4.6. Cải thiện kiểm soát thịt
Việc triển khai các điều kiện vệ sinh cải tiến trong giết mổ động vật tại những vùng lưu hành và tăng cường kiểm soát thịt là các công cụ can thiệp bổ sung nhằm giảm số lượng nang ấu trùng T. solium xâm nhập chuỗi thức ăn qua thịt nhiễm bệnh. Hoạt động phát hiện thường quy thường được thực hiện tại các điểm bán lẻ ở các vùng nông thôn hoặc tại các lò mổ bằng phương pháp kiểm tra lưỡi hoặc kiểm tra thịt lợn, tuy nhiên cả hai phương pháp này đều có độ nhạy kém (Dorny và cs., 2004). Hiện chưa có nghiên cứu nào so sánh tác động tương đối lên sự lan truyền mầm bệnh giữa các phương pháp kiểm tra khác nhau hoặc các kỹ thuật kiểm soát thịt cải tiến.
Bảng 8. Các nghiên cứu can thiệp phòng chống Taenia solium tập trung vào cải thiện vệ sinh
| Quốc gia/Can thiệp | Thời gian theo dõi | Tác động của can thiệp | Đặc điểm chính và hạn chế | Tài liệu tham khảo |
| Zambia Can thiệp Vệ sinh tổng thể do cộng đồng làm chủ (CLTS). Phân tích giữa kỳ trên một tập hợp con các làng can thiệp | 8 tháng sau khi khởi động CLTS | Bệnh ATSDL ở lợn: tỷ lệ hiện mắc tăng 2,9% so với ban đầu (đo lường bằng Ag-ELISA) | Kết quả sơ bộ thấy tỷ lệ tham gia thấp dẫn đến cỡ mẫu nhỏ. Tỷ lệ phản hồi khác nhau giữa nam và nữ trong các điều tra trước và sau can thiệp CLTS | Bulaya và cs., 2015 |
4.7. Điều trị bệnh ấu trùng sán lợn
Việc điều trị bằng thuốc tẩy giun sán ở lợn dựa trên các tác chất diệt nang ấu trùng (Mkupasi và cs., 2013), có tác dụng làm giảm nhanh chóng ổ chứa truyền nhiễm ở lợn, qua đó ngăn chặn sự phơi nhiễm của con người với thịt nhiễm mầm bệnh. Phương pháp tiếp cận này, nhìn chung được triển khai dưới hình thức điều trị hàng loạt cho động vật, được gọi là điều trị dự phòng tập thể (metaphylaxis) ở động vật lấy thịt (Baptiste và Kyvsgaard, 2017). Một loạt các thuốc tẩy giun sán bao gồm flubendazole (Telléz-Girón và cs., 1981); albendazole (ABZ) (Gonzalez và cs., 1995); albendazole sulphate (Peniche-Cardena và cs., 2002) và praziquantel (PZQ) (Gonzalez và cs., 1996) đã được nghiên cứu để điều trị bệnh ấu trùng sán lợn (porcine cysticercosis).
Tuy nhiên, oxfendazole (OFZ) được sử dụng như là lựa chọn điều trị hàng đầu. OFZ, một benzimidazole an toàn và chi phí thấp, đã được xác định qua các nghiên cứu thực nghiệm trong phòng thí nghiệm là một thuốc tẩy giun sán có hiệu lực cao trong việc làm giảm nhanh khả năng sống và sự hiện diện của các nang ấu trùng (Gonzalez và cs., 1996, 1998). OFZ cho thấy hiệu quả cao hơn trong việc loại bỏ các nang ấu trùng còn hoạt động so với các thuốc tẩy giun sán khác như triclabendazole (TCBZ) (Vargas-Calla và cs., 2016) (Bảng 9). Sikasunge và cộng sự (2008b) đã chỉ ra rằng thịt sau điều trị cần từ 10-26 tuần để hồi phục lại trạng thái bình thường như trước khi nhiễm bệnh và cần có thời gian ngừng thuốc tối thiểu 21 ngày trước khi đưa vào tiêu thụ cho người (Moreno và cs., 2012). Một nghiên cứu thực địa ngẫu nhiên có đối chứng ghép cặp không điều trị tại Mozambique (Pondja và cs., 2012) cũng chứng minh rằng các nang ấu trùng mất khả năng sống đã được ghi nhận trong cơ thịt của lợn thuộc nhóm điều trị; đồng thời có sự giảm rõ rệt và có ý nghĩa thống kê về tỷ số chênh cũng như tỷ lệ mới mắc bệnh ATSDL thông qua xét nghiệm phát hiện kháng nguyên ở lợn can thiệp sau 4 và 9 tháng điều trị. Khả năng ứng dụng của OFZ trong điều trị bệnh ấu trùng sán lợn ở người cũng đang được nghiên cứu và thử nghiệm đầu tiên trên người nhằm đánh giá dược động học, tính an toàn và khả năng dung nạp của OFZ gần đây đã được công bố (An và cs., 2019).
4.8. Tiêm phòng vaccine phòng bệnh ấu trùng sán lợn
Các vaccine dự phòng nhằm bảo vệ lợn khỏi bệnh ATSDL đã nhận được sự quan tâm lớn như những công cụ can thiệp tiềm năng để phòng chống và loại trừ bệnh (Lightowlers và cs., 2000; Sciutto và cs., 2008). Vaccine kháng nguyên tái tổ hợp TSOL18 là lựa chọn hàng đầu, mang lại mức độ bảo vệ cao chống lại sự phơi nhiễm T. solium ở động vật được tiêm (Gonzalez và cs., 2005; Jayashi và cs., 2012a) và đã được cấp phép vào năm 2016 bởi Indian Immunologicals Limited (GALVmed, 2017). Hai ứng viên vaccine khác là TSOL45 và một vaccine tripeptide (S3Pvac) mang lại mức độ bảo vệ cao trên động vật thí nghiệm (Martinez-Ocaña và cs., 2011). Một nền tảng phân phối qua đường uống cho vaccine S3Pvac đã được phát triển như một đường dùng thay thế qua đường uống (Sciutto và cs., 2007b).
Bảng 9. Các nghiên cứu can thiệp phòng chống Taenia solium đánh giá hiệu quả điều trị bệnh ấu trùng sán dây lợn ở lợn bằng oxfendazole (OFZ)
| Quốc gia/Can thiệp | Thời gian theo dõi | Thay đổi về bệnh ATSDL ở lợn | Đặc điểm chính và hạn chế (chỉ TNLS thực địa) | Tài liệu tham khảo |
| Peru Nghiên cứu thực nghiệm: OFZ liều uống duy nhất 30 mg/kg (nhóm điều trị so với nhóm chứng không điều trị) | 2,5; 3 tháng | Quan sát thấy các vết sẹo rất nhỏ ở cơ | Không áp dụng | Gonzalez và cs., 1996* |
| Peru Nghiên cứu thực nghiệm: OFZ liều uống duy nhất 30 mg/kg (nhóm điều trị so với nhóm chứng không điều trị) | 0,25; 0,5; 1; 3 tháng | Vẫn nhìn thấy các nang sán không còn khả năng sống tại thời điểm kết thúc nghiên cứu | Không áp dụng | Gonzalez và cs., 1998* |
| Zambia Nghiên cứu thực nghiệm: OFZ liều uống duy nhất 30 mg/kg (nhóm điều trị so với nhóm chứng không điều trị) | 0,25; 1; 2; 6,5 tháng | Nhìn thấy các nang sán không còn khả năng sống tại thời điểm 1 tháng. Không còn nhìn thấy nang sán tại thời điểm 6,5 tháng. | Không áp dụng | Sikasunge và cs., 2008b* |
| Mozambique Thử nghiệm thực địa ngẫu nhiên có đối chứng với OFZ liều uống duy nhất 30 mg/kg | 3; 8 tháng | Không thấy nang sán còn khả năng sống trong cơ tại thời điểm 8 tháng. Giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh ATSDL ở nhóm điều trị đối với lợn 4 tháng tuổi ( , KTC 95% = 0,05–0,36) hoặc lợn 9 tháng tuổi ( , KTC 95% = 0,02–0,16). | Thiết kế nghiên cứu tổng thể chặt chẽ (phân nhóm ngẫu nhiên, có nhóm chứng, sử dụng mổ khám xác định tổn thương và xét nghiệm huyết thanh | Pondja và cs., 2012* |
| Peru Nghiên cứu thực nghiệm: OFZ liều uống duy nhất 30 mg/kg so với TCBZ liều uống duy nhất 30 mg/kg so với nhóm chứng dùng giả dược | 4,25 tháng | Chỉ thấy nang sán thoái hóa trong cơ ở lợn được điều trị bằng OFZ, 1.414 nang sán còn khả năng sống ở nhóm TCBZ và 1.658 nang sán còn khả năng sống ở nhóm chứng | Không áp dụng | Vargas-Calla và cs., 2016§ |
CI: Khoảng tin cậy (Confidence interval); mo.: Tháng (Months); NA: Không áp dụng (Not applicable); OFZ: Oxfendazole; OR: Tỷ số chênh (Odds ratio); TCBZ: Triclabendazole.
* Các nghiên cứu được xác định và đánh giá bởi Thomas và cs. (2015); § Các nghiên cứu được xác định trong công trình nghiên cứu này.
4.8.1 Vaccine TSOL18
Vaccine TSOL18 đã chứng minh hiệu lực rõ rệt trong các điều kiện phòng thí nghiệm (Gonzalez và cs., 2005; Silva và cs., 2010). Trong điều kiện thực địa, TSOL18 cũng cho thấy hiệu quả bảo vệ đáng kể. Một nghiên cứu quy mô nhỏ tại Cameroon đã báo cáo tỷ lệ hiện mắc nang ấu trùng sán lợn là 0% (0/97; CI95% = 0-3,8%) ở lợn được tiêm chủng so với 19,6% (19/97; CI95% = 12,9-28,6%) ở nhóm lợn đối chứng (thông qua mổ khám tử thi ở 12-13 tháng tuổi). Động vật được tiêm chủng dùng 3 liều (liều đầu tiên tiêm lúc 2-3 tháng tuổi; Liều thứ hai tiêm sau đó 1 tháng (lúc 3-4 tháng tuổi); Liều thứ ba tiêm lúc 6 tháng tuổi) (Assana và cs., 2010b). Các kháng nguyên TSOL chỉ biểu hiện duy nhất ở giai đoạn ấu trùng sáu móc (oncosphere) (Gauci và cs., 1998; Martinez-Ocaña và cs., 2011), do đó việc tiêm chủng bằng các kháng nguyên này dự kiến không tác động lên các nang ấu trùng đã hình thành ổn định. Tuy nhiên, nghiên cứu của Jayashi và cộng sự (2012a) tại Peru đã phát hiện sự giảm 99,7% có ý nghĩa thống kê về số lượng nang ấu trùng còn hoạt động ở động vật được tiêm chủng với 2 liều TSOL16-TSOL18, cho thấy cần có thêm các nghiên cứu tiếp theo để làm sáng tỏ hiệu ứng diệt nang ấu trùng tiềm năng này.
Lightowlers và cộng sự (2016b) đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc thay đổi khoảng thời gian giữa liều vaccine TSOL18 thứ nhất và thứ hai từ 4 tuần lên 20 tuần. Các tác giả báo cáo rằng lợn con được tiêm liều thứ hai sau liều đầu 12 tuần có đáp ứng kháng thể cao gấp 3,1 lần so với những con có khoảng cách giữa liều thứ nhất và thứ hai là 4 tuần ( ). Không ghi nhận sự sụt giảm đáp ứng kháng thể ở những động vật được tiêm mũi thứ hai sau 20 tuần, khoảng thời gian dài nhất được nghiên cứu. Lightowlers và cộng sự (2016b) gợi ý rằng điều này có thể mang lại tính linh hoạt cao hơn cho các chương trình kiểm soát dịch bệnh, do mũi vaccine thứ hai có thể được triển khai sau đó vài tháng. Hiện nay, các vấn đề xoay quanh việc triển khai thực tế bao gồm yêu cầu về dây chuyền lạnh cũng như tính khả thi trong việc đạt được độ bao phủ cao khi áp dụng phác đồ tiêm chủng nhiều liều. Bảng 10 tóm tắt các nghiên cứu đánh giá hiệu lực của TSOL18 trong các bối cảnh thực nghiệm và tự nhiên.
Bảng 10. Các nghiên cứu đánh giá tác động của vắc-xin phòng bệnh ấu trùng sán dây lợn TSOL18 đối với
Taenia solium
| | Thời gian theo dõi | Thay đổi về bệnh ấu trùng sán dây lợn ở lợn | Đặc điểm chính và hạn chế (chỉ tính thử nghiệm thực địa) | Tài liệu tham khảo |
| Peru Nghiên cứu thực nghiệm: 2 liều cách nhau 1 tháng, tiêm bắp | 3 tháng | Số lượng nang sán trung vị/lợn ở nhóm chứng = 1.429; số lượng nang sán trung vị/lợn ở nhóm tiêm vaccine = 0,5 (không còn khả năng sống), giảm 99,9% (giá trị p = 0,002) | Không áp dụng (NA) | Gonzalez và cs., 2005* |
| Peru Nghiên cứu thực nghiệm: đường uống, 1 liều, gây nhiễm thực nghiệm sau 1 tháng Hệ thống vaccine Salmonella nhược độc tái tổ hợp biểu hiện TSOL18 | 3 tháng | Giảm đáng kể số lượng nang sán còn khả năng sống (giá trị p < 0,05) | Không áp dụng (NA) | Silva, 2010* |
| Cameroon Thử nghiệm thực địa theo cặp lợn ghép đôi (tiêm vaccine so với nhóm chứng), 3 liều (liều thứ 2 cách liều thứ nhất 1 tháng cùng với 30 mg/kg OFZ cho cả lợn tiêm vaccine và lợn nhóm chứng, liều thứ 3 sau liều thứ 2 là 3 tháng) | 10 tháng | Tỷ lệ hiện mắc ATSDL ở nhóm chứng là 19,6%; không tìm thấy ATSDL ở bất kỳ con lợn nào được tiêm vaccine (giá trị p < 0,0001) | Cỡ mẫu nhỏ, ban đầu gồm 120 cặp lợn, mổ khám đánh giá 97 cặp | Assana và cs., 2010* |
| Peru Thử nghiệm thực địa theo cặp lợn ghép đôi (tiêm vaccine so với nhóm chứng), 2 liều cách nhau 1 tháng; vaccine TSOL16-TSOL18 tiêm bắp; không điều trị bằng OFZ | 7 tháng | Giảm 99,7% số lượng nang sán còn khả năng sống (p < 0,01) Tỷ lệ hiện mắc ATSDL ở nhóm chứng là 16,8%; tỷ lệ hiện mắc ở lợn tiêm vaccine là 6,2% (p= 0,0132) | Cỡ mẫu nhỏ, 113 con lợn ở nhóm tiêm vaccine, 107 con ở nhóm chứng Lợn có thể đã nhiễm từ trước khi thử nghiệm, gây khó khăn cho việc diễn giải các trường hợp vaccine thất bại | Jayashi và cs., 2012a* |
| Thực nghiệm Khoảng cách giữa mũi tiêm cơ bản và mũi tiêm nhắc: 1, 2, 3, 4 hoặc 5 tháng | 0,5 tháng sau liều thứ 2 | Mũi tiêm nhắc sau liều thứ nhất 3 tháng tạo đáp ứng kháng thể cao hơn so với mũi tiêm nhắc sau 1 tháng (giá trị p = 0,046) | Không áp dụng (NA) | Lightowlers và cs., 2016b§ |
(Còn nữa) ---> (Tiếp theo Phần 9)
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang và CN. Nguyễn Thái Hoàng
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn