GIỚI THIỆU
Các bệnh truyền nhiễm gây ra mối đe dọa đáng kể đối với sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng đến hàng tỷ người và gây áp lực lên hệ thống chăm sóc sức khỏe (CSSK) trên toàn thế giới. Ngày càng có nhiều lo ngại về việc biến đổi khí hậu do con người gây ra có thể làm trầm trọng thêm gánh nặng toàn cầu của các bệnh truyền nhiễm “nhạy cảm” với khí hậu. Bài viết này đề xuất một khuôn khổ để hiểu điều gì khiến một bệnh truyền nhiễm trở nên nhạy cảm với khí hậu. Dựa trên các tài liệu hiện có, xác định ba đặc điểm chính của các bệnh nhạy cảm với khí hậu - tính mùa vụ, ranh giới địa lý và sự biến đổi giữa các năm liên quan đến các hiện tượng khí hậu. Định nghĩa tính nhạy cảm với khí hậu là khả năng phản ứng của các đặc điểm của mầm bệnh, vật chủ và vật truyền bệnh (một đặc điểm có thể đo lường được của sinh vật ảnh hưởng đến khả năng thích nghi của nó) đối với những thay đổi trong khí hậu, bất kể những thay đổi này phát sinh từ sự biến đổi tự nhiên hay tác động của con người lên khí hậu; thảo luận về cách các bệnh truyền nhiễm thể hiện các mức độ nhạy cảm với khí hậu khác nhau (từ cao đến thấp), với sự thừa nhận rằng việc phân loại các bệnh truyền nhiễm có thể phát triển khi các nghiên cứu mới xuất hiện.
Xem xét các bằng chứng từ các nghiên cứu sinh thái và mô hình hóa cho thấy tác động phi tuyến tính và chậm trễ của biến đổi khí hậu đối với các đặc điểm của mầm bệnh, vật trung gian truyền bệnh và vật chủ, nhấn mạnh tầm quan trọng của các yếu tố khí hậu và phi khí hậu, chẳng hạn như miễn dịch cộng đồng, toàn cầu hóa và nghèo đói, trong việc xác định sự phân bố bệnh tật và thúc đẩy các mô hình lây truyền; nhấn mạnh rằng nguy cơ lây truyền bệnh truyền nhiễm có mối liên hệ mật thiết với các vấn đề sức khỏe toàn cầu. Cuối cùng, thảo luận về cách tận dụng sự hiểu biết này có thể tăng cường công tác phòng ngừa, chuẩn bị và ứng phó với dịch bệnh truyền nhiễm thông qua việc phát triển các dịch vụ khí hậu cho sức khỏe, bao gồm cả hệ thống cảnh báo sớm, từ đó cải thiện các chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu và khả năng phục hồi của hệ thống y tế.
Các bệnh truyền nhiễm do các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, vi rút, nấm, ký sinh trùng và prion (hay đạm độc không có chât liệu di truyền, là một loại phân tử protein bất thường có khả năng tự nhân lên và gây ra các bệnh thoái hóa thần kinh chết người ở người và động vật) gây ra chiếm khoảng một phần ba tỷ lệ mắc bệnh và tử vong trên toàn cầu, con số này tăng lên gần hai phần ba ở trẻ em dưới 5 tuổi. Khoảng 80% các loài gây bệnh ở người là do môi trường trung gian, nghĩa là chúng tồn tại trong môi trường hoặc lây nhiễm sang động vật không phải con người, chứ không phải lây truyền trực tiếp từ người sang người.
Các bệnh lây truyền qua môi trường bao gồm các bệnh lây truyền qua vật trung gian, qua nước, qua thực phẩm, qua không khí và bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người (bệnh truyền nhiễm có thể lây từ động vật có xương sống không phải người sang người). Bệnh lây truyền qua vật trung gian chiếm 17% tổng số bệnh truyền nhiễm. Ví dụ, các bệnh do muỗi truyền như sốt rét gây ra ước tính 263 triệu ca mắc mỗi năm trên 85 quốc gia và 3,9 tỷ người ở hơn 132 quốc gia có nguy cơ mắc sốt xuất huyết. Nhìn chung, ước tính có hơn 1 tỷ người mắc bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người mỗi năm. Bệnh tiêu chảy lây truyền qua nước là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ hai ở trẻ em dưới 5 tuổi, với ước tính 1,3-4 triệu ca bệnh tả ở trẻ em và người lớn mỗi năm. Một số bệnh truyền nhiễm lây truyền qua môi trường được biết là nhạy cảm với các yếu tố khí hậu (như nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm, cùng nhiều yếu tố khác), làm dấy lên những lo ngại đáng kể về việc biến đổi khí hậu do con người gây ra làm trầm trọng thêm nguy cơ và gánh nặng của các bệnh này, đồng thời làm thay đổi sự phân bố và mô hình lây lan.
Bằng chứng cũng chỉ ra rằng một số bệnh lây truyền trực tiếp, đặc biệt là nhiễm trùng đường hô hấp, bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khí hậu như độ ẩm, nhiệt độ và tia cực tím. Cả nhiễm trùng đường hô hấp trên và dưới đều gây ra gánh nặng đáng kể cho sức khỏe cộng đồng. Năm 2021, ước tính nhiễm trùng đường hô hấp dưới đã gây ra 2,18 triệu ca tử vong, vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em và người lớn tuổi. Biến đổi khí hậu cũng có khả năng làm thay đổi sự phân bố và gánh nặng của những bệnh này. Các quan sát trực tiếp, nghiên cứu mô hình và đánh giá có hệ thống trong những thập kỷ qua cho thấy biến đổi khí hậu do con người gây ra làm thay đổi sự xuất hiện, mức độ phổ biến và mô hình không gian - thời gian của các bệnh truyền nhiễm thông qua nhiều con đường dây chuyền riêng biệt. Kể từ Cách mạng Công nghiệp, các hoạt động của con người đã thải ra một lượng khí nhà kính chưa từng có, góp phần làm tăng nhiệt độ bề mặt toàn cầu khoảng 1,1°C kể từ năm 1850-1900.
Những thay đổi này đang làm thay đổi các mô hình thời tiết khu vực và địa phương, làm dịch chuyển các điều kiện khí hậu trung bình và làm tăng tần suất và cường độ của các hiện tượng khí hậu cực đoan, tất cả đều có tác động rõ rệt và ngày càng tăng đối với động lực của bệnh truyền nhiễm. Ranh giới địa lý của một số bệnh đang bị xói mòn và các vùng có khí hậu phù hợp đang mở rộng đến các vĩ độ và độ cao cao hơn do biến đổi khí hậu do con người gây ra, cũng như toàn cầu hóa, du lịch và thay đổi sử dụng đất. Đỉnh điểm theo mùa về tỷ lệ mắc bệnh đang dịch chuyển và gánh nặng bệnh tật có thể chuyển từ bệnh này sang bệnh khác. Ví dụ, sự gia tăng nhiệt độ do con người gây ra ở vùng cận Sahara Châu Phi có khả năng thúc đẩy các điều kiện môi trường thích hợp các bệnh do virus lây truyền qua muỗi Ae. aegypti (như sốt xuất huyết, Chikungunya và Zika) đồng thời làm giảm tính thích hợp cho lây truyền bệnh sốt rét do muỗi An. gambiae gây ra. Biến đổi khí hậu do con người gây ra đang làm thay đổi nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm, bao gồm sự gia tăng mở rộng ở một số khu vực và giảm hoặc phân bố lại ở những khu vực khác. Tuy nhiên, vẫn chưa có sự đồng thuận mạnh mẽ về việc biến đổi khí hậu do con người gây ra sẽ ảnh hưởng như thế nào đến các bệnh truyền nhiễm khác nhau trong những thập kỷ tới.
Do đó, việc hiểu rõ điều gì khiến một bệnh truyền nhiễm nhạy cảm với khí hậu là điều cần thiết để dự đoán tốt hơn về cách biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng đến thời điểm và địa điểm bùng phát dịch bệnh. Tuy nhiên, thuật ngữ bệnh truyền nhiễm nhạy cảm với khí hậu vẫn chưa được định nghĩa rõ ràng. Có sự nhầm lẫn trong giới học thuật và các tài liệu rộng hơn, cũng như giữa các nhà tài trợ, nhà hoạch định chính sách và các chuyên gia (bao gồm cả lĩnh vực nhân đạo) về việc liệu bệnh truyền nhiễm nhạy cảm với khí hậu chỉ đề cập đến các bệnh được biết là bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu do con người gây ra hay không. Sự nhầm lẫn cũng tồn tại về sự khác biệt giữa thời tiết, biến đổi khí hậu và cách chúng tương tác với các yếu tố khác thúc đẩy tỷ lệ mắc bệnh. Ngoài ra, thuật ngữ độ nhạy có nhiều định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào từng ngành.
Trong cộng đồng khoa học khí hậu, độ nhạy khí hậu đặc biệt đề cập đến sự thay đổi trong sự nóng lên toàn cầu hàng năm để đáp ứng với một lượng carbon dioxide nhất định trong khí quyển. Trong khoa học sinh học, độ nhạy là khả năng của một hệ thống hoặc sinh vật phản ứng với những thay đổi trong các tác nhân kích thích, ví dụ như ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm. Nếu những thay đổi nhỏ trong một tác nhân kích thích gây ra phản ứng, thì hệ thống hoặc sinh vật đó được coi là nhạy cảm. Với vô số cách hiểu khác nhau về tính nhạy cảm với khí hậu, cần phải thống nhất sự hiểu biết liên ngành về những yếu tố khiến một bệnh truyền nhiễm trở nên nhạy cảm với khí hậu. Trong quan điểm cá nhân này, đề xuất một khuôn khổ để phân loại các bệnh truyền nhiễm theo mức độ nhạy cảm với khí hậu, từ thấp đến cao, dựa trên các bằng chứng hiện có, đồng thời thừa nhận rằng các phân loại có thể phát triển khi các nghiên cứu mới xuất hiện. Đầu tiên, định nghĩa độ nhạy cảm với khí hậu là khả năng phản ứng của các đặc điểm (một đặc điểm có thể đo lường được của sinh vật ảnh hưởng đến khả năng thích nghi của nó) trong sinh thái học bệnh tật đối với những thay đổi trong biến đổi khí hậu tự nhiên và tác động của con người lên khí hậu.
Thứ hai, dựa trên các tài liệu hiện có, phác thảo ba đặc điểm xác định được thể hiện bởi các bệnh truyền nhiễm nhạy cảm với khí hậu, mang tính mùa vụ; ranh giới lịch sử, địa lý cụ thể; và sự biến đổi giữa các năm liên quan đến các hiện tượng khí hậu như hệ thống gió mùa, dao động Nam El Niño (ENSO) và lưỡng cực Ấn Độ Dương.
Thứ ba, xem xét bằng chứng từ các nghiên cứu sinh thái và mô hình hóa về các tác động phi tuyến tính và chậm trễ của khí hậu đối với các đặc điểm của mầm bệnh, vật chủ không phải con người, vật trung gian truyền bệnh và vật chủ là con người, đồng thời lưu ý rằng các yếu tố phi khí hậu như miễn dịch, toàn cầu hóa, thay đổi sử dụng đất, vệ sinh môi trường và nghèo đói thường đóng vai trò tương tác trong phân bố bệnh tật và dịch tễ học. Xuyên suốt bài viết, tập trung vào các tác nhân gây bệnh lây nhiễm cho con người và gây ra gánh nặng đáng kể trên toàn cầu. Cuối cùng, thảo luận về cách hiểu biết thống nhất về các bệnh truyền nhiễm nhạy cảm với khí hậu có thể cải thiện sự hợp tác liên ngành giữa các nhà nghiên cứu, các chuyên gia y tế, lực lượng ứng phó khẩn cấp và các nhà hoạch định chính sách trong các hoạt động phòng ngừa, chuẩn bị và ứng phó với dịch bệnh thông qua việc nhanh chóng cải thiện các dịch vụ khí hậu cho sức khỏe. Tóm lại, việc hiểu rõ hơn điều gì khiến một bệnh truyền nhiễm trở nên nhạy cảm với khí hậu là rất quan trọng để thiết kế các biện pháp can thiệp hiệu quả nhằm giảm bớt đau khổ cho con người.
Hiểu về độ nhạy cảm của khí hậu
Trải qua hàng thiên niên kỷ, khí hậu trái đất đã góp phần định hình sự tiến hóa và hệ sinh thái của các bệnh truyền nhiễm cũng như vật chủ và vật trung gian truyền bệnh. Do đó, một số tác nhân gây bệnh, vật chủ và vật trung gian truyền bệnh cần các điều kiện khí hậu và môi trường cụ thể để phát triển và tồn tại. Định nghĩa độ nhạy cảm với khí hậu là khả năng phản ứng của các khía cạnh khác nhau trong hệ sinh thái bệnh tật (bao gồm các đặc điểm bên trong tác nhân gây bệnh, vật trung gian truyền bệnh, vật chủ không phải con người và con người) đối với các biến số khí hậu.
Các bệnh truyền nhiễm nhạy cảm với khí hậu phản ứng với những thay đổi khí hậu bất kể những thay đổi này xuất phát từ sự biến đổi tự nhiên hay tác động của con người lên khí hậu. Độ nhạy cảm với khí hậu bao gồm ảnh hưởng của các điều kiện khí hậu trung bình dài hạn được tính toán trên nhiều độ phân giải thời gian khác nhau (hàng ngày, hàng tháng và hàng thập kỷ) đến việc định hình tính mùa vụ, phân bố địa lý và các mô hình không gian - thời gian (hình 1).
Nó cũng bao gồm cách thức các biến đổi hàng năm trong các điều kiện khí hậu trung bình (biến đổi khí hậu) và các bất thường trong phạm vi trên hoặc dưới của các điều kiện thời tiết hoặc hiện tượng khí hậu được quan sát (các hiện tượng khí hậu cực đoan) có thể thúc đẩy sự dao động giữa các năm về tỷ lệ mắc bệnh. Các hiện tượng khí hậu cực đoan là các sự kiện thời tiết hoặc khí hậu khắc nghiệt bất thường, lệch đáng kể so với mức trung bình dài hạn hoặc sự biến đổi điển hình trong một khu vực cụ thể. Những sự kiện này có thể xảy ra trong thời gian ngắn (vài giờ hoặc vài ngày) hoặc kéo dài trong thời gian dài (vài tuần hoặc vài tháng) và bao gồm các mối nguy hiểm như lũ lụt, sóng nhiệt, sóng lạnh và hạn hán.
Các hiện tượng khí hậu cực đoan có thể bao gồm cả những sự kiện hiếm gặp của thời tiết cực đoan và những sai lệch kéo dài so với các mô hình khí hậu dự kiến. Cuối cùng, tính nhạy cảm với khí hậu bao gồm ảnh hưởng của những thay đổi và xu hướng dài hạn về khí hậu (biến đổi khí hậu). Biến đổi khí hậu do con người gây ra đang dẫn đến các hình thái thời tiết và khí hậu khó dự đoán hơn, cũng như làm thay đổi tần suất hoặc cường độ của các hiện tượng khí hậu cực đoan. Biến đổi khí hậu do con người gây ra có khả năng làm thay đổi các mô hình theo mùa và vùng lây truyền trong lịch sử, và có thể ảnh hưởng đến thời điểm, quy mô và thời gian của dịch bệnh. Các bệnh truyền nhiễm có tính nhạy cảm cao với khí hậu thường thể hiện tính mùa vụ rõ rệt, phân bố địa lý riêng biệt và sự biến đổi giữa các năm có liên quan chặt chẽ đến các yếu tố khí hậu.

Hình 1. Sơ đồ mô tả cách khí hậu (điều kiện khí hậu trung bình, sự biến đổi và các điều kiện cực đoan) tác động đến ba đặc điểm - tính mùa vụ, phân bố địa lý và biến động giữa các năm của các bệnh truyền nhiễm nhạy cảm với khí hậu.
Điều kiện khí hậu trung bình dài hạn ảnh hưởng đến tính mùa vụ của bệnh tật, sự phân bố địa lý và các mô hình không gian - thời gian. Sự biến đổi khí hậu và các hiện tượng cực đoan thúc đẩy sự dao động giữa các năm trong việc lây truyền bệnh. Biến đổi khí hậu do con người gây ra có khả năng làm thay đổi các mô hình theo mùa trong lịch sử, làm dịch chuyển thời điểm bắt đầu, kết thúc hoặc thời gian kéo dài của các giai đoạn lây truyền cao và sự phân bố địa lý bằng cách có khả năng mở rộng, thu hẹp hoặc dịch chuyển các khu vực lây truyền. Biến đổi khí hậu này cũng có thể ảnh hưởng đến sự biến động giữa các năm, có khả năng ảnh hưởng đến thời điểm, quy mô và thời gian của các dịch bệnh.
Tính thời vụ
Các bệnh truyền nhiễm nhạy cảm với khí hậu thường thể hiện tính mùa vụ rõ rệt, tức là đạt đỉnh điểm vào những thời điểm hoặc tháng cụ thể trong năm, theo các mô hình khí hậu theo mùa tạo ra các điều kiện sinh thái phù hợp. Ở các vùng nhiệt đới, các bệnh do muỗi truyền đạt đạt đỉnh điểm trong và sau mùa mưa ấm áp, khi lượng mưa và nhiệt độ tạo ra điều kiện tối ưu cho sự sinh sản và lây truyền của vật trung gian truyền bệnh. Tương tự, tỷ lệ mắc các bệnh truyền nhiễm từ động vật gặm nhấm sang người, chẳng hạn như hội chứng phổi do Hantavirus và sốt Lassa, thường tăng lên trong hoặc sau mùa mưa, khi quần thể động vật gặm nhấm gia tăng do nguồn thức ăn dồi dào và sinh sản, từ đó làm tăng sự tiếp xúc giữa người và động vật gặm nhấm.
Các bệnh lây truyền qua đường nước như bệnh Leptospirosis và các bệnh tiêu chảy thường xảy ra trong mùa mưa nhiệt đới, liên quan đến lượng mưa lớn và lũ lụt. Ở Châu Phi cận Sahara, bệnh viêm màng não (do não mô cầu và phế cầu) đạt đỉnh điểm vào mùa đông khô hanh, nhiều bụi và giảm dần vào mùa mưa, được cho là do độ ẩm thấp và bụi làm suy yếu khả năng bảo vệ niêm mạc. Các đợt bùng phát nhiễm trùng đường hô hấp như cúm và virus hợp bào hô hấp chủ yếu xảy ra vào mùa đông ở các vùng ôn đới. Tuy nhiên, ở vùng nhiệt đới, chúng trùng với mùa mưa. Những mô hình bệnh tật theo mùa rộng lớn này sẽ có thời điểm cụ thể về sự khởi phát, đỉnh điểm và kết thúc tùy thuộc vào hệ sinh thái địa phương.
Các cơ chế thúc đẩy tính mùa vụ của các bệnh truyền nhiễm rất đặc thù đối với từng địa điểm và từng loại bệnh, thường chưa được hiểu đầy đủ và thường liên quan đến sự tương tác giữa các yếu tố khí hậu, môi trường và xã hội. Ở những vùng có điều kiện khí hậu trung bình ổn định quanh năm và không có các thời kỳ khô - ướt hoặc hè - đông rõ rệt, thường là những biến đổi quy mô nhỏ hơn ảnh hưởng đến mô hình lây truyền. Ví dụ, tại tỉnh Tak, Thái Lan, nơi nhiệt độ trung bình ổn định quanh năm, sự lây truyền bệnh sốt xuất huyết đạt đỉnh điểm trong các thời kỳ có sự dao động nhiệt độ hàng ngày tối thiểu, tạo điều kiện tối ưu cho muỗi Ae. aegypti.
Ở các vùng ôn đới, dịch cúm thường xảy ra vào mùa đông và có liên quan đến độ ẩm thấp (cả tương đối và tuyệt đối), tình trạng đông đúc trong nhà gia tăng và bức xạ mặt trời giảm, hoặc sự kết hợp của các yếu tố này mà không có nguyên nhân cụ thể. Các yếu tố thúc đẩy tính mùa vụ của bệnh cúm ở các vùng nhiệt đới, nơi dịch bệnh bùng phát trùng với mùa mưa, vẫn chưa rõ ràng. Nhiều bài đánh giá đã nhấn mạnh sự phức tạp trong việc xác định các yếu tố theo mùa gây ra bệnh truyền nhiễm, nêu bật các yếu tố như miễn dịch cộng đồng, kỳ học, lễ hội tôn giáo, các cuộc tụ họp đông người như Lễ hội Carnival ở Brazil, Lễ hành hương Hajj ở Ả Rập Xê Út hoặc Tết Nguyên đán ở Việt Nam và di cư theo mùa, có thể liên quan đến khí hậu.
Một số bệnh truyền nhiễm nhạy cảm với khí hậu, bao gồm nhưng không giới hạn ở sốt rét, sốt xuất huyết, Zika, Chikungunya, virus West Nile, Hantavirus, sốt Lassa, viêm màng não do não mô cầu và phế cầu, cúm, virus hợp bào hô hấp, cho thấy tính mùa vụ rõ rệt, được thúc đẩy bởi các mô hình khí hậu tạo ra các điều kiện sinh thái thuận lợi cho sự lây truyền. Tuy nhiên, các cơ chế cơ bản khác nhau tùy theo bệnh và địa điểm, thường liên quan đến sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố khí hậu, môi trường và xã hội.
(Hết Phần 1) ----> (Tiếp theo Phần 2)
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang & Ths.BS. Châu Văn Khánh
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn