- CÁC BIỆN PHÁP CAN THIỆP NHẰM PHÒNG CHỐNG VÀ LOẠI TRỪ Taenia solium
Nhiều tổng quan sâu rộng đã được thực hiện nhằm đánh giá tác động của các biện pháp can thiệp trong 5 năm qua, bao gồm đánh giá phản biện về các thiết kế nghiên cứu can thiệp của Carabin và Traoré (2014), một tổng quan toàn cảnh của TCYTTG vào năm 2015 (Thomas và cs., 2015), cùng tổng quan hệ thống gần đây nhất về các biện pháp can thiệp trong giai đoạn từ 2014- 2017 do de Coster và cộng sự (2018) tiến hành. Phân tích dưới đây dựa nhiều vào tổng quan toàn cảnh của TCYTTG bởi Thomas (2015) cùng nghiên cứu của Carabin và Traoré (2014), nhưng được thực hiện độc lập với tổng quan của de Coster và cộng sự (2018), đồng thời kết hợp đối chiếu chéo giữa các nghiên cứu để đảm bảo tính toàn diện. Hình 3 (Phần 5) nêu bật các công cụ can thiệp hiện có để kiểm soát bệnh sán dây/ấu trùng sán dây lợn do T. solium, chỉ ra các mắt xích trong vòng đời đóng góp vào gánh nặng y tế chính và tác động kinh tế của bệnh, đồng thời minh họa sự giao thoa giữa sức khỏe con người, thú y và môi trường nhằm nhấn mạnh sự cần thiết của cách tiếp cận Một Sức khỏe để ngăn chặn bệnh sán dây/ấu trùng sán dây lợn.
4.1. Chẩn đoán Taenia solium
Khả năng giám sát tác động của các biện pháp can thiệp lên sự lan truyền bệnh bằng cách sử dụng các công cụ chẩn đoán đóng vai trò trung tâm trong nghiên cứu và các nỗ lực chương trình đối với các bệnh truyền nhiễm bị lãng quên (và các bệnh truyền nhiễm khác) (Ghani và cs., 2015). Với đặc tính hệ thống đa vật chủ của T. solium, hiện có nhiều phương pháp chẩn đoán tương ứng cho các giai đoạn khác nhau trong vòng đời của ký sinh trùng (tổng quan được trình bày trong Bảng 4).
Bảng 4. Tổng quan về các phương pháp tiếp cận chẩn đoán chính và hiệu năng chẩn đoán của các xét nghiệm được sử dụng trong các điều tra tỷ lệ hiện mắc/mới mắc và các nghiên cứu can thiệp bệnh sán dây/ấu trùng sán dây lợn do Taenia solium
| Tình trạng nhiễm | Giai đoạn phát triển mục tiêu | Xét nghiệm chẩn đoán | Độ nhạy (Se%), Độ đặc hiệu (Sp%) (KTC 95% hoặc KTC Bayes 95%*) | Tài liệu tham khảo |
| Nhiễm sán dây lợn ở người | Quan sát trực tiếp trứng trong phân | Xét nghiệm phân (Coprology) | | Praet và cs., 2013* |
| Kháng nguyên trong phân | Copro-Ag-ELISA | | Praet và cs., 2013* |
| Kháng thể | Thấm miễn dịch (Immunoblot) | | Levine và cs., 2007 |
| Phát hiện sinh học phân tử | Copro-PCR | | Praet và cs., 2013* |
| Bệnh ATSDL ở lợn | Quan sát trực tiếp nang sán | Sờ nắn lưỡi; khám nghiệm tử thiết/mổ khám (Lingual palpation; necropsy) | | Krecek và cs., 2011* (LP) |
| Huyết thanh học phát hiện kháng thể | EITB | | Jayashi và cs., 2014 |
| Huyết thanh học phát hiện kháng nguyên | HP10 Ag-ELISA | | Krecek và cs., 2011* |
| | B158/B60 Ag-ELISA | | Krecek và cs., 2011* |
| Bệnh ATSDL hệ thần kinh ở người | Huyết thanh học phát hiện kháng thể | EITB | | Praet và cs., 2010b* |
| Huyết thanh học phát hiện kháng nguyên | HP10 Ag-ELISA | | Fleury và cs., 2007 |
| | B158/60 Ag-ELISA | | Praet và cs., 2010b* |
| Chẩn đoán hình ảnh | MRI | Không có số liệu | |
Ag: kháng nguyên; ELISA: xét nghiệm hấp phụ miễn dịch liên kết enzyme; EITB: thấm điện di miễn dịch liên kết enzyme; HP: horseradish peroxidase; LP: khám lưỡi; PCR: phản ứng chuỗi polymerase; MRI: chụp cộng hưởng từ; *Ước tính Bayes và khoảng tin cậy Bayes 95% (95% BCIs) do Praet và cộng sự, 2013; Krecek và cộng sự, 2011 (tham khảo thêm Krecek và cộng sự, 2008), và Praet và cộng sự, 2010b trình bày; các trường hợp còn lại là khoảng tin cậy 95% (95% CI).
4.2. Điều trị bằng liệu pháp hóa học ở người
Việc điều trị trực tiếp người mang sán dây tác động đến sự lây truyền thông qua việc loại bỏ nguồn lây nhiễm cho lợn và người. Hai phương pháp tiếp cận chính để triển khai các chương trình tập trung vào điều trị bằng thuốc hàng loạt (mass drug administration - MDA) hoặc điều trị mục tiêu hơn cho những người mang sán dây bằng cách sử dụng các chẩn đoán phân biệt nhằm xác định cá thể này trước khi tiến hành điều trị (Bảng 5). Hiện nay, các thuốc tẩy giun sán chính được sử dụng trong các chương trình này là praziquantel (PZQ) hoặc niclosamide (NCZ), với hiệu lực PZQ liều 5 mg/kg được ước tính đạt tỷ lệ chữa khỏi khoảng 67-94% (Pawlowski, 1990, 1991).
Một phân tích tổng hợp gần đây của Haby và cộng sự (2020a) đã chỉ ra tỷ lệ chữa khỏi đạt 99,5% (KTC 95% = 98-100%) đối với PZQ ở liều 10 mg/kg và 77,9% (KTC 95% = 66,7-86,2%) đối với NCZ qua các nghiên cứu (Bustos và cs., 2012; Carabin và Traoré, 2014). Tuy nhiên, Clinton White và cộng sự (2020) đã bày tỏ quan ngại về các phân tích do Haby và cộng sự (2020a) trình bày, với lý do sự khác biệt giữa các nghiên cứu về phương pháp đánh giá hiệu lực chưa được tính đến. Nhiều lo ngại cũng được đặt ra đối với các phân tích tính an toàn, do chỉ có một số ít nghiên cứu được đưa vào đã triển khai quy trình giám sát chặt chẽ nhằm phát hiện các cơn co giật động kinh và các tác dụng phụ thần kinh khác từng được ghi nhận sau liệu pháp điều trị hàng loạt bằng PZQ hoặc albendazole (ABZ), xuất phát từ việc tiêu diệt các nang ấu trùng còn sống trong não (Clinton White và cs., 2020).
PZQ có hạn chế là có thể dẫn đến các biến cố bất lợi về thần kinh ở những người mắc bệnh ATSDL ở hệ thần kinh (NCC) và thuốc có thể qua hàng rào máu - não gây vỡ nang, đặc biệt ở liều cao hơn (Pawlowski, 2006). Kết quả từ một nghiên cứu tiến cứu về tác dụng phụ thần kinh sau các đợt điều trị bằng thuốc hàng loạt (MDA) bằng praziquantel (đối với bệnh sán máng) đã xác định các tác dụng phụ thần kinh nhiều khả năng do bệnh ATSDL thể ẩn gây ra (Flisser và cs., 1993).
4.2.1 Điều trị bằng thuốc hàng loạt đơn thuần ở người
Một số nghiên cứu trước đây chủ yếu được thực hiện tại các bối cảnh Trung và Nam Mỹ (Cruz và cs., 1989; Keilbach và cs., 1989; Diaz Camacho và cs., 1991; Allan và cs., 1997; Sarti và cs., 1998; Sarti và cs., 2000), cùng một tổng quan về chương trình MDA tại Trung Quốc (Pawlowski và cs., 2005). Một số nghiên cứu này còn tồn tại những hạn chế đáng kể trong thiết kế nghiên cứu, chẳng hạn như việc dùng các thước đo kết cục không đáng tin cậy (ví dụ: tự báo cáo tình trạng tống xuất (expulsion) ký sinh trùng (Carabin và Traoré, 2014), hoặc cung cấp thông tin rất hạn chế để đánh giá chất lượng nghiên cứu.
Các nghiên cứu chi tiết hơn đã ghi nhận sự sụt giảm có ý nghĩa ngắn hạn về tỷ lệ hiện mắc (xét trong thời gian theo dõi ngắn) đối với bệnh sán dây ở người (đo lường bằng xét nghiệm copro-Ag-ELISA) và tỷ lệ huyết thanh dương tính với kháng thể bệnh ATSDL sau một đợt MDA ở người bằng PZQ tại Mexico ở thời điểm 6 tháng sau điều trị (Sarti và cs., 2000), cũng như sau một đợt MDA ở người bằng NCZ tại Guatemala (Allan và cs., 1997). Tại Lào, hai đợt MDA sử dụng ABZ, kết hợp nhắm vào các bệnh giun truyền qua đất khác, đã cho thấy tỷ lệ người mang sán dây giảm 100% (xác định bằng soi kính hiển vi và xét nghiệm phân tử) vào thời điểm kết thúc nghiên cứu (Ash và cs., 2017). Tuy nhiên, một báo cáo ca bệnh NCC sau khi tự ý dùng liều đơn 400 mg ABZ đã được ghi nhận tại Peru (Garcia và cs., 2007). Như đã mô tả ở trên, chất lượng dữ liệu hiện có để đánh giá hiệu lực và độ an toàn của ABZ và PZQ trong MDA điều trị bệnh sán dây vẫn còn bị nghi vấn (Clinton White và cs., 2020; Haby và cs., 2020b). Bảng 5 tóm tắt kết quả của các nghiên cứu can thiệp sử dụng phương pháp điều trị người mang sán dây.
4.2.2 Điều trị bằng thuốc hàng loạt ở người kết hợp với giáo dục sức khỏe
Sự sụt giảm tỷ lệ hiện mắc bệnh sán dây ở người (chẩn đoán bằng phương pháp Kato-Katz) và bệnh ATSDL (qua kiểm soát thịt) đã được ghi nhận sau một đợt can thiệp tập trung vào người tại Ecuador với một vòng MDA bằng PZQ kết hợp giáo dục sức khỏe (Health education - HE) sau 1 năm (Cruz và cộng sự, 1989), cũng như tại Trung Quốc thông qua việc điều trị PZQ hai lần mỗi năm (Pawlowski và cs., 2005). Như đã nêu trong phần trước, các nghiên cứu này còn nhiều hạn chế đáng kể, bao gồm việc thiếu các nhóm đối chứng; trong hầu hết các trường hợp, nhóm so sánh chính là giá trị tỷ lệ hiện mắc ban đầu tại thời điểm nền (Bảng 5). Các phần trên cũng đã thảo luận về những rủi ro tiềm ẩn và mối quan ngại đặt ra từ các chương trình MDA điều trị bệnh sán dây ở người.