước tính gánh nặng bệnh sốt rét, cuối cùng mang lại lợi ích cho các quốc gia thành viên bằng cách mở rộng khả năng tiếp cận mô hình không gian địa lý tiên tiến, giúp xác định chính xác những nơi cần can thiệp nhất và hỗ trợ lập kế hoạch chiến lược ở cả cấp quốc gia và toàn cầu.
Đối với trung tâm, mối quan hệ đối tác này đóng vai trò quan trọng trung tâm trong công việc của họ trong thập kỷ qua, cung cấp quyền tiếp cận với chuyên môn hàng đầu thế giới về chính sách PCSR, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia với các chương trình PCSR Quốc gia và tạo ra một con đường trực tiếp để dữ liệu và năng lực phân tích, tạo ra tác động trên phạm vi quốc tế. Nỗ lực hợp tác này cũng mang lại những lợi ích rõ ràng cho cộng đồng PCSR nói chung: Bằng cách tạo ra một bức tranh chi tiết, đầy đủ về mặt không gian về gánh nặng sốt rét toàn cầu và sự tiến triển của nó theo thời gian, trung tâm hợp tác đã cung cấp bằng chứng thiết yếu để định hình chính sách PCSR quy mô quốc tế, hướng dẫn phân bổ nguồn lực cho các nhóm dân cư có nhu cầu cao nhất và đánh giá tiến độ đạt được các mục tiêu toàn cầu, bao gồm cả việc xác định những nỗ lực đang đi đúng hướng và những lĩnh vực cần tập trung hơn nữa.
Sự hợp tác này cũng giúp xây dựng năng lực, kỹ năng và phương thức làm việc mới cho cả hai bên. Đối với TCYTTG, công việc chung với trung tâm đã củng cố các phương pháp phân tích và nâng cao kỹ năng kỹ thuật của nhân viên, bao gồm việc hoàn thiện các phương pháp mô hình hóa đã được Nhóm Tư vấn Kỹ thuật Thông tin Chiến lược về Sốt rét xem xét và cải thiện cách thức tích hợp dữ liệu chẩn đoán, hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế, các biện pháp can thiệp mới và các loại màn chống muỗi đang phát triển vào việc ước tính gánh nặng bệnh tật.
Đối với trung tâm, một thập kỷ hợp tác chặt chẽ với TCYTTG đã giúp các thành viên nhóm hiểu sâu hơn về thực tiễn hoạt động PCSR và định hình cách tiếp cận riêng của họ đối với quan hệ đối tác và hoạt động thực địa. Vẫn còn nhiều cơ hội để mở rộng hợp tác, bao gồm các hoạt động xây dựng năng lực bổ sung cho phép các quốc gia thành viên thực hiện mô hình hóa không gian địa lý tiêu chuẩn hóa và tạo ra các ước tính về gánh nặng bệnh tật của riêng họ.
Thêm một thách thức mới đối với Khu vực vẫn còn gánh nặng sốt rét
Sự xuất hiện của tình trạng kháng đa thuốc là một mối lo ngại về sức khỏe cộng đồng, đe dọa tính bền vững của các nỗ lực toàn cầu nhằm giảm gánh nặng bệnh sốt rét. Các liệu pháp phối hợp dựa trên artemisinin (ACTs), được TCYTTG khuyến nghị để điều trị bệnh sốt rét không biến chứng, đã là một phần không thể thiếu trong những thành công đáng kể trong việc kiểm soát bệnh sốt rét toàn cầu trong 20 năm qua. Bảo vệ hiệu quả của các loại thuốc này là một ưu tiên hàng đầu về sức khỏe cộng đồng toàn cầu.
Là một phần trong vai trò xây dựng quy chuẩn, TCYTTG phát triển các phác đồ chuẩn để theo dõi hiệu quả, phòng ngừa và kháng thuốc sốt rét, đồng thời cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và tài chính cho các quốc gia để thực hiện các phác đồ này. Kết quả của các nghiên cứu này được đưa vào cơ sở dữ liệu toàn cầu và được chuyển thể thành “Bản đồ các mối đe dọa sốt rét”. Những nghiên cứu này cũng cung cấp thông tin cho việc cập nhật các Chính sách Quốc gia về điều trị sốt rét bậc một và bậc hai (ưu tiên và thay thế).
TCYTTG thường xuyên triệu tập các chuyên gia để xem xét bất kỳ thông tin mới nào dựa trên bằng chứng. Khi có bằng chứng mới, các khuyến nghị của TCYTTG sẽ được cập nhật, nếu phù hợp, bằng cách sử dụng quy trình xây dựng hướng dẫn minh bạch và nghiêm ngặt của TCYTTG. TCYTTG cũng ban hành các báo cáo về tình trạng hiệu quả của artemisinin tại các quốc gia bị ảnh hưởng. Báo cáo gần đây nhất tổng hợp những phát hiện và kết luận mới nhất về tình trạng kháng thuốc artemisinin và liệu pháp phối hợp dựa trên artemisinin (ACT), đồng thời tóm tắt các khuyến nghị điều trị hiện tại của TCYTTG. Vào tháng 11 năm 2022, TCYTTG đã đưa ra một chiến lược để ứng phó với vấn đề cấp bách về tình trạng kháng thuốc chống sốt rét ở châu Phi nhằm giảm thiểu mối đe dọa và tác động của tình trạng kháng thuốc trong khu vực thông qua 20 biện pháp can thiệp được khuyến nghị.
Tiếp cận nhóm nguy cơ cao ở các vùng sâu vùng xa Chhattisgarh, Ấn Độ: Mô hình khác biệt?
Trong những năm gần đây, Ấn Độ đã đạt được những tiến bộ ấn tượng trong việc giảm gánh nặng bệnh sốt rét, với số ca mắc giảm hơn 40% từ năm 2015 đến năm 2021. Hầu hết trường hợp còn lại tập trung ở các cộng đồng dân tộc thiểu số sống ở vùng nông thôn. Câu chuyện ảnh này mô tả những nỗ lực của các nhân viên y tế địa phương nhằm tiếp cận những người có nguy cơ mắc bệnh sốt rét ở các vùng sâu vùng xa của Chhattisgarh, một bang chiếm gần 1/5 tổng số ca mắc sốt rét của cả nước.
Người dân sống ở những vùng đồi núi hiểm trở và ven rừng của Chhattisgarh là những nhóm dễ bị tổn thương nhất bởi bệnh sốt rét. Tại đây, các nhân viên y tế và nhà hoạt động y tế cộng đồng được chứng nhận (ASHA) phải vượt qua địa hình khó khăn để đến được ngôi làng hẻo lánh Korangali. Ở những vùng có tỷ lệ lây truyền sốt rét cao, các ASHA được Trung tâm Quốc gia về Kiểm soát Bệnh do Muỗi truyền của Ấn Độ đào tạo đặc biệt về cách nhận biết các triệu chứng sốt rét, chẩn đoán bệnh và điều trị các trường hợp đã được xác định để điêu trị thích hợp.
Sau khi đến làng Korangali, nhóm nhân viên y tế và các tình nguyện viên y tế cộng đồng (ASHA) đã tiến hành chiến dịch tuyên truyền PCSR tận nhà. Các thành viên cộng đồng nghi ngờ ca mắc bệnh thì dùng xét nghiệm chẩn đoán nhanh (RDT), cho kết quả nhanh chóng trong vòng 15-30 phút. Tại đây, một ASHA dùng bút không phai đánh dấu móng chân của một đứa trẻ như một phần của quy trình theo dõi tất cả những người đã được xét nghiệm sốt rét.
Ở một số khu vực, nhân viên y tế phải di chuyển quãng đường dài trên sông để tiếp cận những người có nguy cơ mắc bệnh sốt rét. Trong bức ảnh này, Santosh Panigrahi, một nhân viên y tế nông thôn 39 tuổi, trở về từ làng Chandela hẻo lánh sau khi vượt qua dòng sông Indrawati đang chảy xiết. Trong thời gian ở Chandela, anh đã cung cấp nhiều dịch vụ y tế cho người dân địa phương, bao gồm tiêm chủng và hướng dẫn về vệ sinh và dinh dưỡng. Tại một trường tiểu học ở làng Binta, một nhân viên y tế thuộc chương trình Rashtriya Bal Swasthya Karyakram (RBSK) đang kiểm tra bệnh sốt rét và khám sức khỏe tổng quát cho một học sinh. Được Bộ Y tế và Phúc lợi Gia đình Ấn Độ khởi xướng vào năm 2013, chương trình RBSK tập trung vào việc phòng ngừa bệnh tật và khuyết tật ở trẻ em bằng cách thường xuyên kiểm tra “4D”: Dị tật bẩm sinh, bệnh tật, thiếu chất dinh dưỡng và chậm phát triển (Defects at birth, Deficiencies, Diseases, and Developmental delays/disabilities). Trẻ em được chẩn đoán mắc bệnh sẽ được chăm sóc theo dõi miễn phí.
Tại làng Bheja, các nhân viên y tế cung cấp màn ITNs cho người dân để phòng ngừa bệnh sốt rét và các bệnh truyền nhiễm khác do côn trùng gây ra. Ngủ dưới những màn này là một trong những cách hiệu quả nhất để phòng ngừa bệnh sốt rét. Là một phần của chương trình PCSR của bang, màn chống muỗi tẩm thuốc diệt côn trùng được các nhân viên y tế phân phát rộng rãi trên khắp Chhattisgarh. Phun thuốc diệt côn trùng tồn lưu trong nhà (IRS) là một phương pháp phòng ngừa sốt rét hiệu quả khác. Phương pháp này bao gồm việc phủ thuốc diệt côn trùng lên các bức tường bên trong và các bề mặt khác mà muỗi thường đậu. Trong hình ảnh này, một nhân viên hiện trường đang tiến hành phun thuốc IRS tại một ngôi nhà ở làng Bheja.
Tại nhiều trường học trên khắp Chhattisgarh, các nhóm nhân viên y tế hướng dẫn trẻ em có nguy cơ mắc bệnh sốt rét cách mắc màn chống muỗi tẩm thuốc đúng cách và lợi ích của việc ngủ dưới màn. Tại phiên chợ Haat Bazaar hàng tuần ở Mutanpal, các chiến dịch PCSR sử dụng các nghệ sĩ sân khấu để nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc ngủ dưới màn chống muỗi đã được xử lý bằng thuốc diệt côn trùng. Tại đây, một nghệ sĩ trình diễn cho người dân địa phương cách sử dụng màn, cũng như các kỹ thuật được khuyến nghị để giặt và phơi màn.
Các nhân viên y tế cũng tổ chức các buổi mít tinh buổi tối để nâng cao nhận thức của cộng đồng về nguy cơ mắc bệnh sốt rét và cách phòng ngừa. Trong buổi mít tinh được tổ chức tại làng Mutanpal, họ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng màn chống muỗi tẩm thuốc diệt côn trùng và loại bỏ các ổ sinh sản của muỗi xung quanh nhà. Những nỗ lực tận tâm của các nhân viên y tế ở Chhattisgarh dường như đang mang lại kết quả. Tại huyện Bastar, nơi chiếm khoảng ba phần tư số ca mắc sốt rét của bang, ước tính số ca bệnh đã giảm hơn 60% kể từ năm 2018, theo các quan chức y tế của bang.
(Còn nữa) ---> Tiếp theo Phần 2
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang & Ths.BS. Nguyễn Công Trung Dũng
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn