1. Gánh nặng sốt rét trên phạm vi toàn cầu
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) và các nguồn
tài liệu chính https://www.who.int/teams/global-malaria-programme/WMR
2025 cho biết năm 2000
ghi nhận 239 triệu ca mắc với 864.000 ca tử vong do sốt rét, đến năm 2024 số mắc
tăng lên 282 triệu ca nhưng số tử vong giảm còn 610.000 ca. Như vậy, sau 26 năm
tích cực phòng chống nhưng sốt rét vẫn ghi nhận nhiều ca mắc và tử vong trên phạm
vi toàn cầu. Riêng năm 2024, thế giới có 80 quốc gia lưu hành sốt rét và số ca
mắc tăng 9 triệu ca so với năm 2023. Có 3 quốc gia gồm Ethiopia (tăng 2,9
triệu ca), Madagascar (tăng +1,9 triệu) và Yemen (tăng 378.000) chiếm khoảng
58% số ca mắc gia tăng trong năm 2024 so với 2023 (Bảng 1 và hình 2).
Hình 1. Ước tính số ca mắc ở các quốc
gia và khu vực năm 2024|Nguồn: WHO, 2025
Giai đoạn 2000-2015, số mắc giảm khoảng 3,8%, từ
239 triệu ca xuống còn 230 triệu ca ở 108 quốc gia lưu hành sốt rét năm 2000. Từ
năm 2015, số ca mắc sốt rét đã tăng trở lại với 22,6%. Trong số các khu vực gia
tăng sốt rét thì phần lớn gia tăng được ghi nhận ở châu Phi (88%), Đông Địa
Trung Hải (12%), riêng khu vực Đông Nam Á thì sốt rét giảm.
Sự gia tăng sốt rét là do nhiều yếu tố và thay
đổi tùy theo bối cảnh cụ thể của từng quốc gia và có thể được giải thích một phần
là do sự gia tăng dân số. Trong những năm gần đây, một số quốc gia có “xung đột”
là nguyên nhân làm gia tăng sốt rét (ví dụ: Ethiopia và Yemen hoặc Myanmar) hoặc
do khí hậu cực đoan (ví dụ: Madagascar) và điều này cũng góp phần làm gián đoạn
các dịch vụ y tế như cung cấp các biện pháp can thiệp bị gián đoạn.
Khi các hệ thống giám sát được tăng cường và phạm
vi bao phủ được mở rộng như đã thấy ở nhiều quốc gia có gánh nặng bệnh tật cao
thì số lượng ca bệnh được báo cáo cũng được dự đoán sẽ tăng lên.
Hình 2. Các nước và khu vực có sốt
rét nội địa năm 2000 và năm 2024
Bảng 1. Ước tính số ca mắc và tử vong do sốt rét trên toàn cầu, 2000-2024
|
Năm
|
Số ca mắc
(x1.000)
|
%
P. vivax
|
Số ca tử
vong
|
|
Ước tính
|
Cận dưới
|
Cận trên
|
Ước tính
|
Cận dưới
|
Cận trên
|
|
2000
|
239.000
|
224.000
|
258.000
|
6,4%
|
864.000
|
833.000
|
904.000
|
|
2001
|
246.000
|
230.000
|
268.000
|
7,2%
|
873.000
|
840.000
|
916.000
|
|
2002
|
244.000
|
228.000
|
265.000
|
6,7%
|
840.000
|
809.000
|
881.000
|
|
2003
|
249.000
|
232.000
|
272.000
|
7,2%
|
811.000
|
781.000
|
854.000
|
|
2004
|
251.000
|
232.000
|
280.000
|
7,5%
|
806.000
|
770.000
|
863.000
|
|
2005
|
251.000
|
233.000
|
276.000
|
7,6%
|
767.000
|
734.000
|
815.000
|
|
2006
|
245.000
|
227.000
|
269.000
|
6,2%
|
771.000
|
739.000
|
818.000
|
|
2007
|
240.000
|
222.000
|
262.000
|
5,7%
|
747.000
|
717.000
|
790.000
|
|
2008
|
238.000
|
221.000
|
258.000
|
5,3%
|
708.000
|
679.000
|
745.000
|
|
2009
|
243.000
|
225.000
|
265.000
|
5,2%
|
715.000
|
683.000
|
762.000
|
|
2010
|
245.000
|
226.000
|
269.000
|
5,3%
|
693.000
|
659.000
|
744.000
|
|
2011
|
238.000
|
220.000
|
259.000
|
5,3%
|
655.000
|
625.000
|
696.000
|
|
2012
|
233.000
|
217.000
|
255.000
|
5,0%
|
610.000
|
583.000
|
651.000
|
|
2013
|
228.000
|
213.000
|
247.000
|
4,0%
|
583.000
|
554.000
|
625.000
|
|
2014
|
225.000
|
209.000
|
243.000
|
3,1%
|
579.000
|
546.000
|
632.000
|
|
2015
|
230.000
|
214.000
|
249.000
|
2,8%
|
578.000
|
543.000
|
635.000
|
|
2016
|
232.000
|
216.000
|
251.000
|
2,8%
|
576.000
|
542.000
|
634.000
|
|
2017
|
240.000
|
223.000
|
259.000
|
2,5%
|
574.000
|
540.000
|
638.000
|
|
2018
|
238.000
|
221.000
|
258.000
|
2,3%
|
575.000
|
536.000
|
649.000
|
|
2019
|
240.000
|
221.000
|
261.000
|
2,1%
|
567.000
|
527.000
|
649.000
|
|
2020
|
251.000
|
229.000
|
278.000
|
1,5%
|
621.000
|
575.000
|
736.000
|
|
2021
|
254.000
|
232.000
|
283.000
|
1,5%
|
601.000
|
558.000
|
716.000
|
|
2022
|
259.000
|
235.000
|
288.000
|
2,1%
|
598.000
|
554.000
|
722.000
|
|
2023
|
273.000
|
248.000
|
304.000
|
3,1%
|
598.000
|
550.000
|
725.000
|
|
2024
|
282.000
|
256.000
|
313.000
|
3,5%
|
610.000
|
561.000
|
738.000
|
Trong năm 2024, có 5 quốc gia gồm Nigeria (24,3%),
CHDC Congo (12,5%), Uganda (4,7%), Ethiopia (4,4%) và Mozambique (3,6%) chiếm gần
một nửa số ca mắc trên toàn cầu (Hình 3c).
Trong giai đoạn 2000-2015, tỷ lệ mắc giảm
25,6%, từ 79,4 năm 2000 xuống còn 59/1.000 dân số có nguy cơ năm 2015. Giai đoạn
2015-2024, tỷ lệ mắc tăng 8,5% (Hình 3a), cụ thể năm 2024, tỷ lệ mắc sốt rét là
64/1000 dân số có nguy cơ, tăng 2% so với 62,7/1000 dân số có nguy cơ năm 2023
(Hình 3a).
Gia tăng tỷ lệ mắc chủ yếu là do sự gia tăng số
mắc hàng năm giai đoạn 2023-2024 ở Rwanda (43,8%), Yemen (34,3%), Madagascar
(27,7%) và Ethiopia (26,7%).
Năm 2024 có 610.000 ca tử vong do sốt rét (Bảng
1), tăng 12.000 ca so với năm 2023 trên phạm vi toàn cầu. Có 3 nước gồm
Madagascar (tăng 4.900 ca), Ethiopia (+3.800 ca) và Yemen (+932 ca) chiếm 85% tổng
số ca tử vong năm 2024 so với năm 2023. Giai đoạn năm 2000-2015, số ca tử vong
sốt rét giảm 33,1% từ 864.000 ca
năm 2000 xuống còn 578.000 ca năm 2015.
Tuy nhiên, giai đoạn 2015-2024, số ca tử vong sốt rét tăng
5,5% và hơn 1/3 số ca tử vong tăng trong giai đoạn 2023-2024. Riêng năm 2024,
có 4 quốc gia gồm Nigeria (30,3%), Congo (11,1%), Niger (5,8%) và Tanzania (4,3%)
chiếm hơn ½ số ca tử vong sốt rét trên toàn cầu (hình 3b). Nigeria là quốc gia
chiếm đến 38,6% số ca tử vong sốt rét ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn cầu.
Hình
3. Xu hướng toàn cầu (a) Tỷ lệ mắc sốt rét (ca mắc/1.000 dân số nguy cơ)
và (b) Tỷ lệ tử vong (số tử vong/100.000 dân số nguy cơ), 2000-2024; và (c)
Phân bố ca mắc và (d) số tử vong, theo quốc gia năm 2024.
Tỷ lệ tử vong sốt rét đã giảm gần ½ trong giai đoạn năm
2000-2015, từ 28,6/100.000 năm 2000 xuống còn 14,9/100.000 dân số có nguy cơ. Kể
từ năm 2015, thì tốc độ giảm đã chậm lại, chỉ giảm thêm 7,4% trong 9 năm qua
(Hình 2b). Số ca tử vong sốt rét tiếp tục gia tăng bất chấp tỷ lệ tử vong giảm
trong những năm gần đây, điều này được phản ánh do tác động của sự tăng trưởng
dân số ở các quốc gia lưu hành.
Tỷ lệ tử vong năm 2024 so với năm 2023 vẫn không thay đổi ở
mức 13,8/100.000 dân số có nguy cơ (Hình 3b).
2. Tiến độ hướng tới các mục tiêu GTS trên toàn cầu
Bảng 2. Các mục tiêu, tiến độ và chỉ tiêu của Chiến lược kỹ thuật toàn cầu
(GST)
|
Mục tiêu
|
Cột mốc/ Đích
|
Chỉ tiêu
|
|
Năm 2020
|
Năm 2025
|
Năm 2030
|
|
1. Giảm tỷ lệ tử vong rét trên toàn
cầu so với năm 2015
|
Ít nhất 40%
|
Ít nhất 75%
|
Ít nhất 90%
|
|
2. Giảm tỷ lệ mắc sốt rét trên
toàn cầu toàn cầu so với năm 2015
|
Ít nhất 40%
|
Ít nhất 75%
|
Ít nhất 90%
|
|
3. Loại trừ sốt rét ở các quốc
gia lan truyền sốt rét năm 2015
|
Ít nhất 10
quốc gia
|
Ít nhất 20
quốc gia
|
Ít nhất 35
quốc gia
|
|
4. Ngăn ngừa sốt rét quay trở lại
ở tất cả các quốc gia đã loại trừ.
|
Ngăn ngừa sốt rét quay trở lại
|
Ngăn ngừa sốt rét quay trở lại
|
Ngăn ngừa sốt rét quay trở lại
|
Chiến lược kỹ thuật toàn cầu (GTS) về bệnh sốt rét kêu gọi giảm tỷ lệ mắc
và tử vong sốt rét ít nhất 40% trong năm 2020, 75% vào năm 2025 và 90% vào năm
2030 so với mức năm 2015 (Bảng 2). Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể kể từ năm
2000, nhưng các mục tiêu quan trọng của GTS năm 2020 về tỷ lệ mắc và tử vong đã
không đạt được trên toàn cầu trong năm 2024 (Hình 4). Các mục tiêu của GTS và Mục
tiêu Phát triển Bền vững (SDG) năm 2025 và 2030 về tỷ lệ mắc và tử vong do sốt
rét khó có thể đạt được (Hình 4). Tỷ lệ mắc sốt rét năm 2024 là 64 trường hợp
trên 1000 dân số có nguy cơ, cao gấp 3,5 lần so với mục tiêu 18 trường hợp trên
1000 dân số có nguy cơ (Hình 4a). Tỷ lệ mắc sốt rét đã tăng 8,5% trong giai đoạn
2015-2024.
Hình 4. So sánh tiến trình
toàn cầu, (a) Tỷ lệ mắc sốt rét và (b) Tỷ lệ tử vong sốt rét theo hai bối
cảnh: Duy trì xu hướng hiện tại (xanh dương) và các chỉ tiêu đạt được của GTS
(xanh lá)
Hình
5. Bản đồ các quốc gia có bệnh
sốt rét lưu hành (bao gồm cả lãnh thổ Guyana thuộc Pháp) thể hiện tiến độ hướng
tới mốc thời gian năm 2025 của GTS về việc giảm ít nhất 70% tỷ lệ mắc bệnh sốt
rét tính đến năm 2024 so với mức năm 2015.
Tỷ lệ tử vong do sốt rét trên 100.000 dân số nguy cơ giảm từ 14,9 năm 2015
xuống còn 13,8 trong năm 2024 (gấp 3 lần so với mục tiêu là 4,5 ca tử
vong/100.000 dân năm 2024). Nếu xu hướng này tiếp tục đối với tỷ lệ mắc và tử
vong thì vào năm 2030 tỷ lệ mắc sẽ cao hơn 11 lần so với mục tiêu là 5,9/1000 DS nguy cơ và tỷ lệ tử vong sẽ cao gấp 9 lần so với mục tiêu là
1,5/100.000 (Hình. 4b).
Hình 6. Bản đồ các quốc gia
lưu hành sốt rét (kể cả vùng lãnh thổ Guiana, Pháp) thể hiện tiến độ hướng đến
cột mốc năm 2025 của GTS về việc giảm ít nhất 70% TVSR năm 2024 so với năm 2015.
Các quốc gia được xếp hạng thành 8 mức để đánh giá những tiến
độ hướng tới các mục tiêu GTS về tỷ lệ mắc và tỷ lệ TVSR trong năm 2024 so với
năm 2015 như sau (Hình 5 và Hình 6):
- Các quốc gia đang đi đúng hướng (không có ca mắc sốt rét);
- Theo đúng tiến độ (giảm từ 70% trở lên), trong đó giảm 70%
từ năm 2015 đến năm 2024 cần thiết để đạt được mục tiêu, có tính đến các mục
tiêu GTS năm 2020 (giảm 40%) và năm 2025 (giảm 75%);
- Giảm từ 25% đến dưới 70%;
- Giảm dưới 25%;
- Tăng hoặc giảm dưới 5%;
- Tăng dưới 25%;
- Tăng từ 25% đến dưới 70%;
- Tăng từ 70% trở lên.
Trong số 93 quốc gia sốt rét lưu hành (bao gồm cả lãnh thổ
Guiana thuộc Pháp) vào năm 2015, thì có 10 quốc gia đã được cấp chứng nhận loại
trừ sốt rét (LTSR) từ năm 2015: Algeria, Azerbaijan, Belize, Cabo Verde, Trung
Quốc, El Salvador, Sri Lanka, Suriname, Tajikistan và Đông Timor. Tổng cộng 21
quốc gia (22,6%), bao gồm cả những quốc gia đã được công nhận LTSR, đã đạt được
mục tiêu giảm tỷ lệ mắc sốt rét của GTS năm 2024, tức là đã giảm được 70% hoặc
hơn về tỷ lệ mắc bệnh hoặc báo cáo không có trường hợp sốt rét. Thêm 34 quốc
gia (36,5%) đã đạt được tiến bộ trong việc giảm tỷ lệ mắc nhưng vẫn thấp hơn so
với mục tiêu dự kiến (giảm từ 5% đến 70%). Có 30 quốc gia (32,3%) ghi nhận
gia tăng số ca mắc, trong đó có 18 quốc gia (19,4%) có mức tăng từ 70% trở lên trong
năm 2024 so với năm 2015.
Tại 8 quốc gia (8,6%), tỷ lệ mắc trong năm 2024 tương tự như
năm 2015. Có 35 quốc gia (37,6%) từng là vùng lưu hành sốt rét năm 2015 đã đạt
được mục tiêu giảm tỷ lệ tử vong do sốt rét mục tiêu GTS năm 2024, với 29 quốc
gia trong số đó báo cáo không có trường hợp tử vong (bao gồm cả những quốc gia
đã LTSR). Thêm 38 quốc gia (40,9%) đạt được mức giảm tỷ lệ tử vong, nhưng tiến
độ vẫn dưới mục tiêu 70%. Tại 03 quốc gia, tỷ lệ tử vong do sốt rét vẫn ở mức
tương tự như năm 2015 (3,2%), trong khi tỷ lệ này tăng lên ở 17 quốc gia
(18,3%), trong đó có 12 quốc gia có mức tăng từ 70% trở lên.
(còn nữa) --> Tiếp theo Phần 2
TS. Đỗ Văn Nguyên và
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang
Viện Sốt
rét-KST-CT Quy Nhơn