9. Gánh nặng sốt rét ở các quốc gia gánh nặng cao, tác động cao (HBHI)
Sáng kiến HBHI (High Burden to High Impact) tập trung vào bốn
trụ cột chính: Cam kết chính trị, sử dụng dữ liệu một cách chiến lược, hoàn thiện
các hướng dẫn kỹ thuật và tăng cường phối hợp. Các nỗ lực này được hỗ trợ bởi
hai môi trường bổ trợ: Hệ thống y tế tích hợp và hành động liên ngành. HBHI là
sáng kiến do các quốc gia làm chủ, ưu tiên các biện pháp can thiệp phù hợp và
nhằm mục đích giảm nhanh số ca TVSR.
Được TCYTTG và Tổ chức Đối tác Đẩy lùi Sốt rét (Roll Back Malaria -RBM) khởi
xướng vào năm 2018, sáng kiến HBHI ban đầu tập trung hỗ trợ 11 nước có gánh nặng
bệnh tật cao (Burkina Faso, Cameroon, CHDC Congo, Ghana, Ấn Độ, Madagascar,
Mali, Mozambique, Niger, Nigeria và Tanzania).
Tổ chức Y tế thế giới và đối tác RBM đã khởi xướng vào năm 2018, HBHI ban
đầu hỗ trợ 11 quốc gia có gánh nặng bệnh cao (Burkina Faso, Cameroon, CHDC
Congo, Ghana, Ấn Độ, Mali, Mozambique, Niger, Nigeria, Uganda và CHTN
Tanzania). Các quốc gia này chiếm 70% số ca mắc sốt rét trên toàn cầu và 71% số
ca tử vong trong năm 2017, trước khi họ tham gia sáng kiến.
Sudan gia nhập nhóm vào năm 2022, nhưng do xung đột kể từ năm 2023 nên
chưa tham gia đầy đủ, khiến toàn bộ nguồn lực và sự tập trung chuyển hướng sang
ứng phó khẩn cấp, dẫn đến việc hàng triệu người phải di dời và trở thành người
tị nạn.
Ấn Độ chính thức rời nhóm HBHI vào năm 2024 do đạt được tiến bộ đáng kể
trong việc giảm tỷ lệ mắc và tử vong sốt rét ở các bang có tỷ lệ mắc bệnh cao.
Năm 2024, có 11 quốc gia thuộc HBHI (không bao gồm Ấn Độ và bao gồm cả
Sudan) chiếm 64% tổng số ca mắc sốt rét toàn cầu và 68% số ca tử vong. Kể từ
năm 2017, năm trước khi sáng kiến HBHI ra đời, số ca mắc ước tính ở 11 quốc
gia này đã tăng 20%, từ 151 triệu ca lên 181 triệu năm 2024.
Tỷ lệ mắc giảm nhẹ từ 266 xuống 264 ca/1000 dân số có nguy cơ từ năm 2017
đến năm 2024, có nghĩa là sự gia tăng số ca mắc chủ yếu là do tăng dân số.
Từ năm 2017 đến năm 2024, số ca tử vong do sốt rét tăng 3,8%, từ 400.000
lên 415.000 ca, trong khi tỷ lệ tử vong giảm 13,8%, từ 70,3 xuống 60,6 ca tử
vong trên 100.000 DS nguy cơ.
Số tử vong đạt đỉnh điểm ở mức 444.000 vào năm 2020 và duy trì ở mức cao
423.000 vào năm 2021, trước khi giảm trở lại (Hình 17).
Hình 17.
Ước tính số rét a) ca mắc và b) ca tử vong ở 11 nước thuộc HBHI, 2000-2024
Những thách thức chính trong giảm mắc và giảm chết sốt rét bao gồm cộng đồng
hạn chế tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng, các cuộc xung đột và
tình trạng khẩn cấp đang diễn ra, nguồn tài trợ không đủ phạm vi bao phủ và năng
lực thực hiện các biện pháp can thiệp chưa tối ưu.
10. Số ca mắc và TVSR đã được ngăn chặn kể từ năm 2000, trên toàn cầu
và theo khu vực
Hình 18.
Số ca tích lũy (a) Ca mắc sốt rét và (b) Ca tử vong sốt rét được
ngăn chặn theo khu vực và trên toàn cầu, 2000-2024
Số ca mắc và tử vong được ngăn ngừa trong giai đoạn 2000-2024 được tính
toán bằng cách so sánh gánh nặng sốt rét hàng năm hiện tại so với tỷ lệ mắc và
tử vong do sốt rét từ năm 2000. Phân tích cho thấy, trong giai đoạn 2000-2024,
có 2,3 tỷ ca mắc sốt rét và 14 triệu ca tử vong do sốt rét đã được ngăn chặn
trên toàn cầu. Hầu hết ca mắc (75,8%) và tử vong (93,3%) được ngăn ngừa đều ở
khu vực Châu Phi, tiếp theo là Đông Nam Á (16,4% số ca mắc và 4,3% số ca tử
vong được ngăn ngừa) (Hình 18, Hình 19).
Chỉ riêng trong năm 2024, đã có hơn 170 triệu ca mắc và 1 triệu ca tử vong
đã được ngăn ngừa trên phạm vi toàn cầu. Bên cạnh các biện pháp can thiệp PCSR và
những cải thiện tổng thể về hệ thống và cơ sở hạ tầng y tế, các ca mắc và tử
vong cũng có thể được ngăn ngừa bởi các yếu tố khác như làm thay đổi sự lan
truyền sốt rét, chẳng hạn như cải thiện về kinh tế xã hội, giảm suy dinh dưỡng,
cải thiện cơ sở hạ tầng, nhà ở và quá trình đô thị hóa.
11. Số ca mắc sốt rét được phân loại theo giới tính
Báo cáo sốt rét Thế giới năm 2024, với chủ đề giải quyết sự bất bình đẳng
trong ứng phó bệnh sốt rét trên toàn cầu, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc
vượt ra ngoài dữ liệu tổng hợp để hiểu rõ hơn ai là người bị ảnh hưởng sốt rét
nặng nhất, tại sao sự bất bình đẳng vẫn tồn tại và việc phân tách dữ liệu hỗ trợ
như thế nào cho việc thiết kế các chương trình can thiệp đảm bảo tính công bằng
trong PCSR.
Trước đây, các công cụ thu thập dữ liệu được sử dụng cho Báo cáo sốt rét
thế giới chủ yếu tập trung vào nữ giới, đặc biệt là phụ nữ mang thai và trẻ em
gái, trong khi dữ liệu về nam giới thường bị bỏ sót.
Hình 19. Tỷ lệ phần trăm về: (a) Các ca mắc sốt rét, kèm theo số lượng
tuyệt đối (tính bằng nghìn), và (b)
Các ca tử vong do sốt rét được ngăn chặn, phân theo khu vực của TCYTTG, giai đoạn
2000–2024.
Việc đưa vào dữ liệu phân loại theo giới cho phép có một bức tranh toàn diện
hơn về dịch tễ học sốt rét, bằng cách xác định chính xác đối tưởng nguy cơ và
nguyên nhân gốc rễ. Việc phân tích và thấu hiểu những khác biệt về gánh nặng bệnh
sốt rét, cùng với các bằng chứng định tính, sẽ làm sáng tỏ các khía cạnh giới
tính trong tính dễ bị tổn thương và khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế. Sự
giao thoa giữa các yếu tố sinh học, xã hội, cấu trúc và môi trường, như dân tộc
bản địa, tình trạng khuyết tật hoặc sinh sống ở vùng sâu vùng xa khó tiếp cận -
đã tác động không đồng đều đến nguy cơ mắc sốt rét giữa các cộng đồng khác
nhau. Dữ liệu phân tích theo giới tính có thể làm rõ những đặc điểm dễ bị tổn
thương khác nhau liên quan đến bất bình đẳng giới.
Ví dụ, trẻ em gái tuổi vị thành niên có thể đối mặt với nguy cơ dễ bị tổn
thương cao hơn do các yếu tố sinh học, chẳng hạn như mang thai, kết hợp với các
rào cản xã hội, chẳng hạn như hạn chế tiếp cận các biện pháp phòng ngừa sốt
rét, đồng thời gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế chất lượng
do hạn chế về kinh tế, khoảng cách địa lý và các định kiến giới tiêu cực. Tương
tự, nam giới có thể có nguy cơ mắc sốt rét cao hơn do đặc thù nghề nghiệp thường
xuyên làm việc ngoài trời hoặc ban đêm. Những hiểu biết như vậy, được tổng hợp từ
cả dữ liệu phân tách và dữ liệu định tính, cho phép điều chỉnh tốt hơn các biện
pháp can thiệp PCSR và đảm bảo tính bao trùm và giải quyết tốt hơn sự bất bình
đẳng thông qua việc triển khai các biện pháp can thiệp có mục tiêu.
Báo cáo Sốt rét Thế giới năm 2025 đã tiến một bước xa hơn khi lần đầu tiên
trình bày số ca mắc sốt rét phân tách theo giới do các quốc gia báo cáo (Hình
20). Năng lực báo cáo loại dữ liệu này có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực
của tô chức Y tế thế giới: 45% các quốc gia ở châu Phi, 86% ở khu vực Đông Địa
Trung Hải (Somalia là quốc gia duy nhất không thể phân loại), 75% ở Tây Thái
Bình Dương, và tất cả các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á và châu Mỹ đều có thể
phân loại dữ liệu theo giới tính. Tuy nhiên, các rào cản trọng yếu về hệ thống
đối với việc báo cáo toàn diện vẫn còn tồn tại, bao gồm các công cụ thu thập dữ
liệu không được chuẩn hóa, thiếu các trường dành riêng cho giới tính, việc thu
thập dữ liệu về giới tính là tùy chọn thay vì bắt buộc, các nền tảng báo cáo kỹ
thuật không được cấu hình để ghi lại dữ liệu phân loại theo giới tính, và việc
tổng hợp dữ liệu sớm trong các hệ thống giám sát dẫn đến mất khả năng phân loại.
Mặc dù còn những thiếu sót này, các phân tích năm 2025 cung cấp cơ hội đầu tiên
để đánh giá sự khác biệt về gánh nặng bệnh sốt rét giữa nữ và nam giới trên dữ
liệu do các quốc gia báo cáo.
Dữ liệu sốt rét phân loại theo giới ở từng khu vực năm 2024 như sau:
- Khu vực Châu Phi: Dữ liệu sốt rét phân loại theo giới vẫn còn hạn chế.
Trong số tất cả các trường hợp sốt rét được báo cáo, thì có đến 76,5% không được
phân loại theo giới tính. Trong số các trường hợp được phân loại, thì có 57,1%
là nữ và 42,9% là nam, với tỷ lệ trung bình các trường hợp nữ là 49,5% trên toàn
bộ các quốc gia báo cáo. Tỷ lệ nữ thấp nhất được ghi nhận ở Tanzania (Zanzibar)
(24,4%), trong khi tỷ lệ cao nhất được báo cáo ở Nam Sudan (64,0%);
- Khu vực Châu Mỹ: Tổng cộng 95,9% các trường hợp sốt rét được phân loại
theo giới và 4,1% không được phân loại. Trong số các trường hợp được phân loại,
thì có 40,8% là nữ và 59,2% là nam, với tỷ lệ trung vị của các trường hợp nữ là
41,5% trên khắp các quốc gia báo cáo. Tỷ lệ nữ thấp nhất được ghi nhận ở CH Dominica
(28,8%), trong khi tỷ lệ cao nhất ở Nicaragua (47,7%);
- Khu vực Đông Địa Trung Hải: Có 96,9% các trường hợp sốt rét được phân loại
theo giới tính, trong khi 3,1% không được phân loại. Trong số các trường hợp được
phân loại, thì có 44,8% là nữ và 52,6% là nam, với tỷ lệ trung vị của các trường
hợp nữ là 44,8% trên khắp các quốc gia báo cáo. Tỷ lệ mắc ở nữ giới thấp nhất
được báo cáo ở Djibouti (32,6%) và CH Hồi giáo Iran (12,9%), trong khi tỷ lệ
cao nhất được ghi nhận ở Sudan (52,2%).
- Khu vực Đông Nam Á: Tất cả các trường hợp sốt rét đều được phân loại
theo giới tính, cho thấy tính đầy đủ của dữ liệu trên toàn khu vực. Trong số
các trường hợp được báo cáo, 39,1% là nữ và 60,9% là nam, với tỷ lệ trung vị của
các trường hợp nữ là 34,9%. Tỷ lệ mắc bệnh ở nữ giới thấp nhất được báo cáo ở
Nepal (7,5%), trong khi tỷ lệ cao nhất được ghi nhận ở Ấn Độ (42,7%).
- Khu vực Tây Thái Bình Dương: tổng cộng 58,2% các trường hợp sốt rét
không được phân loại theo giới, điều này phản ánh những hạn chế đang diễn ra
trong việc báo cáo ở các quốc gia trong khu vực. Trong số các ca được phân loại
theo giới thì nữ chiếm 44,3% và nam giới 55,7%, với tỷ lệ trung vị của nữ là 40,9% ở các quốc gia có báo
cáo. Tỷ lệ nữ giới thấp nhất được ghi nhận ở Hàn Quốc (16,3%), trong khi tỷ lệ
cao nhất được ghi nhận ở Quẩn đảo Solomon (54,3%).
(Hết)
TS. Đỗ Văn Nguyên và
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang
Viện Sốt
rét-KST-CT Quy Nhơn