4. Số ca mắc và tử vong sốt rét tại khu vực Châu Mỹ, 2000-2024
Giai đoạn 2000-2015, số ca mắc sốt rét tại Châu Mỹ giảm 63,8%, cụ thể từ
1,6 triệu năm 2000 xuống còn 573.000 ca năm 2015 (Bảng 4). Tuy nhiên, xu hướng
giảm này đã bị đảo ngược trong giai đoạn 2015-2024, với mức tăng 15,7%. Năm
2024, có 663.000 ca mắc sốt rét tại 16 quốc gia lưu hành (bao gồm cả lãnh thổ
Guiana thuộc Pháp) trong khu vực (Hình 9c), chiếm gần 1% tổng số ca mắc trên
toàn cầu.
Các quốc gia gồm Cộng hòa Bolivia, Venezuela, Brazil và Colombia chiếm hơn
75% tổng số ca mắc trong khu vực. Có 4 quốc gia và vùng lãnh thổ có ít hơn 500
trường hợp gồm Costa Rica (240), Ecuador (380), Guiana thuộc Pháp (246) và
Mexico (266). Gần 2/3 số ca mắc trong khu vực là do P. vivax. Giai đoạn 2023-2024, số ca mắc sốt rét tăng 15,9%, và sự
gia tăng gần đây chủ yếu là do tăng số ca mắc ở Haiti (+68.000, 238,8%),
Colombia (+31.000, 21,3%), Peru (+14.500, 49,9%) và Cộng hòa Bolivia (+7.600,
55%). Panama ghi nhận mức tăng ít hơn, chỉ hơn 1.000 ca, tiếp tục xu hướng tăng
lên kể từ năm 2018. Venezuela giảm đáng kể về số trường hợp mắc, với tỷ lệ giảm
17,9% (khoảng 24.000 trường hợp).
Từ năm 2000 đến năm 2015, tỷ lệ mắc trong khu vực đã giảm 70,4%, từ 13,5
năm 2000 xuống còn 4,0/1000 dân số có nguy cơ. Từ năm 2015, tỷ lệ mắc vẫn tương
đối ổn định, với mức tăng nhẹ 7,5%. Từ năm 2023 đến năm 2024, tỷ lệ mắc sốt rét
đã tăng 16,2%, từ 3,7/1000 lên 4,3/1000 dân số có nguy cơ (Hình 9a).
Hình 9. Xu hướng sốt rét (a) Tỷ lệ hiện mắc (số ca/1000 dân số
nguy cơ) và (b) Tỷ lệ mắc (số chết/100.000
dân số nguy cơ), 2000–2024; và (c) số
ca mắc theo quốc gia châu Mỹ, 2024.
Một số quốc gia trong khu vực, sự gia tăng ca mắc sốt rét được ghi nhận
trong năm 2024 là do sự kết hợp nhiều yếu tố từ môi trường, xã hội đến các hoạt
động phòng chống sốt rét (PCSR). Tại Bolivia, lan truyền sốt rét đã gia tăng
trong vài năm gần đây ở đô thị Riberalta, nơi ghi nhận gần một nửa số ca mắc của
cả nước và sự gia tăng này liên quan đến tăng dân số ở vùng ngoại ô và gia tăng
dân di biến động (liên quan đến các hoạt động kinh tế) tại các khu vực có địa
hình khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ chẩn đoán và điều trị.
Tại Colombia, số ca mắc gia tăng được ghi nhận trong bối cảnh chịu tác động
từ các điều kiện môi trường liên quan đến hiện tượng El Niño, hoạt động khai
thác vàng ở vùng xa vùng sâu và mở rộng độ bao phủ chẩn đoán thông qua mạng lưới
nhân viên y tế cộng đồng.
Tại Haiti, hai tỉnh Grand’Anse và Sud, nơi chiếm 88% số ca mắc sốt rét của
cả nước, đã ghi nhận sự tăng đột biến số ca mắc. Sự gia tăng này xảy ra trong bối
cảnh khủng hoảng chính trị xã hội đang diễn ra, di biến động dân, giao thông bị
chia cắt, thiếu thuốc và nhân viên y tế, các lựa chọn chẩn đoán và điều trị bị
hạn chế và cùng với giảm sử dụng màn tẩm hóa chất (ITNs) ở các cộng đồng có gánh
nặng bệnh tật cao, nơi cũng có nhiều dân di biến động ở các khu vực ngoại ô. Ở Peru,
sự gia tăng lan truyền đã xảy ra ở vùng Loreto, nơi 14 quận chiếm 83% tổng số
ca mắc sốt rét của cả nước và 5 quận chiếm 88% số ca mắc sốt rét do P. falciparum.
Sự gia tăng này được ghi nhận ở các quận thuộc vùng Amazon với cộng đồng
người bản địa sống phân tán, các khu vực biên giới và khả năng tiếp cận các dịch
vụ y tế hạn chế, nơi hoạt động khai thác vàng và các hoạt động kinh tế khác đã
gia tăng. Tại Panama, sự gia tăng lan truyền sốt rét được quan sát thấy dọc
theo các tuyến đường dân di biến động, chủ yếu ảnh hưởng đến các cộng đồng địa
phương đang phải đối mặt với những thách thức trong chẩn đoán, điều trị sốt rét.
Bảng 4. Ước tính số ca mắc và tử vong sốt rét khu vực Châu Mỹ (2000-2024)
|
Năm
|
Số ca mắc (x1.000)
|
%
P. vivax
|
Số ca tử vong
|
|
Ước tính
|
Cận dưới
|
Cận trên
|
Ước tính
|
Cận dưới
|
Cận trên
|
|
2000
|
1.583
|
1.429
|
1.753
|
71.5%
|
946
|
788
|
1.162
|
|
2001
|
1.297
|
1.173
|
1.434
|
67.3%
|
838
|
706
|
1.046
|
|
2002
|
1.183
|
1.078
|
1.300
|
67.9%
|
763
|
619
|
972
|
|
2003
|
1.159
|
1.066
|
1.261
|
68.5%
|
734
|
592
|
940
|
|
2004
|
1.147
|
1.069
|
1.234
|
69.5%
|
709
|
568
|
922
|
|
2005
|
1.273
|
1.201
|
1.356
|
70.3%
|
685
|
538
|
900
|
|
2006
|
1.097
|
1.031
|
1.173
|
68.3%
|
584
|
443
|
792
|
|
2007
|
989
|
906
|
1.073
|
70.2%
|
504
|
382
|
694
|
|
2008
|
696
|
643
|
761
|
71.1%
|
468
|
321
|
703
|
|
2009
|
688
|
635
|
753
|
70.5%
|
461
|
319
|
684
|
|
2010
|
818
|
744
|
902
|
70.9%
|
499
|
351
|
726
|
|
2011
|
615
|
569
|
672
|
68.9%
|
464
|
320
|
672
|
|
2012
|
585
|
545
|
634
|
68.9%
|
430
|
307
|
610
|
|
2013
|
576
|
530
|
629
|
65.0%
|
472
|
338
|
652
|
|
2014
|
475
|
444
|
511
|
69.8%
|
348
|
259
|
451
|
|
2015
|
573
|
531
|
620
|
70.1%
|
390
|
287
|
502
|
|
2016
|
688
|
637
|
749
|
67.3%
|
529
|
379
|
690
|
|
2017
|
946
|
879
|
1 031
|
73.9%
|
666
|
447
|
903
|
|
2018
|
929
|
861
|
1 014
|
78.1%
|
573
|
384
|
772
|
|
2019
|
897
|
826
|
984
|
77.2%
|
509
|
338
|
700
|
|
2020
|
651
|
603
|
706
|
68.4%
|
408
|
288
|
540
|
|
2021
|
580
|
540
|
626
|
71.5%
|
333
|
246
|
436
|
|
2022
|
528
|
491
|
568
|
72.6%
|
342
|
262
|
431
|
|
2023
|
572
|
525
|
622
|
72.0%
|
332
|
256
|
419
|
|
2024
|
663
|
597
|
739
|
63.1%
|
504
|
340
|
743
|
Cũng như ở các quốc gia vùng Amazon khác, sự lan truyền sốt rét ở CH Venezuela
vẫn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố nguy cơ như nghề nghiệp, chẳng hạn như khai
thác vàng và các thách thức trong việc cung cấp dịch vụ cho người dân bản địa ở
những khu vực khó tiếp cận.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, quốc gia này đã mở rộng mạng lưới các
trung tâm chẩn đoán và điều trị dựa vào cộng đồng (CBM), đặc biệt ở vùng xa,
vùng sâu của các bang Bolívar và Amazonas, chiếm tổng cộng 68% tổng số ca mắc sốt
rét được báo cáo trong năm 2024.
Sự can thiệp này đã cải thiện khả năng tiếp cận với xét nghiệm chẩn đoán nhanh
(RDT) và điều trị kịp thời sẽ góp phần làm giảm số ca mắc sốt rét.
Trong khu vực, số ca tử vong sốt rét đã giảm hơn một nửa trong giai đoạn 2000-2015,
nhưng xu hướng giảm này đã đảo ngược trong giai đoạn 2015-2024, với mức tăng
29,2%. Năm 2024, ước tính có 504 ca tử vong (Bảng 4). Không có ca tử vong do sốt rét nào được báo cáo ở một nửa
số quốc gia và khu vực (Costa Rica, CH Dominica, Ecuador, Guiana thuộc Pháp,
Guatemala, Honduras, Nicaragua và Panama).
Trẻ em dưới 5 tuổi chiếm chưa đến 25% tổng số ca tử vong trong khu vực. Từ
năm 2023-2024, số ca tử vong ở Haiti tăng gần gấp 04 lần, dẫn đến tổng số ca tử
vong trong khu vực tăng thêm 172 trường hợp.
Tỷ lệ tử vong do sốt rét năm 2024 là 0,3/100.000 dân số có nguy cơ (Hình
9b). Tỷ lệ tử vong giảm hơn một nửa từ năm 2000 đến năm 2015, nhưng tỷ lệ tử
vong năm 2024 vẫn tương tự như năm 2015, bất chấp những biến động trong thời
gian này.
Hình 10.
So sánh tiến độ giảm (a) Tỷ lệ mắc mới và (b) Tỷ lệ tử vong do sốt rét tại khu vực
Châu Mỹ theo hai kịch bản: Duy trì xu hướng hiện tại (xanh dương) và đạt mục
tiêu GTS (xanh lá cây)
Khu vực Châu Mỹ đã không đạt được các cột mốc của Chiến lược Kỹ thuật Toàn
cầu trong năm 2020 về tỷ lệ mắc và tử vong do sốt rét. Tính đến năm 2024, cả tỷ
lệ mắc mới và tỷ lệ tử vong đều đang cách xa các mục tiêu của GTS 2025. Cụ thể,
tỷ lệ mắc mới trong năm 2024 cao gấp 3,5 lần so với mục tiêu (1,2 ca trên 1.000
dân số có nguy cơ), và tỷ lệ tử vong cao gấp 3 lần so với mục tiêu (0,1 ca tử
vong trên 100.000 dân số có nguy cơ) (Hình 10).
Đối với các quốc gia lưu hành sốt rét năm 2015 gồm El Salvador, Belize và
Suriname đã được chứng nhận LTSR tương ứng vào năm 2021, 2023 và 2025. Không có
quốc gia nào khác trong khu vực đang trên đà đạt được các mục tiêu GTS 2025
(Hình 5). CH Venezuela, Brazil, Ecuador, Guiana thuộc Pháp, Guatemala,
Honduras, Mexico và Peru đều giảm tỷ lệ mắc từ 5% đến 70%. Tất cả quốc gia khác
đều tăng tỷ lệ mắc. Các quốc gia có mức tăng hơn 70% gồm Colombia, Costa Rica,
Haiti, Nicaragua, Panama và CH Bolivia.
Có rất ít trường hợp tử vong do sốt rét ở khu vực châu Mỹ và những thay đổi
trong năm 2024 so với mức cơ sở GTS 2015 cần được diễn giải một cách thận trọng.
Ví dụ, mặc dù tỷ lệ tử vong ở Haiti, Mexico và CH Bolivia đã tăng từ 70% trở
lên (Hình 6) và số ca tử vong ước tính trong năm 2024 lần lượt là 234, 1 và 12.
5. Số mắc và tử vong do sốt rét ở khu vực Đông Địa Trung Hải, 2000-2024
Năm 2024, có 11,1 triệu ca mắc được ghi nhận tại 7 quốc gia có lưu hành sốt
rét trong khu vực (Bảng 2.6) chiếm 3,9% tổng số ca mắc trên toàn cầu. Sudan là
quốc gia chiếm phần lớn các ca mắc sốt rét trong khu vực (44,6%), tiếp theo là
Pakistan, Yemen, Somalia, Afghanistan, Djibouti và CH Hồi giáo Iran (Hình
2.11c). Hơn ¼ tổng số ca mắc trong khu vực là do P. vivax gây ra. Iraq, Morocco, Oman và CH Ả Rập Syria lần cuối báo
cáo các ca mắc sốt rét nội địa vào các năm 2008, 2004, 2007 và 2004.
Từ năm 2000-2015, số ca mắc đã giảm 37,1%, từ 7 triệu xuống còn 4,4 triệu.
Xu hướng giảm này đã đảo ngược trong giai đoạn 2015-2024, khi tổng số ca mắc bệnh
tăng 152,3%. Từ năm 2023 đến năm 2024, số ca mắc bệnh sốt rét ước tính đã giảm
4,3%. Sự sụt giảm gần đây về số ca mắc bệnh chủ yếu là do số ca mắc bệnh ở Pakistan
giảm 1,1 triệu ca (26,4%). Tại Pakistan, sự gia tăng lớn nhất về số ca mắc bệnh
và tử vong xảy ra từ năm 2021 đến năm 2023 do dịch sốt rét bùng phát do lũ lụt,
ban đầu ảnh hưởng đến hơn 30 triệu người.
Lũ lụt đã làm hư hại hơn 1000 cơ sở y tế (CSYT) trong nước, dẫn đến việc
hàng triệu người ở các quận bị ảnh hưởng không được tiếp cận với dịch vụ chăm
sóc sức khỏe (CSSK). Chính phủ Pakistan, được sự hỗ trợ của TCYTTG và các đối
tác, đã triển khai một phản ứng y tế công cộng phối hợp đối với đợt bùng phát sốt
rét, trong đó tập trung vào việc khôi phục khả năng tiếp cận chẩn đoán, điều trị
và kiểm soát véc tơ truyền bệnh.
Các biện pháp can thiệp có mục tiêu, bao gồm cấp màn tẩm hóa chất diệt côn
trùng (ITNs), mở rộng sàng lọc các trường hợp nghi ngờ và điều trị kịp thời các
trường hợp được xác nhận, điều này đã góp phần làm giảm tỷ lệ mắc sốt rét được
ghi nhận trong năm 2024. Số ca mắc sốt rét tăng lên ở Afghanistan (37,8%) và
Yemen (38,3%). Sự gia tăng ở tất cả các quốc gia này có thể liên quan đến các yếu
tố như sử dụng kém hiệu quả hoặc thiếu khả năng tiếp cận màn ngủ tẩm hóa chất;
xung đột và các vấn đề an ninh làm hạn chế khả năng tiếp cận chẩn đoán và điều
trị; và sự di dân của những cộng đồng không miễn dịch từ các khu vực không lưu
hành bệnh đến các khu vực có nguy cơ lan truyền từ trung bình đến cao.
Từ năm 2000 đến năm 2015, tỷ lệ mắc sốt rét trong khu vực đã giảm 55,2%, từ
20,1 xuống còn 9,0 trên 1000 dân số có nguy cơ. Tuy nhiên, kể từ năm 2015, tỷ lệ
mắc đã tăng trở lại với 112,2%. Từ năm 2023 đến năm 2024, tỷ lệ mắc sốt rét đã
giảm 5,9%, từ 20,3 xuống còn 19,1 trên 1000 dân số có nguy cơ (Hình 11a).
Bảng 5. Ước tính số ca mắc và tử vong sốt rét khu vực Đông Địa Trung Hải,
2000-2024
|
Năm
|
Số ca mắc (x1000)
|
%
P.
vivax
|
Số ca tử vong
|
|
Ước tính
|
Cận dưới
|
Cận trên
|
Ước tính
|
Cận dưới
|
Cận trên
|
|
2000
|
7.000
|
5 600
|
11.200
|
25.4%
|
14.000
|
8.800
|
25.200
|
|
2001
|
7.200
|
5 700
|
12.100
|
25.4%
|
14.500
|
9.100
|
26.600
|
|
2002
|
6.900
|
5 400
|
11.600
|
26.5%
|
13.600
|
8.700
|
26.000
|
|
2003
|
6.500
|
5 200
|
11.000
|
27.3%
|
12.700
|
8.100
|
24.800
|
|
2004
|
5.300
|
4 300
|
8.900
|
23.2%
|
10.800
|
6.800
|
20.500
|
|
2005
|
5.500
|
4 400
|
9.600
|
20.6%
|
11.500
|
7.200
|
22.400
|
|
2006
|
5.500
|
4 300
|
10.100
|
18.6%
|
11.800
|
7.300
|
24.400
|
|
2007
|
4.700
|
3 800
|
6.400
|
22.1%
|
9 .00
|
6.300
|
14.700
|
|
2008
|
3.700
|
2 900
|
5.100
|
26.8%
|
7.200
|
4.600
|
10.800
|
|
2009
|
3.600
|
2 800
|
5.300
|
27.5%
|
7.100
|
4.600
|
11.200
|
|
2010
|
4.500
|
3 400
|
6.500
|
27.3%
|
8.900
|
5.700
|
13.700
|
|
2011
|
4.600
|
3 500
|
6.600
|
37.7%
|
8.100
|
5.200
|
11.900
|
|
2012
|
4.400
|
3 300
|
6.200
|
31.6%
|
8.100
|
5.200
|
11.900
|
|
2013
|
4.200
|
3 300
|
5.600
|
32.6%
|
7.700
|
5.000
|
11.000
|
|
2014
|
4.000
|
3 200
|
5.000
|
28.6%
|
7.700
|
4.800
|
11.100
|
|
2015
|
4.400
|
3 600
|
5.600
|
26.8%
|
8.700
|
5.400
|
12.600
|
|
2016
|
5.300
|
4 500
|
6.400
|
28.4%
|
10.300
|
6.500
|
14.800
|
|
2017
|
5.600
|
4 800
|
6.700
|
25.7%
|
11.300
|
6.900
|
16.300
|
|
2018
|
5.800
|
4 800
|
7.100
|
21.1%
|
12.100
|
7.200
|
18.100
|
|
2019
|
5.800
|
4 500
|
7.600
|
16.1%
|
12.700
|
7.400
|
20.400
|
|
2020
|
5.700
|
4 300
|
7.800
|
12.4%
|
13.100
|
7.400
|
21.700
|
|
2021
|
6.200
|
4 600
|
8.400
|
9.8%
|
14.400
|
8.200
|
23.900
|
|
2022
|
8.500
|
6 700
|
10.900
|
23.9%
|
17.300
|
10.600
|
26.800
|
|
2023
|
11.600
|
9 200
|
14.900
|
27.4%
|
22.800
|
13.800
|
35.800
|
|
2024
|
11.100
|
8 700
|
14.500
|
26.3%
|
22.100
|
12.900
|
35.200
|
Số ca tử vong do sốt rét đã giảm gần 37,9% từ năm 2000 đến năm 2015, nhưng
xu hướng giảm này đã thay đổi trong giai đoạn 2015-2024, với mức tăng 154%. Năm
2024, có khoảng 22.100 ca tử vong sốt rét. Riêng Sudan chiếm 57,5% tổng số ca tử
vong trong khu vực; Khoảng 89% các trường hợp mắc sốt rét ở Sudan là do loài P. falciparum gây ra, đây là tác nhân
gây ra hầu hết các ca tử vong liên quan đến sốt rét và có tỷ lệ tử vong cao hơn
so với P. vivax. Trẻ em dưới 5 tuổi
chiếm 36,4% tổng số ca tử vong.
Hình 11. Xu hướng (a) Tỷ lệ hiện mắc (số ca/1000 DS nguy
cơ) và (b) Tỷ lệ mắc (số chết/100.000
DS nguy cơ) 2000-2024; và (c) Số ca
mắc theo nước ở Đông Địa Trung Hải, 2024.
Từ năm 2023 đến năm 2024, tổng số ca tử vong giảm 700 ca. Điều này chủ yếu
là do số ca tử vong giảm gần 2000 trường hợp ở Pakistan, trong khi Yemen
(+932), Sudan (+189), Afghanistan (+68) và Somalia (+37) đều ghi nhận sự gia
tăng về số ca tử vong.
Từ năm 2000 đến năm 2015, tỷ lệ tử vong sốt rét đã giảm 55%, từ 4,0 xuống
1,8/100.000 DS có nguy cơ, sau đó tăng 111% kể từ năm 2015 lên 3,8/100.000 DS
có nguy cơ trong năm 2024. Tuy nhiên, từ năm 2023 đến năm 2024, tỷ lệ tử vong
đã giảm 5% (Hình 11b).
Kể từ năm 2015, tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do sốt rét tại khu vực Đông Địa
Trung Hải đã gia tăng, và khu vực này hiện đang không đạt được cả hai mục tiêu
GTS 2025. Năm 2024, tỷ lệ mắc cao gấp 7 lần so với mục tiêu GTS là 2,7 ca/1000
dân số có nguy cơ, và tỷ lệ tử vong cao gấp 7,6 lần so với mục tiêu GTS là 0,5
ca tử vong/100.000 dân số có nguy cơ (Hình 2.12). Ả Rập Xê Út không có ca mắc sốt
rét nội địa nào được báo cáo trong năm thứ tư liên tiếp kể từ năm 2020, chấm dứt
dịch sốt rét ở nước này.
Hình 12. So sánh tiến độ giảm (a) Tỷ lệ mắc mới và (b) tỷ lệ TVSR tại Đông Địa Trung Hải
theo hai kịch bản: Duy trì xu hướng hiện tại (xanh dương) và Đạt được mục tiêu
GTS (xanh lá cây)
Tất cả các quốc gia khác trong khu vực đều không đạt được mục tiêu, với sự
gia tăng tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong từ 70% trở lên ở Djibouti, Pakistan, Sudan
và Yemen (Hình 5, Hình 6, Bảng 2). Tỷ lệ mắc và tử vong ở Afghanistan tăng từ
25% đến 70% và không có sự thay đổi về tỷ lệ mắc hoặc tỷ lệ tử vong ở Somalia.
Mặc dù không có trường hợp mắc nội địa nào trong 4 năm liên tiếp từ 2018 đến
2021, nhưng sau đó Iran đã báo cáo 1439 trường hợp được xác nhận vào năm 2022,
2528 trường hợp năm 2023 và 2034 trường hợp năm 2024 (các trường hợp mắc tại địa
phương, bao gồm các trường hợp nội địa và ngoại lai). CH Hồi giáo Iran hiện đã
chứng kiến sự gia tăng hơn 70% tỷ lệ mắc sốt rét kể từ năm 2015. Sự gia
tăng các trường hợp mắc ở nước láng giềng Pakistan có đóng góp vào sự gia tăng
này, đặc biệt ở những khu vực biên giới nơi mà người dân thường xuyên di chuyển
qua lại.
Các yếu tố khác cũng đóng góp vào sự gia tăng ca mắc bao gồm thiếu khi phí
và khó khăn trong việc mua sắm. Giảm nguồn lực dẫn đến thiếu hoặc chậm trễ
trong chẩn đoán và điều trị, ngoài ra còn gây khó khăn trong việc thực hiện điều
tra và phân loại ca bệnh một cách hiệu quả. Kết quả không thể phân biệt chính
xác ca tại chỗ hay ngoại lai.
Không có ca tử vong do sốt rét được báo cáo ở Saudi Arabia kể từ năm 2000
và cũng không có ca tư ovng sốt rét nội địa nào được báo cáo ở Iran kể từ năm
2009.
(còn nữa) ---> Tiếp theo Phần 4
TS. Đỗ Văn Nguyên và
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang
Viện Sốt
rét-KST-CT Quy Nhơn