4.3. Truyền thông giáo dục sức khỏe
Các phương pháp tiếp cận về giáo dục và nâng cao sức khỏe được xem là giải pháp hiệu quả trong việc thay đổi tập quán chăn nuôi lợn (Sarti và cs., 1997; Wohlgemut và cs., 2010) và tăng cường tỷ lệ người mang sán dây trưởng thành “tự giác khai báo”. Giáo dục sức khỏe cũng giúp giảm thiểu nguy cơ nhiễm bệnh liên quan đến thói quen chế biến thực phẩm, bao gồm việc tiêu thụ thịt lợn chưa nấu chín kỹ do phương pháp chế biến không bảo đảm (Djurkovic-Djakovic và cs., 2013), hoặc ăn thịt lợn sống (Silva-Vergara và cs., 1998; Djurkovic-Djakovic và cs., 2013). Bằng chứng thuyết phục nhất về tác động của giáo dục sức khỏe, dựa trên các nghiên cứu có thiết kế chặt chẽ (như phân nhóm ngẫu nhiên và có nhóm đối chứng), đã được chứng minh tại nhiều bối cảnh khác nhau ở khu vực châu Phi cận Sahara (Bảng 6).
Tại Tanzania, một hướng tiếp cận ứng dụng hướng dẫn Tiêu chuẩn Báo cáo Thử nghiệm Tổng hợp (Consolidated Standards of Reporting Trials - CONSORT) để lập kế hoạch can thiệp trên các hộ chăn nuôi lợn quy mô nhỏ đã ghi nhận sự sụt giảm (chưa kiểm định ý nghĩa thống kê) tỷ lệ mới mắc huyết thanh kháng nguyên ấu trùng sán lợn ở nhóm can thiệp sau thời gian triển khai, mặc dù kiến thức người dân ở cả các thôn đối chứng và can thiệp đều được cải thiện (Ngowi và cs., 2009). Một thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên theo cụm nhằm đánh giá can thiệp giáo dục sức khỏe trên học sinh tại Tanzania đã cho thấy sự cải thiện rõ rệt về kiến thức và thái độ sau 6 tháng so với thời điểm ban đầu. Tuy nhiên, điểm số kiến thức/ thái độ gia tăng ở cả nhóm chứng và nhóm can thiệp gợi ý khả năng đã xảy ra hiện tượng lây nhiễm thông tin giữa các nhóm (Mwidunda và cs., 2015). Một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng theo cụm khác, nhằm đánh giá chương trình sức khỏe dựa vào cộng đồng can thiệp giáo dục tại Burkina Faso cho thấy tỷ lệ mới mắc kháng nguyên ATSDL ở người giảm tích lũy và giảm nguy cơ mắc (CIR hiệu chỉnh) ở những đối tượng tiếp cận chương trình giáo dục sức khỏe, mặc dù không ghi nhận sự sụt giảm có ý nghĩa thống kê đối với các yếu tố nguy cơ liên quan (Carabin và cs., 2018).
Công cụ giáo dục sức khỏe trên máy tính mang tên "The Vicious Worm" (Vang Johansen và cs., 2014) đã được đánh giá trong nhiều bối cảnh khác nhau, cho thấy sự cải thiện đáng kể về kiến thức và thái độ trong cả ngắn hạn lẫn dài hạn ở cán bộ y tế và cán bộ nông nghiệp tại Tanzania (Ertel và cs., 2017; Lauridsen và cs., 2019) cũng như ở học sinh tiểu học tại Zambia (Hobbs và cs., 2018b, 2019), dù tác động đến sự lan truyền mầm bệnh vẫn chưa được xác định. Trong bối cảnh tại Zambia, việc sử dụng "The Vicious Worm" là một phần của nghiên cứu can thiệp Taenia solium (CYSTISTOP) dựa vào cộng đồng, quy mô lớn và theo dõi tiến cứu (Hobbs và cs., 2018a, 2019), điều này có thể gây khó khăn trong việc tách biệt hiệu quả của cấu phần giáo dục sức khỏe với các cấu phần can thiệp khác. Bảng 6 tóm tắt các nghiên cứu đã triển khai những can thiệp về giáo dục sức khỏe.
Bảng 6. Các nghiên cứu can thiệp phòng chống Taenia solium tập trung vào TTGDSK
| Quốc gia/Nhóm đối tượng | Thời gian theo dõi | Tác động của can thiệp | Đặc điểm chính và hạn chế | Tài liệu tham khảo |
| Mexico Giáo viên, nhân viên y tế, học sinh, cộng đồng nói chung | 12 tháng & 36 tháng | Giảm 77% bệnh ấu trùng sán dây lợn ở lợn (giá trị p < 0,05), giảm 56% bệnh sán dây ở người sau 36 tháng (không có ý nghĩa thống kê). Tăng đáng kể kiến thức và giảm 50% số lợn thả rông | Không phân nhóm ngẫu nhiên hoặc không có nhóm chứng; nhóm so sánh là tỷ lệ hiện mắc ban đầu Tác động truyền thông nâng cao sức khỏe rộng hơn (liên quan đến dịch tả) | Sarti và cs., 1997* |
| Tanzania Nông dân | 12 tháng | Giảm 43% bệnh ấu trùng sán dây lợn ở lợn. Cải thiện đáng kể ở cả nhóm chứng và nhóm can thiệp & giảm tiêu thụ thịt lợn nhiễm ấu trùng sán | Sai lệch thông tin do sử dụng bảng câu hỏi tự báo cáo (Carabin and Traoré, 2014) | Ngowi và cs., 2009* |
| Kenya Người chăn nuôi lợn | 24 tháng | Các chỉ số nhiễm trùng không được đo lường. Kiến thức tăng ở những người tham gia hội thảo và tỷ lệ nhốt/cột xích lợn tăng đáng kể | Không phân nhóm ngẫu nhiên hoặc không có nhóm chứng Sai lệch thông tin do sử dụng bảng câu hỏi tự báo cáo (Carabin and Traoré, 2014) | Wohlgemut và cs., 2010* |
| Ấn Độ Học sinh, nông dân, cộng đồng nói chung | 6 tháng | Các chỉ số nhiễm trùng không được đo lường. Kiến thức tăng 46%; hành vi rửa tay tăng 4,8 lần; sử dụng nhà tiêu tăng 3,6 lần | Không phân nhóm ngẫu nhiên hoặc không có nhóm chứng Sai lệch thông tin do tự báo cáo về bệnh sán dây | Alexander và cs., 2012* |
| Tanzania Thử nghiệm ngẫu nhiên phân cụm (Cluster RCT) đánh giá can thiệp GDSK ở học sinh | 6 & 12 tháng sau can thiệp | Điểm tổng thể tăng khoảng 10% ở tất cả các trường sau 6 tháng. Mức cải thiện điểm kiến thức cao nhất đối với bệnh ATSDL ở người (tỷ số hiện mắc hiệu chỉnh [adjusted PPR] = 1,54, KTC Bayes 95% = 1,29–1,84) tại thời điểm 12 tháng so với mức ban đầu ở nhóm can thiệp | Nguy cơ nhiễm chéo can thiệp (contamination) giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng | Mwidunda và cs., 2015§ |
| Tanzania Công cụ giáo dục trên máy vi tính ‘The Vicious Worm’ ( ) | Ngay sau can thiệp/ 2 tuần sau can thiệp | 77% số cá nhân (CI95% = 67,7-86,3%) cải thiện kiến thức (ngay sau can thiệp) & duy trì được 70% số điểm (2 tuần sau can thiệp) | Cỡ mẫu nhỏ, thời gian theo dõi rất ngắn.Không phân nhóm ngẫu nhiên hoặc không có nhóm chứng | Ertel và cs., 2017§ |
| Zambia Hội thảo giáo dục tại các trường tiểu học với công cụ ‘The Vicious Worm’ ( ) | Khảo sát bằng bảng câu hỏi trước & sau hội thảo | Kiến thức của người tham gia tăng đáng kể so với bảng câu hỏi ban đầu: tiếp thu kiến thức tăng 11,5%, giá trị p < 0,001; bảng câu hỏi sửa đổi: tiếp thu kiến thức tăng 20,5%, giá trị p < 0,0001 | Bảng câu hỏi sử dụng có sự khác biệt giữa các điểm nghiên cứu Cỡ mẫu nhỏ Không phân nhóm ngẫu nhiên hoặc không có nhóm chứng | Hobbs và cs., 2018b§ |
| Burkina Faso Chương trình giáo dục toàn cộng đồng (dựa trên cách tiếp cận PRECEDE-PROCEED tăng cường phát triển bởi Ngowi và cs. (2017)), được đánh giá trong một thử nghiệm Cluster RCT ( làng) | Ban đầu: 18 tháng trước can thiệp. 36 tháng sau can thiệp | Tỷ lệ mới mắc tích lũy của bệnh ATSDL thể hoạt động (huyết thanh) ở người (ở cấp độ làng) giảm từ thời điểm ban đầu đến 36 tháng sau can thiệp (tỷ số tỷ lệ mới mắc tích lũy hiệu chỉnh = 0,65, KTC Bayes 95% = 0,39–1,05; & aPPR = 0,84, KTC Bayes 95% = 0,59–1,18). Tỷ số mới mắc < 1 ở 2 trong số 3 tỉnh | Ghi nhận có sự mất cân bằng về tỷ lệ hiện mắc bệnh ATSDL thể hoạt động ban đầu giữa các làng chứng và làng can thiệp. Mất dấu theo dõi đáng kể trong 3 năm (do phát hiện vàng trong khu vực), nên đã thay thế các đối tượng bị mất dấu bằng thành viên khác trong hộ gia đình | Carabin và cs., 2018§ |
| Zambia Theo dõi 1 năm sau nghiên cứu của Hobbs và cs. (2018b) ( ) | 12 tháng | Kiến thức về T. solium cao hơn đáng kể so với trước khi dùng bảng câu hỏi (mức tăng kiến thức = 14,0%, giá trị p < 0,001) | Một phần của khu vực thử nghiệm CYSTISTOP, có khả năng nhiễm chéo với các hoạt động khác của dự án Các hoạt động GDSK được thực hiện thường xuyên hơn ở nhánh loại trừ của thử nghiệm CYSTISTOP Tỷ lệ mất dấu theo dõi là 13,14% so với nghiên cứu ban đầu | Hobbs và cs., 2019§ |
| Tanzania Công cụ GDSK ‘The Vicious Worm’ cung cấp cho cán bộ y tế và nông nghiệp ( ) | Theo dõi 12 tháng sau đợt theo dõi lần 1 từ nghiên cứu của Ertel và cs. (2017) | Điểm kiểm tra ban đầu là 74% trên tất cả các cán bộ chuyên môn, tăng lên 83% ở đợt theo dõi lần 1, 82% ở đợt theo dõi lần 2 và 80% ở đợt theo dõi lần 3 (12 tháng sau đó). Có sự cải thiện đáng kể ở đợt theo dõi lần 3 (các khoảng tin cậy không trùng lặp nhau) | Cỡ mẫu nhỏ Không phân nhóm ngẫu nhiên hoặc không có nhóm chứng | Lauridsen và cs., 2019§ |
BCI: Khoảng tin cậy Bayes (Bayesian credible interval); CI: Khoảng tin cậy (Confidence interval); HE: Giáo dục truyền thông sức khỏe (Health education); mo.: Tháng (Months); PPR: Tỷ số tỷ lệ hiện mắc (Prevalence proportion ratio); RCT: Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (Randomised controlled trial); *Nghiên cứu được xác định và đánh giá trong bài tổng quan của Thomas (2015); § Các nghiên cứu được xác định trong công trình nghiên cứu này.
4.4. Các can thiệp cải thiện chăn nuôi lợn
Chủ yếu tập trung vào chiến lược nuôi nhốt, ví dụ như sử dụng chuồng nuôi. Về mặt lan truyền mầm bệnh, biện pháp này ngăn ngừa lợn tiếp xúc với vật liệu truyền nhiễm của T. solium trong môi trường, đặc biệt là khi kiếm ăn tại các khu vực cộng đồng có người phóng uế bừa bãi ra ngoài môi trường. Tuy nhiên, tại các cộng đồng lưu hành bệnh ATSDL, việc thả rông lợn lại là một phương thức chăn nuôi không đòi hỏi chi phí đầu tư (Gilman và cs., 2012). Việc chuyển đổi sang hệ thống chăn nuôi quy mô lớn hơn với mức độ an toàn sinh học cao tại các vùng lưu hành đòi hỏi sự phát triển kinh tế của khu vực và quốc gia (Lightowlers và cs., 1999) và khó có thể trở thành một giải pháp khả thi trong ngắn hạn đối với các quốc gia lưu hành bệnh.
Chương trình kiểm soát đa diện tại Honduras đã được thảo luận trong phần hóa trị liệu ở người (Medina và cs., 2011), bao gồm một cấu phần tập huấn hướng đến người nuôi lợn nhằm thay đổi tập quán chăn nuôi. Tuy nhiên, không thể tách biệt tác động của riêng cấu phần này trong toàn bộ chương trình can thiệp. Braae và cộng sự (2014) qua phân tích theo dõi dọc đã xác định rằng lợn được nuôi trong điều kiện bán nuôi nhốt có tỷ lệ dương tính huyết thanh với kháng nguyên ấu trùng sán lợn giảm đáng kể. Mặc dù vậy, thiết kế nghiên cứu không can thiệp của Braae và cs. (2014) khiến việc rút ra các kết luận chắc chắn còn gặp nhiều hạn chế (Bảng 7).
Bảng 7. Nghiên cứu can thiệp phòng chống Taenia solium tập trung vào cải thiện chăn nuôi lợn
| Quốc gia/Can thiệp | Thời gian theo dõi | Tác động của can thiệp | Đặc điểm chính và hạn chế | Tài liệu tham khảo |
| Tanzania Nghiên cứu quan sát dọc; các điều tra so sánh giữa lợn nuôi nhốt và lợn không nuôi nhốt | 14 tháng | Lợn nuôi bán nhốt cho thấy tỷ số chênh nhiễm T. solium giảm đáng kể so với lợn nuôi nhốt hoàn toàn khi đo lường bằng Ag-ELISA ( , CI 95% = 0,14-0,78) | Thiết kế không thực nghiệm | Braae và cs., 2014 |
4.5. Cải thiện vệ sinh
Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường do các chất mang mầm bệnh thông qua việc xây dựng và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh là một mắt xích khác trong chu trình truyền bệnh có thể được nhắm tới để can thiệp. Nâng cao vệ sinh cá nhân và hộ gia đình (ví dụ: rửa tay sau khi đi tiêu) có thể giúp giảm phơi nhiễm của con người với trứng T. solium và hạn chế phát triển bệnh ATSDL ở người (Mwape và cs., 2012). Những cải thiện về cơ sở hạ tầng vệ sinh tại hộ gia đình và cộng đồng song hành với thực hành vệ sinh cá nhân mang lại nhiều tác động bên ngoài tích cực liên quan đến việc giảm thiểu nguy cơ mắc các bệnh giun truyền qua đất và các tác nhân gây bệnh tiêu chảy khác (Clasen và cs., 2012; Ziegelbauer và cs., 2012).
Vai trò của môi trường trong sự lan truyền T. solium càng củng cố thêm tính cấp thiết của phương pháp tiếp cận Một sức khỏe (AVMA, 2008; Braae và cs., 2019) nhằm phòng chống và loại trừ T. solium một cách bền vững. Nghiên cứu của Bulaya và cs. (2015) tại Zambia, tập trung vào can thiệp dựa trên phương pháp Vệ sinh Tổng thể do Cộng đồng Làm chủ (Community-Led Total Sanitation - CLTS), đã báo cáo kết quả phân tích giữa kỳ trên một phân nhóm các thôn can thiệp (Bảng 8). Phân tích này ghi nhận sự gia tăng tỷ lệ dương tính huyết thanh ấu trùng sán lợn tại các thôn can thiệp ở thời điểm theo dõi 8 tháng so với ban đầu; tuy nhiên, hiện chưa thể đưa ra kết luận chắc chắn do chưa có kết quả phân tích cuối cùng.
(Còn nữa) ---> (Tiếp theo Phần 8)
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang và CN. Nguyễn Thái Hoàng
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn