Ranh giới địa lý
Các bệnh truyền nhiễm nhạy cảm với khí hậu thường thể hiện ranh giới địa lý trong phân bố của chúng, tức là xuất hiện hoặc có tỷ lệ mắc cao hơn ở các vĩ độ và độ cao cụ thể. Ví dụ, sự phân bố địa lý của các bệnh do muỗi truyền được định hình bởi các hạn chế phụ thuộc vào nhiệt độ đối với cả vòng đời của vật trung gian truyền bệnh và mầm bệnh và vật trung gian truyền bệnh có thể sống sót ở nhiệt độ không thích hợp cho sự phát triển của mầm bệnh. Bệnh sốt rét thường không xuất hiện ở các vùng có nhiệt độ thấp hơn ngưỡng (15-19°C) cần thiết cho sự phát triển của Plasmodium trong muỗi, ngay cả ở những khu vực có muỗi.
Tuy nhiên, ở các vùng cao nguyên thường mát hơn của Ethiopia và Colombia, nơi bệnh sốt rét không phải là bệnh đặc hữu, sự lây truyền đã xảy ra trong những năm ấm bất thường, nhấn mạnh cách khí hậu và biến đổi khí hậu có thể hạn chế hoặc mở rộng các vùng lây truyền và thời gian thích hợp về mặt khí hậu cho sự lây truyền.
Các bệnh truyền nhiễm nhạy cảm với khí hậu cũng có thể xảy ra trên toàn thế giới nhưng có xu hướng có tỷ lệ mắc cao hơn ở những địa điểm có điều kiện khí hậu và môi trường tương tự. Ví dụ, viêm màng não xảy ra trên toàn thế giới. Tuy nhiên, tỷ lệ mắc cao nhất được tìm thấy ở vành đai viêm màng não cận Sahara trải dài khắp Sahel. Các quốc gia trong khu vực này chiếm 80% tổng số ca viêm màng não ở Châu Phi và 45% số ca trên toàn cầu. Tương tự, mặc dù bệnh tả có thể xảy ra trên toàn cầu và các đợt bùng phát chủ yếu do điều kiện vệ sinh kém, quản lý nước không đầy đủ và hệ thống y tế yếu kém, nhưng mầm bệnh Vibrio cholerae (đặc biệt là các phân nhóm O1 và O139) có xu hướng tồn tại trong các ổ chứa môi trường trong các hệ sinh thái ven biển và cửa sông nhiệt đới và cận nhiệt đới. Những hệ sinh thái này, được đặc trưng bởi các điều kiện cụ thể như nhiệt độ bề mặt biển và độ mặn cao, cung cấp môi trường sống thuận lợi cho vi khuẩn, có thể lây truyền và được đưa vào cả các khu vực lưu hành và không lưu hành thông qua sự di chuyển của con người.
Các bệnh truyền nhiễm nhạy cảm với khí hậu thường có sự phân bố địa lý riêng biệt, với sự lây truyền bị hạn chế hoặc thuận lợi bởi sự phù hợp của môi trường. Mặc dù một số bệnh có sự phân bố toàn cầu, nhưng tỷ lệ mắc bệnh thường tập trung ở các khu vực có đặc điểm khí hậu cụ thể. Tuy nhiên, sự phân bố địa lý trong lịch sử có khả năng tiếp tục thay đổi do các hoạt động của con người, bao gồm cả biến đổi khí hậu do con người gây ra.
Biến đổi giữa các năm
Chu kỳ dịch bệnh của các bệnh truyền nhiễm nhạy cảm với khí hậu thường trùng khớp với những biến động khí hậu quy mô lớn. Ví dụ, các đợt bùng phát bệnh nấm (Coccidioidomycosis-sốt thung lũng) ở Mỹ cần một thời kỳ ẩm ướt, cho phép nấm phát triển, tiếp theo là một thời kỳ khô hạn, tạo ra bụi giúp phát tán bào tử và bị ảnh hưởng bởi chế độ mưa, bao gồm cả hệ thống bão Thái Bình Dương và gió mùa Bắc Mỹ. Các hiện tượng khí hậu quy mô lớn như ENSO, IOD và những thay đổi trong vùng hội tụ liên nhiệt đới là những yếu tố tiềm tàng thúc đẩy sự biến đổi giữa các năm trong mô hình bệnh truyền nhiễm nhạy cảm với khí hậu.
Cả El Niño (pha ấm lên) và La Niña (pha lạnh đi) của ENSO đều ảnh hưởng đến sự biến đổi khí hậu, tính mùa vụ và các hiện tượng khí hậu cực đoan khác nhau trên toàn cầu. Một số khu vực có điều kiện khô hơn và ấm hơn mức trung bình, trong khi những khu vực khác có điều kiện ẩm ướt hơn mức trung bình. Những bất thường về khí hậu này làm thay đổi điều kiện sinh thái, do đó tạo điều kiện thuận lợi hoặc cản trở sự sống sót, sinh sản và nhân lên của mầm bệnh và vật trung gian truyền bệnh. Ví dụ, pha El Niño ấm của ENSO có thể gây ra những bất thường về nhiệt độ và lượng mưa ở một số khu vực, điều này có liên quan đến sự thay đổi về tỷ lệ mắc và nguy cơ bùng phát bệnh tả, bệnh sốt rét, bệnh sốt xuất huyết, bệnh Leptospirosis và Hantavirus. IOD có liên quan đến các đợt bùng phát bệnh sốt rét ở vùng cao nguyên Đông Phi và sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh sốt xuất huyết và bệnh tả ở Bangladesh.
Mặc dù biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc và phân bố của một số bệnh truyền nhiễm, nhưng sự biến đổi giữa các năm cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như miễn dịch cộng đồng (ví dụ sự thay đổi các kiểu huyết thanh virus sốt xuất huyết), hành vi của con người (trữ nước), di chuyển (di dời dân cư), xung đột, thay đổi sử dụng đất (đô thị hóa và phá rừng) và động lực thị trường toàn cầu (khả năng tiếp cận vaccine, thuốc men và thực phẩm). Cần xem xét cẩn thận các yếu tố tương tác này để đánh giá vai trò cụ thể của khí hậu trong việc thúc đẩy dịch bệnh.
Mức độ nhạy cảm với khí hậu
Các bệnh truyền nhiễm thể hiện mức độ nhạy cảm khác nhau với khí hậu. Những bệnh có độ nhạy cảm cao với khí hậu thường thể hiện tính mùa vụ rõ rệt do điều kiện khí hậu chi phối, tỷ lệ mắc bệnh cao hơn trong các vùng khí hậu cụ thể và sự biến đổi giữa các năm phù hợp với các hiện tượng khí hậu rộng hơn hoặc sự dao động trong biến đổi khí hậu. Nhìn chung, những quan sát này cho thấy các yếu tố khí hậu đang ảnh hưởng đáng kể đến vòng đời của bệnh.
Các bệnh truyền nhiễm nhạy cảm với khí hậu được nghiên cứu kỹ và được công nhận rộng rãi nhất là các bệnh lây truyền qua vật trung gian (sốt rét, sốt xuất huyết, Zika, Chikungunya, virus West Nile và sốt vàng da) cũng như các bệnh lây truyền qua nước (các bệnh tiêu chảy, bao gồm bệnh tả và bệnh Leptospirosis) và các bệnh lây truyền qua không khí (viêm màng não do não mô cầu và các bệnh đường hô hấp như cúm và nhiễm trùng do virus hợp bào hô hấp).

Hình 2. Mọi người đang bắt đầu nhận thấy biến đổi khí hậu là yếu tố chính định hình sự lây lan của bệnh truyền nhiễm và vấn đề sức khỏe toàn cầu thông qua nhiều con đường khác nhau. Hình tóm tắt những phát hiện mới nhất về cách các yếu tố khí hậu quan trọng như nhiệt độ, độ ẩm và những thay đổi thời tiết lớn có thể ảnh hưởng đến hoạt động và sự lây truyền của mầm bệnh và vật trung gian truyền bệnh. Đặc biệt, các bệnh do côn trùng truyền (sốt rét, sốt xuất huyết và bệnh Lyme), đang lan rộng hơn và được tìm thấy ở những nơi trước đây chúng không tồn tại. Khi nhiệt độ tăng, lũ lụt xảy ra thường xuyên hơn, cơ sở hạ tầng bị quá tải & các trường hợp mắc bệnh tả và nhiễm khuẩn Salmonella có thể tăng lên đáng kể. Cơ sở hạ tầng yếu kém, các thành phố đông đúc và khả năng ứng phó hạn chế ở những nơi như vậy đồng nghĩa với việc các vùng ven biển và nhiệt đới với nguồn lực hạn chế đang phải chịu ảnh hưởng nặng nề hơn bởi những rủi ro mới này. (Nguồn: https://premierscience.com/pjbs-25-1002)
Tuy nhiên, tính nhạy cảm với khí hậu của một số bệnh truyền nhiễm vẫn chưa được hiểu rõ. Điều này thường là do đầu tư nghiên cứu hạn chế vào các bệnh ít được ưu tiên hoặc do sự hiện diện của các con đường phức tạp, gián tiếp liên kết khí hậu với kết quả bệnh tật. Đối với các bệnh được coi là có tính nhạy cảm với khí hậu thấp (đặc biệt là so với các bệnh do côn trùng truyền và bệnh lây truyền qua nước đã được nghiên cứu kỹ lưỡng), các yếu tố khác có xu hướng chi phối động lực lây truyền. Ví dụ, mặc dù các biến số khí hậu theo mùa như độ ẩm có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh thủy đậu (Varicella và zona), nhưng các mô hình này bị ảnh hưởng mạnh hơn bởi hành vi của con người, đặc biệt là chu kỳ học kỳ thúc đẩy sự tiếp xúc giữa trẻ em với nhau. Tương tự, bằng chứng hiện tại cho thấy virus Ebola và virus Marburg có tính nhạy cảm với khí hậu hạn chế, vì chúng chủ yếu tồn tại trong cơ thể vật chủ và được truyền trực tiếp qua tiếp xúc với máu hoặc dịch cơ thể từ người hoặc động vật bị nhiễm bệnh.
Tuy nhiên, động lực lây lan của chúng có thể bị điều chỉnh bởi các tương tác phức tạp giữa biến đổi môi trường, phân bố ổ chứa và tiếp xúc giữa người và động vật, mà một phần có thể bị ảnh hưởng bởi khí hậu. Như vậy, các bệnh hiện nay được cho là ít nhạy cảm với khí hậu, nếu được nghiên cứu thêm, có thể được phân loại lại là nhạy cảm hơn do bằng chứng ngày càng rõ ràng về các cơ chế gián tiếp hoặc dây chuyền này.
Các thảm họa liên quan đến khí hậu (lũ lụt, hạn hán và bão) được công nhận là những yếu tố chính làm tăng nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm. Những sự kiện này có thể dẫn đến tình trạng di dời, quá tải dân số, giảm khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe và những thay đổi về điều kiện kinh tế xã hội và hành vi của con người, tạo điều kiện thuận lợi cho sự lây truyền bệnh tật. Tuy nhiên, việc phân loại một bệnh là nhạy cảm với khí hậu dựa trên những sự kiện như vậy lại gặp vấn đề. Ví dụ, các thảm họa liên quan đến khí hậu có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục bằng cách gây ra khó khăn kinh tế và dẫn đến hoạt động mại dâm. Tuy nhiên, những thay đổi hành vi tương tự (và nguy cơ mắc bệnh) cũng có thể xảy ra do các cú sốc phi khí hậu, chẳng hạn như xung đột hoặc sụp đổ thị trường. Trong những trường hợp này, khí hậu không phải là yếu tố chủ yếu, mà chính sự xuất hiện của một cú sốc mới là yếu tố quyết định. Việc phân loại các bệnh lây truyền qua đường tình dục này là rất nhạy cảm với khí hậu có thể gây hiểu lầm.
Tính nhạy cảm của các bệnh truyền nhiễm với khí hậu phụ thuộc vào số lượng và mức độ thay đổi (thúc đẩy hoặc ức chế) của các thành phần (đặc điểm vòng đời) ở mầm bệnh, vật chủ không phải con người, vật trung gian truyền bệnh và vật chủ là con người khi phản ứng với biến đổi khí hậu. Đối với mầm bệnh, các đặc điểm này bao gồm sự phát triển, khả năng sống sót và tỷ lệ tử vong, sinh sản hoặc nhân lên, và độc lực. Đối với vật chủ không phải con người và vật trung gian truyền bệnh, các đặc điểm bao gồm tốc độ phát triển, tỷ lệ sống sót và tỷ lệ tử vong (ảnh hưởng đến số lượng và tuổi thọ trưởng thành), tốc độ sinh sản (cũng ảnh hưởng đến số lượng), và hành vi (hoạt động cắn của muỗi hoặc đường di cư của chim).
Các đặc điểm của vật chủ là con người bao gồm hành vi (lựa chọn quần áo, thời gian ở trong nhà gần người khác và thói quen ngủ, có thể ảnh hưởng đến sự tiếp xúc và di cư, ảnh hưởng đến sự pha trộn giữa quần thể dễ mắc bệnh và quần thể bị nhiễm bệnh) và khả năng miễn dịch (hình 2). Những đặc điểm này ảnh hưởng đến số lượng vật trung gian truyền bệnh và mầm bệnh, nên tỷ lệ tiếp xúc và nguy cơ lây truyền cho vật chủ, và cuối cùng là khả năng nhiễm bệnh. các nhà nghiên cứu đề xuất rằng khuôn khổ này có thể cung cấp nền tảng cho các đánh giá toàn diện và có hệ thống trong tương lai về tính nhạy cảm của các bệnh truyền nhiễm với khí hậu.
(Hết Phần 2) ----> (Tiếp theo Phần 3)
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang & Ths.BS. Châu Văn Khánh
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn