4. Lập kế hoạch và triển khai thực hiện
Cập nhật các văn bản quốc gia:
Bước then chốt đầu tiên nhằm thúc đẩy sự thay đổi chính sách điều trị trong một quốc gia là cập nhật các hướng dẫn điều trị quốc gia, phù hợp với các hướng dẫn của TCYTTG về quản lý bệnh sốt rét do P. vivax. Các cập nhật liên quan đến quản lý ca bệnh cũng cần được đưa vào kế hoạch chiến lược PCSR Quốc gia và kế hoạch hoạt động hàng năm về PCSR.
Các quốc gia cũng cần đảm bảo rằng các thuốc và xét nghiệm G6PD đã được cơ quan quản lý quốc gia phê duyệt cần thiết, đồng thời được đưa vào Danh mục Thuốc Thiết yếu Quốc gia và Danh mục Chẩn đoán Thiết yếu tương ứng. Tùy thuộc vào từng quốc gia, có thể cần phải cập nhật các quy định y tế quốc gia nhằm cho phép các nhân viên y tế cụ thể thực hiện chẩn đoán, chẳng hạn như xét nghiệm chẩn đoán nhanh (RDTs) sốt rét và xét nghiệm G6PD để hướng dẫn điều trị chống tái phát xa.
Một chiến lược và kế hoạch quốc gia được xây dựng hoàn chỉnh sẽ đảm bảo việc triển khai quản lý ca bệnh P. vivax đạt hiệu quả, bền vững, đồng thời giải quyết được bối cảnh và các yêu cầu đặc thù của từng quốc gia. Chiến lược quốc gia sẽ định hướng cho quá trình ra quyết định và lập kế hoạch nhằm thực hiện các mục tiêu và chính sách điều trị quốc gia mới.
Phân tích tình hình
Cần thực hiện phân tích tình hình ở cấp quốc gia và dưới quốc gia để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp nhận và triển khai thực hiện. Các lĩnh vực cần đánh giá bao gồm dịch tễ học bệnh sốt rét do P. vivax, tỷ lệ lưu hành và sự phân bố của tình trạng thiếu enzyme G6PD, cùng với mức độ sẵn sàng của hệ thống chăm sóc y tế để triển khai đầy đủ các biện pháp điều trị chống tái phát xa, cùng nhiều yếu tố khác. Thông tin và hướng dẫn bổ sung có thể được tìm thấy trong ấn phẩm của TCYTTG: Đánh giá mức độ sẵn sàng và tính sẵn có của dịch vụ (Service availability and readiness assessment SARA): hệ thống giám sát hàng năm đối với việc cung cấp dịch vụ: tài liệu tham khảo.
Chiến lược triển khai quốc gia
Các mục tiêu theo chương trình và các kịch bản triển khai sẽ cần phải được tích hợp vào các kế hoạch triển khai quản lý ca bệnh sốt rét rộng lớn hơn, nhằm xác định ai?, cái gì?, ở đâu?, như thế nào? và khi nào chính sách nên được triển khai trong phạm vi mỗi kịch bản thực hiện?.
Một kế hoạch triển khai tích hợp có dự toán kinh phí cần được xây dựng và sử dụng để huy động nguồn lực. Việc hợp tác với các bên liên quan có vai trò thiết yếu nhằm đảm bảo các nhu cầu về nguồn lực được đáp ứng đầy đủ. Ngân sách chi tiết cần phác thảo tất cả các chi phí dự kiến liên quan đến can thiệp, tính đến các chi phí trực tiếp (ví dụ: mua sắm thuốc sốt rét, xét nghiệm chẩn đoán và các vật tư tiêu hao cần thiết) và chi phí gián tiếp (ví dụ: đào tạo nhân viên y tế, hệ thống giám sát và theo dõi).
Lưu ý rằng các nghiên cứu khả thi và nghiên cứu thí điểm giúp đánh giá cách thức tích hợp các công cụ mới, chẳng hạn như xét nghiệm G6PD và việc đưa vào sử dụng tafenoquine cùng primaquine, vào các dịch vụ y tế thường quy dưới các điều kiện thực tế. Những thách thức thực tế có thể được xác định và giải quyết, chẳng hạn như nhu cầu đào tạo nhân viên y tế, các yêu cầu về chuỗi cung ứng, sự tuân thủ của người bệnh và sự chấp nhận của cộng đồng.
Những nghiên cứu như vậy cũng tạo cơ hội để thử nghiệm các quy trình vận hành cùng hệ thống giám sát an toàn, đồng thời cung cấp thông tin cho các phân tích về tính hiệu quả - chi phí. Bằng cách tạo ra các bằng chứng dựa trên bối cảnh và thu hút sự tham gia của các bên liên quan, kinh nghiệm từ các nghiên cứu thí điểm có thể hỗ trợ việc triển khai hiệu quả, có khả năng mở rộng và phù hợp cho các chiến lược điều trị tiệt căn. Các ví dụ về các nghiên cứu này, các bài học kinh nghiệm và các đánh giá về tính hiệu quả - chi phí lần lượt được cung cấp trong Phụ lục 2, Phụ lục 3 và Phụ lục 4.
4.1 Quản lý chuỗi cung ứng
Quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả đảm bảo rằng các vật tư sốt rét thiết yếu, bao gồm thuốc, xét nghiệm chẩn đoán nhanh (RDT) sốt rét và xét nghiệm G6PD (máy phân tích, thiết bị xét nghiệm và mẫu chứng), cùng các vật dụng phụ trợ đầy đủ (như găng tay, bông tẩm cồn, hộp đựng chất thải, dụng cụ lấy mẫu, v.v.) được cung cấp đúng số lượng, đúng thời điểm và đúng địa điểm. Mục tiêu là đảm bảo việc tiếp cận không bị gián đoạn trong khi giảm thiểu tối đa sự lãng phí.
Việc bảo quản đúng cách các mặt hàng vật tư là thiết yếu để đảm bảo chất lượng, hiệu lực và tính sẵn có của chúng khi cần thiết. Cần đặc biệt chú ý đảm bảo tuân thủ các khuyến nghị mới nhất của nhà sản xuất về cả hạn sử dụng và điều kiện bảo quản. Do có sự khác biệt lớn về hạn sử dụng giữa các thuốc thuộc nhóm 8-aminoquinoline, các xét nghiệm G6PD và các bộ QC (xem Phụ lục 5), việc mua sắm và phân phối các vật tư riêng lẻ cần được lập kế hoạch cẩn thận và có khả năng phân kỳ một cách phù hợp. Một kế hoạch quản lý chuỗi cung ứng toàn diện bao gồm sự phối hợp tối ưu trong khâu mua sắm, phân phối, bảo quản và giám sát các nguồn cung ứng liên quan sốt rét, có tính đến hạn sử dụng cũng như các yêu cầu bảo quản riêng biệt của từng loại.
Việc định lượng chính xác là rất quan trọng để ngăn ngừa tình trạng tồn kho quá mức (có thể dẫn đến lãng phí) hoặc thiếu hụt dự trữ (có thể gây ra tình trạng hết hàng, cản trở các hoạt động của chương trình và tác động tiêu cực đến niềm tin của người bệnh đối với hệ thống y tế). Các Chương trình PCSR Quốc gia (NMP), phối hợp với các kho y tế trung ương, sẽ có các công cụ để định lượng, thường dựa trên các phương pháp lượng tiêu thụ hoặc phương pháp tỷ lệ mắc bệnh, và tiếp cận các dữ liệu dịch tễ học quan trọng đối với bối cảnh quốc gia.
Việc định lượng vật tư cần được tích hợp vào hệ thống quản lý chuỗi cung ứng quốc gia và phù hợp với chính sách quốc gia, dưới sự hướng dẫn của các hướng dẫn mới về quản lý ca bệnh sốt rét do P. vivax. Các xem xét cụ thể cho việc định lượng thuốc và xét nghiệm cần thiết phục vụ quản lý ca bệnh P. vivax được áp dụng; một tổng quan tương ứng được cung cấp trong Phụ lục 5.
4.2 Đào tạo và nâng cao năng lực
Việc triển khai hiệu quả phác đồ điều trị P. vivax đòi hỏi phải đào tạo lực lượng nhân sự, hỗ trợ thực tế và tích hợp các kỹ năng mới vào công việc hàng ngày. Các khóa đào tạo nhắc lại định kỳ, công tác giám sát hỗ trợ và môi trường học tập mang tính hỗ trợ là những yếu tố then chốt để duy trì sự tự tin và năng lực của cán bộ cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế.
Tài liệu đào tạo
Cần có các tài liệu đào tạo chuẩn hóa, bao gồm các công cụ hỗ trợ công việc và lưu đồ, những tài liệu này có thể được xây dựng từ các nguồn tài liệu đã có sẵn trong nước. Các tài liệu đào tạo cụ thể cần thiết sẽ tùy thuộc vào chiến lược triển khai. Phụ lục 6 cung cấp tổng quan về công tác đào tạo, với các ví dụ về danh mục tài liệu đào tạo điển hình cần thiết cho việc triển khai điều trị tiệt căn P. vivax bằng xét nghiệm G6PD bán định lượng, thuốc primaquine và tafenoquine.
Quản lý ca bệnh
Việc đào tạo về quản lý ca bệnh sốt rét do P. vivax cần được tích hợp vào chiến lược đào tạo quản lý ca bệnh Quốc gia, bao gồm cả việc sử dụng các phương pháp đào tạo phân tầng (đào tạo cuốn chiếu). Các mục tiêu của gói đào tạo bao gồm:
+ Đảm bảo sự hiểu biết toàn diện về tầm quan trọng của việc xét nghiệm G6PD và điều trị tiệt căn P. vivax phù hợp đối với cả cá nhân người bệnh cũng như cộng đồng nơi họ sinh sống;
+ Chứng minh năng lực đầy đủ trong việc thực hiện xét nghiệm G6PD, cũng như việc sử dụng và phiên giải kết quả xét nghiệm G6PD để hướng dẫn điều trị phù hợp cho quốc gia hoặc bối cảnh cụ thể;
+ Chứng minh năng lực đầy đủ trong việc cấp phát thuốc điều trị P. vivax, bao gồm cả điều trị tiệt căn;
+ Giảm thiểu rủi ro bằng cách cung cấp hoạt động tư vấn và theo dõi người bệnh một cách phù hợp;
+ Phát hiện các phản ứng có hại của thuốc (ADR) và có hành động xử trí phù hợp về mặt chuyển tuyến và báo cáo;
+ Đảm bảo sự hiểu biết toàn diện về nhu cầu QC định kỳ đối với các xét nghiệm G6PD và tầm quan trọng của các điều kiện bảo quản chính xác đối với cả thuốc và xét nghiệm; và
+ Hỗ trợ quản lý kho, lưu trữ hồ sơ và báo cáo.
Xét nghiệm G6PD
Sẽ cần có hoạt động đào tạo chuyên biệt về việc thực hiện xét nghiệm G6PD và phiên giải kết quả xét nghiệm phục vụ cho công tác tư vấn người bệnh và cung cấp phác đồ điều trị, dưới sự hướng dẫn từ các Hướng dẫn sử dụng cụ thể của nhà sản xuất. Các nguồn tài liệu bổ sung về xét nghiệm chẩn đoán G6PD hiện có sẵn từ cộng đồng thực hành nghiên cứu vận hành G6PD (19); các tài liệu này bao gồm các video đào tạo về các chủ đề chuyên biệt: ví dụ lấy máu đầu ngón tay, lấy máu từ ống nghiệm, quy trình lấy máu mao quản và kết nối máy in.
Khung mô tả chung cho việc đào tạo xét nghiệm G6PD được cung cấp trong Phụ lục 6 và một video ví dụ về xét nghiệm G6PD có thể được tìm thấy trên kênh YouTube của MMV (20).
Cảnh giác dược
Cảnh giác dược bao gồm việc phát hiện, báo cáo, đánh giá, hiểu và phòng ngừa các phản ứng có hại của thuốc (ADR) cùng các vấn đề liên quan khác. Công tác cảnh giác dược đối với các thuốc sử dụng trong điều trị tiệt căn P. vivax cần được lồng ghép chặt chẽ vào hệ thống cảnh giác dược chung của quốc gia.
TCYTTG cung cấp hướng dẫn về việc thiết lập và củng cố hệ thống cảnh giác dược (21), đồng thời đã xây dựng và giới thiệu các công cụ và kỹ thuật khác nhau cho từng giai đoạn, cùng các công cụ khác đang trong quá trình phát triển (22). Hướng dẫn và thông tin tổng hợp của TCYTTG về cảnh giác dược hiện có trực tuyến (21); Thông tin bổ sung về việc triển khai một khung bối cảnh cho công tác cảnh giác dược đối với TQ và PQ được cung cấp trong Phụ lục 7.
An toàn trang thiết bị y tế
Thông tin phản hồi về tính an toàn, chất lượng và hiệu năng của các trang thiết bị y tế, chẳng hạn như các xét nghiệm chẩn đoán nhanh (RDT) và xét nghiệm G6PD, cũng là một yêu cầu quan trọng để đảm bảo an toàn cho người bệnh. Bất kỳ sự cố hoặc biến cố bất lợi nào liên quan đến các trang thiết bị y tế do TCYTTG khuyến cáo cần được báo cáo cho TCYTTG. Thông tin chi tiết hơn có thể được tìm thấy trên trang Web về Quản lý và Tiền thẩm định của TCYTTG (23).
4.3 Giám sát hỗ trợ và hướng dẫn
Công tác giám sát quản lý ca bệnh P. vivax cần được tích hợp vào hoạt động giám sát chất lượng chăm sóc tại các cơ sở y tế, bao gồm chẩn đoán P. vivax, xét nghiệm G6PD và điều trị tiệt căn bằng PQ và TQ. Mục tiêu của giám sát hỗ trợ là đảm bảo việc triển khai các liệu pháp điều trị chống tái phát xa một cách an toàn và hiệu quả. Để các giám sát viên có thể cung cấp hoạt động đào tạo thực tế tại chỗ hiệu quả cho nhân viên y tế, họ phải được thông tin đầy đủ về các quy trình cụ thể đối với xét nghiệm và điều trị G6PD, sử dụng các quy trình chuẩn hóa và có khả năng thực hiện hoạt động đào tạo cũng như giám sát chất lượng cao, phù hợp với bối cảnh (24)
Dựa trên kinh nghiệm từ các quốc gia tiếp nhận sớm, công tác giám sát cần tập trung vào các yếu tố then chốt sau đây:
+ Thực hiện và phiên giải chính xác xét nghiệm G6PD: Với các quy trình rõ ràng cho việc phân loại và theo dõi người bệnh cùng những thay đổi cụ thể đối với công tác quản lý ca bệnh sốt rét do P. vivax;
+ Đánh giá tính đủ điều kiện và ra quyết định điều trị: Xem xét các yếu tố như độ tuổi, tình trạng cho con bú và tình trạng mang thai bên cạnh kết quả xét nghiệm G6PD;
+ Kỹ năng tư vấn: Bao gồm việc truyền đạt lý do căn cứ của xét nghiệm, tầm quan trọng của sự tuân thủ điều trị và các phản ứng có hại của thuốc (ADR) tiềm ẩn;
+ Ghi chép tài liệu và báo cáo chính xác: Bao gồm việc ghi lại kết quả xét nghiệm G6PD, các quyết định điều trị và kết quả điều trị của người bệnh để hỗ trợ việc tuân thủ các quy trình và công tác cảnh giác dược; và
+ Sử dụng các công cụ hỗ trợ công việc và công cụ hỗ trợ ra quyết định: Giúp nâng cao sự tự tin của nhân viên y tế và giảm thiểu các sai sót lâm sàng.
Để xác định nhu cầu giám sát, cần xem xét:
+ Phạm vi của các thay đổi được đưa vào so với thực hành hiện tại;
+ Nhu cầu đào tạo về các kỹ thuật giám sát hỗ trợ, quan sát và thực hiện xét nghiệm G6PD, bao gồm giải quyết vấn đề, các kỹ thuật đào tạo người lớn, quản lý thời gian, giao tiếp hai chiều, và các kỹ năng trong huấn luyện và hướng dẫn;
+ Sử dụng các báo cáo giám sát để điều chỉnh hoạt động hỗ trợ và giải quyết các chủ đề cũng như thách thức phổ biến; và
+ Xây dựng các công cụ để đánh giá năng lực của các giám sát viên và đào tạo nhắc lại.
(Hết Phần 7) ---> (Tiếp theo Phần 8)
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang & CN. Nguyễn Thái Hoàng
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn