4.8.2 S3Pvac vaccine
Tiêm chủng bằng vaccine S3Pvac (một loại vaccine peptide tổng hợp dựa trên cơ sở Taenia crassiceps) nhằm phòng ngừa bệnh ATSDL do Taenia solium ở lợn cho thấy các ấu trùng sán (nang sán) rất nhạy cảm với các đáp ứng miễn dịch do vaccine tạo ra (de Aluja và cs., 1999). Loại vaccine này đã chứng minh hiệu lực trong các thử nghiệm thực địa quy mô tương đối nhỏ được tiến hành tại Mexico, với tỷ lệ hiện mắc bệnh ấu trùng nang sán giảm 52,6%, số lượng nang sán giảm 97,9% giữa nhóm tiêm chủng và nhóm đối chứng, cùng nguy cơ tương đối ở động vật được tiêm chủng thấp hơn đáng kể (Huerta và cs., 2001).
Trong một nghiên cứu khác, tỷ lệ hiện mắc ở đàn lợn theo dõi không ghi nhận sự thay đổi, thấy tác động hạn chế của vaccine ở cấp độ quần thể (Sciutto và cs., 2007a). Bên cạnh đó, vaccine S3Pvac cũng đã được phát triển bằng công nghệ thực khuẩn thể tái tổ hợp (S3Pvac-phage) nhằm giảm chi phí sản xuất (Manoutcharian và cs., 2004). Dưới dạng thức này, vaccine S3Pvac-phage đã làm giảm đáng kể tỷ lệ hiện mắc bệnh ấu trùng nang sán ở lợn (xác định qua mổ khám tử thiết) trên các cá thể được tiêm phòng khi thử nghiệm trong các nghiên cứu thực địa quy mô lớn hơn tại Mexico (Morales và cs., 2008b, 2011). Một nghiên cứu sử dụng phác đồ ba liều S3Pvac-phage kết hợp với chương trình giáo dục sức khỏe tại bang Guerrero, Mexico (de Aluja và cs., 2014) đã ghi nhận mức giảm có ý nghĩa thống kê ở hai trên ba chỉ số đánh giá tỷ lệ hiện mắc bệnh ATSDL ở lợn (sờ nắn lưỡi và siêu âm, nhưng mức giảm tỷ lệ huyết thanh dương tính với kháng thể không có ý nghĩa thống kê) trong khoảng thời gian 03 năm, mặc dù có sự biến thiên đáng kể giữa các làng về sự thay đổi tỷ lệ hiện mắc theo thời gian. Bảng 11 tóm tắt các nghiên cứu đánh giá vaccine S3Pvac phòng chống bệnh ấu trùng sán dây ở lợn.
Bảng 11. Các nghiên cứu đánh giá tác động của vắc-xin phòng bệnh ấu trùng sán dây lợn S3Pvac đối với
Taenia solium
| Quốc gia/Can thiệp | Thời gian theo dõi | Thay đổi về bệnh ATSDL ở lợn | Đặc điểm chính và hạn chế (chỉ tính TNLS thực địa) | Tài liệu tham khảo |
| Mexico Thử nghiệm thực địa với các cặp lợn ghép đôi được tiêm vaccine (liều đơn S3Pvac)/nhóm chứng không tiêm vaccine được phân bổ đến các hộ gia đình | 10–12 tháng | Tổng số lượng ATSDL (qua mổ khám) giảm 98,7%; tỷ lệ hiện mắc giảm 52,6%. Nguy cơ nhiễm tương đối ở lợn tiêm vaccine thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng (p < 0,05) | Cỡ mẫu nhỏ Không phân nhóm ngẫu nhiên | Huerta và cs., 2001* |
| Mexico Thử nghiệm thực địa với phác đồ vaccine S3Pvac 1 hoặc 2 liều ở lợn và chỉ dùng chất bổ trợ (theo dõi trên nhóm lợn chỉ thị/không tiêm vaccin) | 4–8 tháng ở các nhóm tiêm vaccine và chỉ dùng chất bổ trợ 8 & 22 tháng ở nhóm chỉ thị | Tỷ lệ mắc ATSDL ban đầu (qua LP) = 13,8% ở lợn chỉ thị/ không tiêm vaccine 4,2% (1 liều); 3,1% (2 liều); 10% (chỉ dùng chất bổ trợ) (p = 0,2). Không có sự thay đổi ở lợn chỉ thị trong quá trình nghiên cứu (12-16%) | Phương pháp LP có thể bỏ sót các ca nhiễm nhẹ; chỉ mổ khám một số lợn ở nhóm chỉ thị không phân nhóm ngẫu nhiên. Sự dao động về cỡ mẫu giữa các nhóm/các đợt tiêm vaccine | Sciutto và cs., 2007a* |
| Mexico Thử nghiệm thực địa ngẫu nhiên đánh giá vaccine S3Pvac-phage ở lợn ( làng; 1.047 con lợn) | 3–5 tháng đối với LP 5–27 tháng tuổi đối với mổ khám | Tỷ lệ hiện mắc ấu trùng sán = 13% ở nhóm chứng; 3,9% ở lợn tiêm vaccine (giảm 70%) Giảm 54% ATSDL ở cơ và giảm 87% số lượng ATSDL qua mổ khám | Tỷ lệ mất dấu theo dõi cao ở thời điểm 3-5 tháng (49,4%) và 5-27 tháng tuổi (68,4%), nhưng không có sự khác biệt giữa các nhánh tiêm vaccine và nhóm chứng | Morales và cs., 2008b* |
| Mexico Nghiên cứu phụ về tính sinh miễn dịch dựa trên thử nghiệm mô tả ở trên; cùng cỡ mẫu | 5–27 tháng tuổi đối với mổ khám | Tỷ lệ hiện mắc ATSDL (chỉ tính qua mổ khám) = 19,6% ở nhóm chứng; 7,5% ở lợn tiêm vaccine. Giảm 61,7% tỷ lệ hiện mắc (p<0,05), giảm 88,9% số ATSDL. | Xem mục theo dõi ở độ tuổi 5–27 tháng ở trên | Morales và cs., 2011* |
| Mexico Nghiên cứu thực địa đánh giá vaccine S3Pvac-phage ở lợn và GDSK tại bang Guerrero | 36 tháng (các điều tra trước và sau thử nghiệm) | Giảm từ 7% xuống 0,5% (giảm 93%; p = 0,05) qua phương pháp LP. Giảm từ 17,7% xuống 13,3% (giảm 25%; giá trị p = 0,15) qua xét nghiệm Ab-ELISA | Theo dõi không đầy đủ tại một làng. Sự biến thiên lớn giữa các làng về những thay đổi trong tỷ lệ hiện mắc | de Aluja và cs., 2014§ |
Ab-ELISA: Xét nghiệm hấp phụ miễn dịch liên kết enzyme phát hiện kháng thể (antibody enzyme-linked immunosorbent assay); HE: Giáo dục truyền thông sức khỏe (health education); LP: Sờ nắn lưỡi (lingual palpation); *Nghiên cứu được xác định và đánh giá trong Thomas và cs., 2015; § Các nghiên cứu được xác định trong công trình nghiên cứu này.
Lưu ý (N.B.): Không đo lường các chỉ số khác của T. solium (bệnh sán dây hoặc bệnh ấu trùng sán dây ở người).
4.9. Các can thiệp kết hợp
Garcia và cộng sự (2006) đã cung cấp bằng chứng đầu tiên về tác động của biện pháp can thiệp kết hợp nhắm vào cả vật chủ người và lợn tại Peru, báo cáo rằng một đợt điều trị hàng loạt (MDA) ở người bằng PZQ liều 5 mg/kg kết hợp với hai đợt MDA ở lợn bằng OFZ liều 30 mg/kg đã tác động đáng kể đến sự lây truyền, đồng thời làm giảm tỷ lệ hiện mắc và tỷ lệ mới mắc theo huyết thanh học trong vòng 18 tháng. Carabin và Traoré (2014) nhấn mạnh rằng nghiên cứu của Garcia và cộng sự (2006) có thể đã đánh giá quá cao hiệu quả can thiệp (do phương pháp ngẫu nhiên hóa được sử dụng) và đánh giá thấp mức độ ô nhiễm trong các làng quy mô lớn hơn (do thiết kế nghiên cứu dạng chia cụm).
Gần đây, một chiến lược loại trừ chứng minh nguyên lý ở quy mô khu vực đã được thử nghiệm tại Peru (Garcia và cs., 2016), bao gồm ba đợt MDA ở người định kỳ 4 tháng một lần bằng NCZ, sáu đợt điều trị ở lợn định kỳ 2 tháng một lần bằng OFZ và hai đợt tiêm vaccine TSOL18 cho lợn định kỳ 6 tháng một lần. Chiến lược này đã đạt được mục tiêu loại trừ trên một phạm vi địa lý rộng lớn khi chỉ ghi nhận các nang sán đã thoái hóa, không còn khả năng sống (Garcia và cs., 2016). Tuy nhiên, thử nghiệm này đòi hỏi nguồn lực tập trung cao độ trong "giai đoạn tấn công" ngắn hạn (1 năm), điều này có thể hạn chế tính khả thi khi triển khai các phương pháp tiếp cận tương tự tại những khu vực nghèo nguồn lực và trong các bối cảnh chương trình y tế nằm ngoài điều kiện nghiên cứu tối ưu.
Ngoài ra, nghiên cứu chưa theo dõi dài hạn để đánh giá liệu tính bền vững của việc loại trừ có được duy trì hay không. Một nghiên cứu can thiệp ở quy mô nhỏ hơn tại một ngôi làng cụ thể ở Lào (Okello và cộng sự, 2016) đã áp dụng mô hình can thiệp kết hợp tương tự như nghiên cứu loại trừ tại Peru, nhưng kéo dài khoảng cách giữa các đợt can thiệp nhằm chứng minh sự gián đoạn lây truyền (được xác định qua việc giảm có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ hiện mắc bệnh sán dây ở người). Cả hai nghiên cứu đều góp phần củng cố luận điểm ủng hộ phương pháp tiếp cận “Một Sức khỏe” (One Health) nhắm vào toàn bộ hệ thống đa vật chủ (Braae và cs., 2019; Thomas và cs., 2019). Hiệu quả loại trừ mầm bệnh cũng đã được chứng minh trong một can thiệp kết hợp tập trung vào vật chủ là lợn tại Nepal (Poudel và cs., 2019). Nghiên cứu này áp dụng bốn đợt điều trị bằng OFZ kết hợp tiêm vaccine TSOL18 định kỳ 3 tháng một lần cho đàn lợn. Kết quả mổ khám tử thi tại khu vực can thiệp cho thấy hoàn toàn sạch nang sán ở những cá thể đạt trọng lượng xuất chuồng sau 9-10 tháng kể từ vòng can thiệp đầu tiên và do đó nằm trong khuôn khổ một năm nghiên cứu. Poudel và cộng sự (2019) nhận định rằng các biện pháp can thiệp được thử nghiệm tại Nepal có thể cung cấp một chiến lược can thiệp tương đối đơn giản và khả thi, dễ dàng áp dụng tại các vùng nghèo nguồn lực; việc duy trì chiến lược này trong nhiều năm có thể giúp giảm dần số người mang ấu trùng sán dây và hạ thấp tỷ lệ mắc bệnh ấu trùng sán lợn ở hệ thần kinh (NCC). Các nghiên cứu sử dụng các biện pháp can thiệp kết hợp được trình bày chi tiết trong Bảng 12.
Bảng 12. Các nghiên cứu đánh giá tác động của các can thiệp kết hợp đối với Taenia solium
| Quốc gia/Can thiệp | Thời gian theo dõi | Thay đổi về bệnh ATSDL ở lợn | Thay đổi về bệnh sán dây ở người | Thay đổi về bệnh ATSDL ở người | Đặc điểm chính và hạn chế | Tài liệu tham khảo |
| Peru ĐTHL (MDA) ở người (PZQ 5 mg/kg) cộng với 2 đợt điều trị ở lợn (OFZ 30 mg/kg) ( làng, 5.658 người & ...) | 18 tháng | Giảm tỷ lệ hiện mắc huyết thanh ( p < 0,001) Giảm tỷ lệ mới mắc huyết thanh ( , p = 0,013) EITB | Không đo lường | Không đo lường | Vấn đề về phân nhóm ngẫu nhiên (sự mất cân bằng về tỷ lệ hiện mắc ban đầu) (Carabin và cs., 2014) Tỷ lệ mất dấu theo dõi đáng kể (chỉ 16,3% được lấy mẫu nhiều hơn 2 lần) | Garcia và cs., 2006* |
| Peru Nghiên cứu chứng minh nguyên lý về loại trừ ( làng, 81.170 người & 55.638 lợn). Chiến lược cuối cùng: MDA ở người (NCZ, mỗi 4 tháng/lần) & MDA ở lợn (OFZ, mỗi 2 tháng/lần) kết hợp tiêm vắc-xin (TSOL18, mỗi 6 tháng/lần) trong 1 năm | 12 tháng tính từ thời điểm ban đầu | Phát hiện 3 con lợn có nang sán sống, chưa thoái hóa (mổ khám) tại hai làng (trên tổng số 107 làng) | Không đo lường | Không đo lường | Thời gian theo dõi ngắn Hiệu lực thấp của NCZ (khoảng 63,2%) Khó xác định tác động từ sự di chuyển/vận chuyển của lợn | Garcia và cs., 2016§ |
| Lào (Lao PDR) MDA ở người (ABZ 400 mg trong 3 ngày, 2 đợt) cộng với điều trị ở lợn (OFZ 30 mg/kg) và tiêm vắc-xin TSOL18 (6 đợt) trong 2 năm | 6 tháng sau đợt can thiệp cuối cùng (Nghiên cứu từ tháng 1/2013–tháng 1/2015) | Không đo lường | Giảm từ 29,5% (KTC 95% = 19,7%–40,9%) xuống 0% (KTC 95% = 0%–5,1%) qua xét nghiệm Copro-Ag ELISA | Không đo lường | Khả năng ngoại suy/tổng quát hóa, quy mô làng nhỏ ~300 người và ~400 con lợn, bối cảnh văn hóa đặc thù Không có nhánh đối chứng | Okello và cs., 2016§ |
| Nepal Can thiệp tiến cứu, ngẫu nhiên ở cấp cộng đồng; điều trị ở lợn (OFZ 30 mg/kg) kết hợp tiêm vắc-xin TSOL18 mỗi 3 tháng/lần trong 1 năm | 12 tháng (các điều tra trước và sau can thiệp) Mổ khám mẫu ngẫu nhiên lợn đạt khối lượng giết mổ | Từ 34,5% giảm xuống không phát hiện nang sán ở lợn tại khu vực can thiệp (p=0,004) 23,6% ở khu vực chứng (không có sự thay đổi tỷ lệ hiện mắc có ý nghĩa thống kê) | Không đo lường | Không đo lường | Tỷ lệ chết ở lợn do bệnh dịch tả lợn cổ điển Cỡ mẫu nhỏ (khu vực can thiệp: 115 hộ chăn nuôi lợn [279 con lợn]; khu vực chứng: 118 hộ [218 con lợn]) | Poudel và cs., 2019§ |
Ag: Kháng nguyên (Antigen); CI: Khoảng tin cậy (Confidence interval); ELISA: Xét nghiệm hấp phụ miễn dịch liên kết enzyme (Enzyme-linked immunosorbent assay); EITB: Kỹ thuật thấm miễn dịch điện di enzyme (Enzyme-linked immunoelectrotransfer blot); MDA: Điều trị hóa dự phòng đồng loạt (Mass drug administration); mo.: Tháng (Months); NCZ: Niclosamide; OFZ: Oxfendazole; OR: Tỷ số chênh (Odds ratio); * Các nghiên cứu được xác định và đánh giá bởi Thomas (2015); § Nghiên cứu được xác định trong công trình này.
(Còn nữa) (Tiếp theo Phần 10)
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang và CN. Nguyễn Thái Hoàng
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn