6. Số ca mắc và tử vong do sốt rét tại khu vực châu Âu, 2000-2024
Kể từ năm 2015, châu Âu không còn sốt rét và quốc gia cuối cùng báo cáo
trường hợp sốt rét nội địa là Tajikistan vào năm 2014.
Trong cả giai đoạn 2000-2024, không có trường hợp TVSR nào được báo cáo ở châu
Âu.
7. Số ca mắc và tử vong do sốt rét ở khu vực Đông Nam Á, 2000–2024
Trong năm 2024, có 2,7 triệu ca mắc sốt rét tại 6 quốc gia lưu hành trong
khu vực, chiếm chưa đến 1% tổng số ca mắc trên toàn cầu. Riêng Ấn Độ chiếm
73,3% tổng số ca mắc trong khu vực (Hình 2.13c). Hơn một nửa số ca mắc trong
khu vực là do P. vivax. Từ năm 2000-2015,
số ca mắc giảm 64,8%, cụ thể từ 23,6 triệu ca năm 2000 xuống còn 8,3 triệu ca
năm 2015. Sự suy giảm này tiếp tục được duy trì trong giai đoạn 2015-2024, với
tỷ lệ giảm 67,5%.
So sánh số ca mắc năm 2024 với năm 2023 thì không có sự thay đổi. Mặc dù
không có sự thay đổi ở cấp độ khu vực, nhưng số ca mắc giảm đã được báo cáo ở
Bangladesh (21%), Myanmar (17,2%) và Thái Lan (14,1%), trong khi số ca mắc tăng
ở Triều Tiên (65,6%), Ấn Độ (11,1%) và Nepal (146,7%; từ 15 lên 37 ca). Tại Ấn
Độ, hầu hết các huyện đều báo cáo giảm, mặc dù vẫn xảy ra các đợt bùng phát cục
bộ. Sự gia tăng số ca mắc sốt rét ở Nepal có thể liên quan đến vị trí địa lý gần
biên giới nơi dễ xâm nhập từ Ấn Độ, điều này có thể ảnh hưởng đến các nỗ lực LTSR.
Năm 2024, tỷ lệ mắc sốt rét vẫn giữ nguyên như năm 2023, ở mức 1,9 ca trên 1000
DS nguy cơ (Hình 13a). Trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2015, và từ năm 2015
đến năm 2024, tỷ lệ mắc bệnh đã giảm mạnh lần lượt là 71,7% và 69,4%.
Bảng 6. Ước tính số ca mắc và tử vong sốt rét khu vực Đông Nam Á,
2000-2024
|
Năm
|
Số ca mắc (x1000)
|
%
P. vivax
|
Số ca tử vong
|
|
Ước tính
|
Cận dưới
|
Cận trên
|
Ước tính
|
Cận dưới
|
Cận trên
|
|
2000
|
23.600
|
18.900
|
29.500
|
47.4%
|
36.500
|
19.900
|
57.000
|
|
2001
|
23.700
|
19.200
|
29.800
|
50.4%
|
35.100
|
19.400
|
54.200
|
|
2002
|
21.900
|
17.400
|
27.800
|
49.7%
|
32.900
|
17.900
|
51.200
|
|
2003
|
22.900
|
18.100
|
29.000
|
52.3%
|
32.900
|
18.100
|
51.400
|
|
2004
|
24.900
|
19.600
|
32.200
|
51.6%
|
36.200
|
19.400
|
56.800
|
|
2005
|
25.900
|
19.800
|
34.600
|
53.7%
|
36.300
|
19.400
|
58.600
|
|
2006
|
19.400
|
15.000
|
25.800
|
51.2%
|
28.400
|
15.100
|
46.000
|
|
2007
|
18.200
|
14.200
|
23.900
|
48.7%
|
27.200
|
14.500
|
44.000
|
|
2008
|
18.300
|
14.100
|
23.900
|
46.6%
|
28.300
|
15.200
|
44.800
|
|
2009
|
17.600
|
13.700
|
23.100
|
44.2%
|
28.100
|
15.000
|
45.300
|
|
2010
|
17.000
|
13.600
|
21.400
|
44.0%
|
27.100
|
14.800
|
42.000
|
|
2011
|
13.900
|
11.300
|
17.300
|
45.0%
|
21.900
|
12.100
|
33.600
|
|
2012
|
11.600
|
9.500
|
14.200
|
47.1%
|
17.700
|
10.000
|
26.900
|
|
2013
|
8.300
|
6.700
|
10.100
|
46.0%
|
12.800
|
6.800
|
19.900
|
|
2014
|
8.300
|
6.800
|
10.000
|
34.2%
|
15.000
|
7.600
|
23.700
|
|
2015
|
8.300
|
6 900
|
10.000
|
33.5%
|
15.200
|
7.600
|
24.000
|
|
2016
|
8.100
|
6 400
|
10.100
|
34.7%
|
14.600
|
7.200
|
23.800
|
|
2017
|
6.000
|
4 800
|
7.400
|
37.3%
|
10.500
|
5.200
|
16.900
|
|
2018
|
4.500
|
3 200
|
5.900
|
51.7%
|
6.500
|
3.200
|
10.700
|
|
2019
|
3.800
|
2 500
|
5.100
|
53.6%
|
5.300
|
2.500
|
8.900
|
|
2020
|
3.400
|
2 200
|
4.800
|
37.1%
|
6.000
|
2.600
|
10.500
|
|
2021
|
3.600
|
2 200
|
5.300
|
40.8%
|
6.000
|
2 600
|
10.900
|
|
2022
|
2.500
|
2 000
|
4.400
|
51.8%
|
3.500
|
1.900
|
6.000
|
|
2023
|
2.700
|
2 100
|
5.400
|
53.0%
|
3.800
|
2.100
|
6.700
|
|
2024
|
2.700
|
2 100
|
5.100
|
52.4%
|
3.900
|
2.000
|
6.600
|
Năm 2024, có 3.900 ca tử vong do sốt rét (Bảng 6), trong đó Ấn Độ chiếm
88,7% tổng số ca tử vong trong khu vực. Gần 1/4 tổng số ca tử vong do sốt rét
trong khu vực là ở trẻ em dưới 5 tuổi.
Hình 13. Xu hướng (a) Tỷ lệ hiện mắc (số ca/1000 DS nguy
cơ) và (b) Tỷ lệ mắc (số chết/100.000
DS nguy cơ), 2000-2024; và (c) Số ca
mắc theo quốc gia ở khu vực Đông Nam Á, 2024
Từ năm 2000 đến năm 2015, số ca tử vong giảm gần 60% và xu hướng giảm này
tiếp tục tăng tốc trong giai đoạn 2015-2024, với mức giảm 74%. Từ năm 2000 đến
năm 2015 và từ năm 2015 đến năm 2024, tỷ lệ tử vong giảm lần lượt 67,6% và
72,7%. Tỷ lệ tử vong do sốt rét vẫn không thay đổi từ năm 2023 đến năm 2024
(Hình 13b).
Khu vực Đông Nam Á đã đạt được các mốc quan trọng của GTS 2020 cả về tỷ lệ
tử vong và tỷ lệ mắc sốt rét (Hình 14) và vẫn đang trên đà đạt được các mục
tiêu của GTS 2025 và mục tiêu của GTS 2030 về tỷ lệ tử vong. Sri Lanka và
Timor-Leste là hai quốc gia đã được chứng nhận LTSR lần lượt vào năm 2016 và
2025 và Bhutan đã báo cáo không có trường hợp mắc bệnh sốt rét nào kể từ năm
2022.
Cả Ấn Độ và Nepal đang trên đà đạt mục tiêu GTS về giảm tỷ lệ mắc bệnh 75%
vào năm 2025 và giảm 70% trở lên vào năm 2024 (Hình 5, Bảng 2).
Bangladesh, Triều Tiên và Thái Lan đã giảm tỷ lệ mắc bệnh từ 25-70%, trong
khi Myanmar có mức tăng trên 70%.
Sự gia tăng các trường hợp mắc ở Myanmar là do tình trạng bất ổn chính trị
và xã hội.
Hình 14. So sánh tiến độ giảm
(a) Tỷ lệ mắc mới và (b) Tỷ lệ tử vong do sốt rét tại Khu vực
Đông Nam Á theo hai kịch bản: Duy trì xu hướng hiện tại (xanh dương) và Đạt được
mục tiêu GTS (xanh lá cây)
Năm 2024, không có trường hợp tử vong do sốt rét nào được báo cáo ở Bhutan
và Triều Tiên. Bangladesh, Ấn Độ và Thái Lan đang trên đà đạt được mục tiêu GTS
về tỷ lệ tử vong, với mức giảm tỷ lệ tử vong từ 70% trở lên và Myanmar và Nepal
đã giảm từ 25% đến 70% (Hình 6).
8. Số ca mắc và tử vong do sốt rét tại khu vực Tây Thái Bình Dương (2000-2024)
Năm 2024, có 2,4 triệu ca mắc sốt rét tại 9 quốc gia lưu hành sốt rét ở
khu vực Tây Thái Bình Dương (Bảng 7), chiếm chưa đến 1% tổng số ca mắc trên
toàn cầu. Papua New Guinea chiếm hơn một nửa số ca mắc sốt rét ước tính trong
khu vực (65,6%), tiếp theo là Indonesia (25,8%) và Quần đảo Solomon (7,4%)
(Hình 15c).
Có 4 quốc gia có ít hơn 1.000 ca mắc, gồm Campuchia (322 ca), Lào (538
ca), Hàn Quốc (640 ca) và Việt Nam (239 ca). Hơn ¼ tổng số ca mắc trong khu vực
là do P. vivax gây ra. Từ năm 2000 đến
năm 2015, số ca mắc giảm 42,1%, từ 3,9 triệu ca năm 2000 xuống còn 2,3 triệu ca
năm 2015. Tốc độ giảm này đã chậm chỉ còn 7,1% trong giai đoạn từ năm 2015 đến
năm 2024. Số ca mắc đã tăng 8,6% trong giai đoạn 2023-2024. Sự gia tăng gần đây
chủ yếu là do sự gia tăng số ca ở Indonesia (+121.000 ca; 23,7%), Papua New
Guinea (+75.700 ca; 5%) và Philippines (+8.200 ca, 53%). Số ca mắc ở các quốc
gia khác trong khu vực thì giảm.
Từ năm 2000 đến năm 2015, tỷ lệ mắc bệnh sốt rét đã giảm 48,9%, từ 4,5 xuống
còn 2,3 ca/1000 DS nguy cơ, nhưng từ năm 2023 đến năm 2024, tỷ lệ mắc sốt rét
tăng 9,5%, từ 2,1 lên 2,3 ca trên 1000 dân số nguy cơ (Hình 15a).
Bảng 7. Ước tính số ca mắc và tử vong sốt rét khu vực Tây Thái Bình Dương
(2000-2024)
|
Năm
|
Số ca mắc (x1000)
|
%
P. vivax
|
Số ca tử vong
|
|
Ước tính
|
Cận dưới
|
Cận trên
|
Ước tính
|
Cận dưới
|
Cận trên
|
|
2000
|
3.947
|
2.884
|
5.207
|
28.3%
|
8.200
|
5.300
|
12.400
|
|
2001
|
3.635
|
2.629
|
4.839
|
31.4%
|
7.200
|
4.600
|
11.000
|
|
2002
|
3,366
|
2.457
|
4.498
|
32.6%
|
6.300
|
3.900
|
9.700
|
|
2003
|
3.548
|
2.614
|
4.673
|
31.8%
|
6.700
|
4.200
|
10.400
|
|
2004
|
3.789
|
2.673
|
5.165
|
33.1%
|
7.000
|
4.100
|
11.400
|
|
2005
|
3.489
|
2.518
|
4.682
|
37.2%
|
6.100
|
3.700
|
9.700
|
|
2006
|
3.849
|
2.864
|
5.060
|
36.2%
|
6.800
|
4.300
|
10.500
|
|
2007
|
3.100
|
2.222
|
4.200
|
35.3%
|
5.600
|
3.200
|
8.900
|
|
2008
|
2.942
|
2.120
|
3.992
|
35.4%
|
5.300
|
3.000
|
8.500
|
|
2009
|
3.510
|
2.497
|
4.749
|
33.1%
|
6.500
|
3.700
|
10.500
|
|
2010
|
3.668
|
2.953
|
4.543
|
33.7%
|
6.700
|
4.000
|
10.000
|
|
2011
|
3.233
|
2.648
|
3.965
|
34.5%
|
5.900
|
3.500
|
8.700
|
|
2012
|
3.495
|
2.642
|
4.866
|
34.4%
|
6.300
|
3.500
|
10.300
|
|
2013
|
3.286
|
2.612
|
4.109
|
27.7%
|
6.400
|
3.700
|
10.000
|
|
2014
|
3.177
|
2.488
|
4.089
|
35.1%
|
5.700
|
3.400
|
8.800
|
|
2015
|
2.286
|
1.953
|
2.680
|
34.9%
|
4.100
|
2.600
|
5.900
|
|
2016
|
2.559
|
2.147
|
3.025
|
30.3%
|
4.800
|
2.900
|
7.200
|
|
2017
|
2.323
|
1.889
|
2.850
|
31.2%
|
4.400
|
2.600
|
6.600
|
|
2018
|
2.155
|
1.699
|
2.702
|
33.2%
|
3.900
|
2.200
|
6.200
|
|
2019
|
2.087
|
1.644
|
2.584
|
31.7%
|
3.900
|
2200
|
6.100
|
|
2020
|
2.149
|
1.687
|
2.658
|
29.5%
|
4.100
|
2.300
|
6.500
|
|
2021
|
1.845
|
1.460
|
2.259
|
32.8%
|
3.400
|
1.900
|
5.400
|
|
2022
|
2.398
|
1.884
|
2.957
|
29.1%
|
4.600
|
2.500
|
7.200
|
|
2023
|
2.255
|
1.779
|
2.766
|
31.0%
|
4.200
|
2.400
|
6.700
|
|
2024
|
2.448
|
1.951
|
2.981
|
28.7%
|
4.700
|
2.600
|
7.400
|
Sự gia tăng sốt rét ở Papua New Guinea trùng khớp với việc trì hoãn các biện
pháp kiểm soát véc tơ, tình trạng thiếu hụt các thiết bị chẩn đoán và điều trị,
hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ ở các khu vực vùng sâu, vùng xa và sự gia
tăng các điểm muỗi sốt rét sinh sản do biến đổi khí hậu.
Xu hướng mắc sốt rét ở Indonesia chủ yếu được quan sát thấy ở các tỉnh
phía Đông xa xôi, chẳng hạn như Papua và Tây Papua, chịu ảnh hưởng bởi sự di
dân, hạn chế tiếp cận các dịch vụ y tế và sự khác biệt về phạm vi bao phủ các
biện pháp kiểm soát véc tơ truyền bệnh, trong bối cảnh gia tăng và mở rộng các
hoạt động phát hiện ca bệnh chủ động.
Tại Philippines, các đợt bùng phát sốt rét cục bộ (đặc biệt ở Palawan và khu
vực bị ảnh hưởng bởi xung đột) xảy ra trong bối cảnh lan truyền sốt rét liên
quan đến rừng, những thiếu sót trong việc cung cấp dịch vụ y tế và thiếu giám
sát các nhóm dân di biến động và người bản địa.
Năm 2024, tổng cộng có 4.700 ca tử vong do sốt rét trong khu vực, tăng
11,9% so với năm 2023 (Bảng 7). Papua New Guinea chiếm 78,2% tổng số ca tử vong
trong khu vực; khoảng 77% trường hợp ở Papua New Guinea là do KSTSR P. falciparum.
Trẻ em dưới 5 tuổi chiếm 40% tổng số ca tử vong trong khu vực. Từ năm 2023-2024,
tổng số ca tử vong tăng gần 500 ca do sự gia tăng ở Indonesia, Papua New Guinea
và Philippines. Số ca tử vong giảm một nửa trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm
2015, nhưng xu hướng giảm này đã đảo ngược từ năm 2015 đến năm 2024, với mức
tăng 14,6%. Không có trường hợp tử vong do sốt rét nào được báo cáo tại Hàn Quốc
và Vanuatu kể từ năm 2012, Campuchia kể từ năm 2018 và Việt Nam kể từ năm 2019.
Campuchia và Lào đều không có trường hợp tử vong do sốt rét nào được báo
cáo trong năm 2024. Không có trường hợp tử vong nào do sốt rét ở người được báo
cáo tại Malaysia kể từ năm 2018, tuy nhiên, một số ít trường hợp tử vong sốt
rét do P. knowlesi đã được báo cáo mỗi
năm kể từ đó, với ba trường hợp tử vong xảy ra vào năm 2024.
Tỷ lệ tử vong đã giảm một nửa từ năm 2000 đến năm 2015 nhưng vẫn không
thay đổi kể từ đó, bất chấp những biến động trong giai đoạn 2015-2024 và được ước
tính là 0,4/100.000 DS nguy cơ trong năm
2024 (Hình 15b). Khu vực Tây Thái Bình Dương đã không đạt được các mốc quan trọng
của GTS 2020 về tỷ lệ mắc hoặc tử vong do sốt rét và tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử
vong năm 2024 đều không đạt mục tiêu của GTS. Tỷ lệ mắc bệnh cao gấp 3 lần so với
mục tiêu 0,7/100 DS có nguy cơ, và tỷ lệ tử vong cao gấp 4 lần so mục tiêu 0,1
ca tử vong/100.000 dân số có nguy cơ (Hình 16).
Hình 15. Xu hướng sốt rét (a) Tỷ lệ hiện mắc (số ca/1000 dân số
nguy cơ) và (b) Tỷ lệ mắc (số chết/100.000
DS nguy cơ), 2000-2024; và (c) Số ca
mắc theo quốc gia ở khu vực Tây Thái Bình Dương, 2024.
Tỷ lệ mắc và tử vong sốt rét không giảm chủ yếu là do số ca mắc và tử vong
tăng từ 25% đến 70% ở Papua New Guinea, nơi chiếm phần lớn gánh nặng sốt rét
trong khu vực (Hình 15c). Tỷ lệ mắc bệnh tăng 70% trở lên ở Quần đảo Solomon,
nơi cũng chiếm một tỷ lệ lớn các trường hợp mắc trong khu vực, và Vanuatu, nơi
xu hướng cần được diễn giải một cách thận trọng do số ca mắc thấp. Năm 2015,
Vanuatu bị ảnh hưởng bởi một cơn bão lớn làm gián đoạn nghiêm trọng các dịch vụ
chẩn đoán sốt rét và chăm sóc y tế.
Do đó, có khả năng số ca mắc sốt rét năm 2015 đã bị đánh giá thấp. Điều
này làm sai lệch việc đánh giá tiến độ đạt được các mục tiêu GTS so với mức cơ
sở năm 2015 của Vanuatu. Trung Quốc đã được cấp chứng nhận LTSR vào năm 2021,
và Malaysia đã báo cáo không có trường hợp sốt rét nào do KSTSR ở người gây ra
trong năm thứ bảy liên tiếp kể từ năm 2018. Các quốc gia gồm Campuchia, Lào và
Việt Nam, tỷ lệ mắc giảm từ 70% trở lên, trong khi Indonesia và Philippines mỗi
nước giảm từ 25% đến 70% (Hình 5, Bảng 7).
Không có sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh giữa năm 2015 và năm 2024 ở Hàn Quốc.
Hình 2.16. So sánh tiến độ giảm a)
tỷ lệ mắc mới và b) tỷ lệ tử vong do sốt rét tại Khu vực Tây Thái BÌnh Dương
theo hai kịch bản: Duy trì xu hướng hiện tại (xanh dương) và Đạt được mục tiêu
GTS (xanh lá cây)
Hầu hết các nước trong khu vực đang trên đà đạt được các mục tiêu GTS 2025
về tỷ lệ tử vong và không có trường hợp tử vong sốt rét nào được báo cáo
(Campuchia, Lào, Malaysia, Hàn Quốc, Vanuatu và Việt Nam). Indonesia và
Philippines có mức giảm từ 25% đến 70% (Hình 16). Tỷ lệ tử vong tăng lên ở
Papua New Guinea (tăng từ 25% đến 70%) và Quần đảo Solomon (tăng từ 70% trở
lên).
(còn nữa)---> Tiếp theo Phần 5
TS. Đỗ Văn Nguyên và
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang
Viện Sốt
rét-KST-CT Quy Nhơn