Plasmodium vivax loại ký sinh trùng sốt rét có khả năng gây ác tính và tử vong với nhiều biến chứng nghiêm trọng

Thứ hai, 8/2/2010, 0:0
Lượt đọc: 219

Plasmodium vivax trước nay được biết đến là loại ký sinh trùng gây sốt rét cách nhật, có khả năng gây sốt rét nặng nhưng không gây ác tính và tử vong; tuy nhiên nhiều dẫn liệu và bằng chứng của y văn trên thế giới hiện nay cảnh báo rằng chúng loại ký sinh trùng này có khả năng gây ác tính và tử vong với nhiều biến chứng nghiêm trọng.

Ảnh đại diện

Plasmodium vivax trước nay được biết đến là loại ký sinh trùng gây sốt rét cách nhật, có khả năng gây sốt rét nặng nhưng không gây ác tính và tử vong; tuy nhiên nhiều dẫn liệu và bằng chứng của y văn trên thế giới hiện nay cảnh báo rằng chúng loại ký sinh trùng này có khả năng gây ác tính và tử vong với nhiều biến chứng nghiêm trọng.

Những khoảng trống chưa biết về 1 loại ký sinh trùng bị lãng quên: P. vivax

Sốt rét do P.vivax từ lâu được xem là một bệnh ký sinh trùng ở người bị lãng quên (a neglected human malaria parasite). Một nghiên cứu tiến hành do nhóm tác giả Ivo Mueller, Mary R Galinski, J Kevin Baird, Jane M Carlton, Dhanpat K Kochar MD, Pedro L Alonso MD, Hernando A del Portillo cho biết P.vivax có sự phân bố về mặt địa lý rất rộng, gây bệnh cho người, ước tính hàng năm có đến 2.5 tỷ người nằm trong nhóm nguy cơ và ước tính khoảng 80-300 ca sốtrét lâm sàng mỗi năm, kể cả sốt rét ác tính và tử vong. Dù sao bệnh sốt rét do P.vivax cũng được xem là gánh nặng bệnh tật, song P. vivax lại bị lơ qua và xem như thể một cái bóng của một vấn đề y tế nghiêm trọng hơn là P.falciparum tại các vùng cận Sahara, châu Phi. Các kỹ thuật tiến bộ ngày nay đã có thể giải trình tự bộ gen P. vivax và yêu cầu gần đây từ thế giới của chiến lược tiêu diệt sốt rét đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng cần tập trung vào vấn đề sốt rét do P.vivax này và cần xem đó là vấn đề y tế chính. Song, vì chu kỳ sinh học của ký sinh trùng P.vivax, đặc biệt là rất khó gián đoạn sự lan truyền của P. vivax, và các chuyên gia đã đồng ý rằng các kỹ thuật hay phương pháp hiện có để phục vụ cho công tác phòng bệnh và điều trị cũng như loại trừ sốt rét do P.vivax là chưa đủ. Do đó, điều cấp bách nghiên cứu các phương pháp mớivà chiến lược mớihiện đang là ưu tiên hàng đầu. Việc phát triển các phương pháp mới như vậy cần thiết tiếp tục nhấn mạnh và tìm tòi hiểu biết về sinh học, cơ chế bệnh sinh, dịch tễ học của P. vivax. Bài trình bày tổng hợp những gì đã biết và những lỗ hỗng hay khoảng trống chưa rõ về P. vivax, tập trung làm rõ các khoảng trống mà chúng bấy lâu đã gây trở ngại cho việc loại trừ sốt rét này.

Mặc dù phần lớn các trường hợp sốt rét ác tính, tử vong và mắc bệnh đều quy kết cho P.falciparum, song P.vivax cũng ảnh hưởng đến gần 100 triệu người mỗi năm trên toàn cầu. 10-20% số ca P.vivax trên toàn cầu là ở châu Phi, nam Sahara; tại vùng Đông và Nam Phi, P.vivax chiếm khoảng 10% và riêng tại Tây và Trung Phi, P.vivax chiếm dưới 1%. Ngoài châu Phi, P.vivax chiếm trên 50% và trong đó đó 80-90% số ca là nằm ở các quốc gia Trung Đông, châu Á, Tây Thái Bình Dương và 10-20% là nằm ở các quốc gia Trung và Nam Mỹ. Cùng với sốt rét do P.falciparum, thì P. vivax góp phần vào quá trình đói nghèo, tăng tỷ lệ bệnh trong mô hình bệnh tại các quốc gia ở trên; vả lại, dù không nhiều, song gần đây sốt rét do P.vivax có báo cáo là gây nên các bệnh cảnh sốt rét ác tính và tử vong, đặc biệt tại Ấn Độ, một phần không thể không nghĩ đến sự giảm đáp ứng của P. vivax với thuốc.

Sốt rét do P.vivax hiện đang đe dọa ít nhất 40% dân số thế giới, hầu hết số trường hợp này từ Đông Nam Á, châu Phi và Tây Thái Bình Dượng, nam Mỹ (Price RN và cs., 2007). KSTSR P.vivax với sự phân bố về mặt địa lý khá rộng, lên đến 2.5 tỷ người có nguy cơ nhiễm và khoảng 80-300 triệu trường hợp mắc sốt rét do P.vivax mỗi năm, trong đó kể cả SRAT và tử vong do P.vivax (Mueller I và cs., 2009).Có năm tỷ lệ nhiễm P.vivax chiếm đến 25 - 40% của gần 515 triệu ca sốt rét chung trên toàn cầu (Carlton JM và cs., 2008). Về gánh nặng bệnh tật, dù P.vivax chỉ được xem lướt qua và chỉ là “cái bóng” của một vấn đề nghiêm trọng khác - đó là sốt rét P.falciparum, nhất là tại các vùng châu Phi, châu Á và Nam Mỹ.

Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt về sinh học phân tử, các nhà khoa học gần đây đã phân tích toàn bộ bộ gen của P.vivax, đồng thời nhấn mạnh và cần xem sốt rét P.vivax cũng quan trọng không khác gì P.falciparum. Tuy nhiên, vì đặc điểm sinh học của ký sinh trùng này, khó có thể cắt được lan truyền của P.vivax; các chuyên gia cũng đồng ý rằng hiện các kỹ thuật sẵn có hiện giờ không đủ để điều trị tiệt căn P.vivax; Do đó, việc phát triển các kỹ thuật mới là một trong những chiến lược ưu tiên. Để làm được điều đó, cần thiết phải hiểu rõ về sinh học, cơ chế bệnh sinh và dịch tễ học của P.vivax (Mueller I và cs., 2009).

Về chu kỳ, so với P.falciparum thì P.vivax cũng tương tự, nghĩa là sau khi thoi trùng vào dòng máu, vào tế bào gan, ở đó chúng phân chia thành thể phân liệt mô gồm nhiều merozoite. Rời tế bào gan, các merozoite này xâm nhập vào hồng cầu và sinh sản. Sau 48 giờ, đủ merozoite làm nổ tung hồng cầu nhiễm, dẫn đến cơn sốt và rét run. Một số merozoite phát triển thành thể cái và đực. Song, so với P.falciparum, thì P.vivax cũng có một số điểm khác là bản thân P.vivax thích xâm nhập vào các hồng cầu non, nhỏ. Chúng có thể tạo nên trạng thái ngủ đông trong tế bào gan nhiều tháng đến nhiều năm, rồi sau đó tái hoạt lại gây bệnh. P.vivax có tỷ lệ gây biến chứng ít hơn, ưu thế cao ở các vùng ôn đới và lan rộng hơn P.falciparum. Điểm quan trọng nhất là P.vivax không thể dính vào các tế bào nội mô ở sâu trong hệ mạch máu nên hiếm khi sinh tắc nghẽn mạch, xuất huyết và tử vong.

Từ lâu, sốt rét P.vivax bị xem nhẹ với ý niệm là sốt cách nhật, lành tính và nhiễm trùng tự giới hạn (Price RN và cs., 2007). Do vậy, chúng ta cũng đã có những khoảng trống kiến thức về sự hiện diện của các phân lập kháng, sự thay đổi khoảng thời gian tái phát và biến động cũng như tái hoạt của thể ngủ P.vivax. Thành công trong việc làm giảm gánh nặng bệnh tật từ đây, lẽ đương nhiên các vấn đề này cần làm rõ. Các triệu chứng điển hình sốt rét do P.vivax kinh điển dần dần bị thay đổi về hình thái lâm sàng. Một đánh giá tại các khu căn cứ phi quân sự Hàn Quốc, các tác giả đã tổng kết đặc điểm lâm sàng trên 101 bệnh nhân nhiễm P.vivax, trong đó 77/101 bệnh nhân là lính đóng quân, tuổi trung bình là 23, thời gian nhiễm tiềm tàng là > 6 tháng trong 66.2% trường hợp; sốt cách nhật điển hình chỉ có 68.3%, giảm tiểu cầu (29.6%), MĐKSTSR trung bình là 1287/ml máu (Oh MD và cs., 2001).

Với 2.5 tỷ người có nguy cơ nhiễm P.vivax toàn cầu. Trong một số trường hợp sốt rét do P.vivax biểu hiện sẽ không điển hình, thậm chí đủ tiêu chuẩn phân loại vào SRAT mà trước đây chưa xảy ra. Qua một nghiên cứu trên 110 bệnh nhân nhiễm P.vivax đơn thuần, đánh giá về mặt lâm sàng và cận lâm sàng, kết quả ghi nhận: không có biểu hiện cơn bộc phát sốt (22.8%), đau đầu kiểu migraine (4.5%), đau cơ (6.3%), nổi ban đỏ ngứa và dạng mày đay từng đợt (1.8%), chậm nhịp tim (13.6%), hạ huyết áp tư thế (2.7%) được xem là các đặc điểm lâm sàng không điển hình, góp phần vào hội chứng của thể bệnh SRAT. Bên cạnh đó, một số dấu chứng biểu hiện SRAT là vàng da (7.2%), rối loạn thần kinh (0.9%), thiếu máu nặng (7.2%), giảm tiểu cầu (3.6%), giảm huyết cầu toàn thể (0.9%). Khi điều trị với liệu trình CQ thì có 2 trường hợp xuất hiện kháng thuốc (1.82%). Nghiên cứu trên cho thấy sốt rét do P.vivax có nhiều biểu hiện lâm sàng không điển hình, nặng và kháng thuốc, đây là các dấu hiệu cảnh báo sớm cho P.vivax (Mohapatra MK và cs., 2002).

Các quan sát và tổng hợp số liệu gần đây cũng chỉ ra P. vivax cũng có thể có các thể SRAT và gây tử vong không khác P.falciparum (Baird JK và cs., 2009). Một tổng kết khác từ Rajasthan, Bikaner, Ấn Độ báo cáo 11 ca bệnh SRAT P.vivax điển hình có các biến chứng thể não, trụy tuần hoàn, suy thận, thiếu máu nặng, tiểu Hb niệu, xuất huyết bất thường, suy hô hấp và vàng da, về xét nghiệm và thực hiện PCR chỉ có nhiễm đơn thuần loại P.vivax (Kochar DK và cs., 2005). Năm 2006, một báo cáo tại Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã cho biết một bệnh nhi bị SRAT do P.vivax, biểu hiện một bệnh lý não lan tỏa với cơn co giật và động kinh, rối loạn trên hình ảnh điện não đồ (Ozen M và cs., 2006).

Ký sinh trùng P. vivax và một số nghiên cứu về kháng thuốc chloroquine

Sốt rét do P.vivax dù không phải là mối đe dọa lớn về mặt SRAT và tử vong như đối với P.falciparum, song gánh nặng của chúng tại một số quốc gia lưu hành có tỷ lệ KSTSR P.vivax trong cơ cấu tương đối cao thì lại là một vấn đề y tế nghiêm trọng (Indonesia, Hàn Quốc, Thỗ Nhĩ Kỳ) vì các cơn sốt rét tái phát (bản chất vốn có của P.vivax) cùng với nhiều đợt tái nhiễm cùng loài hoặc khác loài KSTSR khiến cho sức khỏe cộng đồng giảm sút rõ rệt. Bên cạnh đó, quan niệm sốt rét do P.vivax là sốt cách nhật, lành tính đã khiến bệnh sốt rét P.vivax dường như bị lãng quên khi đặt quan tâm ưu tiên nghiên cứu, thêm vào đó là tình trạng kháng thuốc CQ - loại thuốc qua gần 60 năm sử dụng liên tục và gần đây kháng cả Primaquine (Baird JK và cs., 2007; Baird và cs.,2009) qua nhiều báo cáo khiến tình trạng gánh nặng bệnh tật nặng hơn bao giờ hết.

Năm 1945, CQ chính thức được sử dụng điều trị sốt rét trên thế giới, sau đó thuốc không những khuyến cáo dùng để điều trị, dự phòng mà còn cho phép dùng cấp thuốc tự điều trị và điều trị dự phòng từng đợt (IPT_Intermittent Preventive Treatment) tại châu Á và châu Phi, phải nói rằng loại TSR này hàng năm được cấp với nhiều mục đích khác nhau rất lớn và có thể sử dụng không đúng mục đích. Một bằng chứng cụ thể tại Hàn Quốc, nhiều thế kỷ nay, số ca sốt rét do P.vivax tại đây có giai đoạn chiếm trên 70%, điển hình là giai đoạn 1950-1953, giai đoạn 1960-1970, có khi lên đến 629 ca bệnh do P.vivax/ một tuần, đến năm 1979, WHO công bố Hàn Quốc không còn sốt rét nữa, nhưng 13 năm sau, năm 1993 sốt rét do P.vivax tái xuất hiện tại quốc gia ôn đới này, nhiều nhất và tập trung tại các khu phi quân sự, đỉnh điểm cao gấp 3-4 lần so với trước là những năm 1995, 1996, 1997. Dưới áp lực về tình hình sốt rét diễn tiến như thế từ 1950 - 1979 và từ 1995 - 2000, Hàn Quốc đã sử dụng CQ vừa điều trị, vừa dự phòng hàng tuần cho cả dân, lính quân đội Hàn Quốc và quân đội Mỹ đóng quân tại đây lên con số kỷ lục (Brian H. Feighner và Son Il Pak., 1998) và điều này cũng phát sinh kháng thuốc nhanh sau đó nhưng thú vị là tỷ lệ kháng này lại không cao, chỉ có 0.41% (Lee KS, Kim TH., 2009).

So với P.falciparum kháng CQ lần đầu tiên là năm 1957 tại biên giới Colombia-Venezuela (Moore và cs., 1961) thì P.vivax kháng CQ muộn hơn và lần đầu tiên phát hiện tại Papua New Guinea (Rieckman và cs., 1989). Về tính lan rộng của P.falciparum cũng nhanh hơn, sau khi kháng tại Papua New Guinea, tiếp đó là báo cáo P.falciparum kháng CQ năm 1959 ở biên giới Colombia-Venezuela (Peters và cs., 1960); biên giới Cambodia-Thái Lan (Harinasuta và cs.,1961); tại Cam Ranh, Khánh Hòa của Việt Nam (Powell, Brewer và Alving., 1963); từ đóP.falciparum tiếp tục khángCQ ở mức độ cao và trên diện rộng ở hầu hết các quốc gia có sốt rét lưu hành trên thế giới. Trong vòng 20 năm, P.falciparum kháng CQ đã lan ra nhiều vùng trên lãnh thổ Thái Lan và các nước láng giềng Cambodia, Việt Nam, Lào; tới năm 1978 xuất hiện kháng ở Kenya, Tanzania, Madagascar (1980), Angola, Rwanda (1984), Cameroon (1985), Nigeria (1987). Do đó, thuốc này nhanh chóng bị loại khỏi danh mục thuốc thiết yếu cũng như chính sách thuốc các quốc gia từ những năm 1990. Mặc dù có tỷ lệ thất bại lâm sàng và thất bại ký sinh trùng cao hơn 70% qua nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước, song gần đây một số báo cáo trên thế giới cho thấy có sự tái nhạy trở lại của P.falciparum với CQ (Mitamura và cs., 2003; Laufer M.K và cs., 2006), song sự tái nhạy này liệu có bền vững không vẫn là một vấn đề giới chuyên môn đang tranh luận.

Một điểm khác thứ hai trong kháng thuốc giữa P.falciparumP.vivax là trong khi cơ chế kháng của P.vivax với CQ vấn chưa hiểu hết thì cơ chế kháng phân tử của P.falciparum lại rõ ràng: cơ chế phân tử kháng-nhạy của P.falciparum với CQ cũng đã được đề cập chi tiết; yếu tố chuyển vận kháng thuốc CQ (CRT_Chloroquine resistance transporter) là một proteine xuyên màng nằm ở không bào tiêu hóa của KSTSR; chức năng CRT chưa được hiểu hết, song biểu hiện bên ngoài gồm có 10 domain xuyên màng. Ở loài KSTSR hoang dại (nhạy với CQ) thì CQ tích tụ với nồng độ cao bên trong không bào và nó tạo ra tương tác qua lại, nên phát huy tác dụng tiêu diệt KSTSR nhanh. Sự đột biến bên trong CRT có thể gây giảm nồng độ thuốc CQ nên gây ra tình trạng kháng/ hoặc không đáp ứng với thuốc này, so sánh giữa CRT với các thành viên khác trong họ protein xuyên màng có một ý nghĩa lớn để xem xét vai trò CRT, ý nghĩa của sự đột biến liên quan đến kiểu hình kháng CQ. Điều này qua một số công trình cho biết có sự đột biến tại codon76 và codon 86 trên vùng mà có liên quan lựa chọn với protein CRT. Một số nghiên cứu khác cho rằng kháng CQ là do giảm nồng độ thuốc trong lysosome (Phillips., 2001; Warhurst.,2001), hay đột biến kháng CQ có liên quan đến gen pfmdr-1 (Warhurst và cs., 2001), pfmdr-1 và pfcrt T76; một số yếu tố được quy kết có liên quan đến góp phần vào cơ chế kháng CQ bao gồm: do dùng thuốc không đủ liều, mức độ miễn dịch vật chủ, đột biến và tần suất tái nhiễm (Hombhanje và cs., 1997; Phillips và cs., 2001; Werndorfer và cs., 1991).

Nhiều công trình nghiên cứu in vivo trên thế giới tại các lục địa cho thấy KSTSR P.vivax đã kháng với thuốc CQ với các tỷ lệ khác nhau. Trường hợp đầu tiên kháng với CQ tại Papua New Guinea (Rieckmann và cs., 1989), sau đó xuất hiện tại Indonesia (Baird và cs., 1991); một nghiên cứu tiếp theo cũng tiến hành phía tây tỉnh Kalimantan, Indonesia khi nghiên cứu hiệu lực phác đồ CQ trên một vùng có tỷ lệ nhiễm P.vivax 72%, qua theo dõi 28 ngày đủ liệu trình với 52 trường hợp, kết quả cho thấy 12/52 (23.08%) là xuất hiện lại thể vô tính P.vivax trong 28 ngày theo dõi và thời điểm xuất hiện lại P. vivax là thường vào D12 (Fryauff DJ và Tuti S., 1998). Gần đây hơn, một nghiên cứu đa trung tâm tiến hành tại Alor, quần đảo Lesser Sundas, phía đông Indonesia trên 36 bệnh nhân, kết quả phân tích cho biết 3/36 (8.33%) trường hợp thất bại điều trị sớm vào D2-3, 2/36 (5.56%) xuất hiện lại KSTSR P.vivax vào D7, 10 trường hợp xuất hiện lại KSTSR P.vivax vào ngày D14, 2 (5.56%) trường hợp vào D21 và 1 trường hợp (2.78%) vào ngày D28, tính chung tỷ lệ kháng tích lũy trên 50% (Sutano I và cs., 2009). Sốt rét trên trẻ em vẫn còn là gánh nặng rất lớn và là vấn đề y tế quan tâm tại quốc gia Pakistan, qua nghiên cứu đánh giá hiệu lực phác đồ CQ tại bệnh viện Mirpurkhas, Sindh cho thấy 19% số ca P. vivax kháng thuốc CQ và phải thay thế phác đồ bằng Halofantrin (Memon IA và cs., 1998). Tại Colombia, cũng có 2 vùng có tỷ lệ P. vivax cao và qua một nghiên cứu cho thấy tỷ lệ kháng 11% và các trường hợp này xuất hiện lại KSTSR vào các ngày D11, D26 (Soto J và cs., 2001).

Ấn Độ là quốc gia với tình hình sốt rét khá phức tạp, đặc biệt hơn là tỷ lệ P. vivax tại đây cũng không nhỏ, trường hợp P. vivax kháng CQ đầu tiên là vào năm 1995 (Nandy A và cs., 2003), nghiên cứu thứ hai tiến hành tại 5 làng thuộc khu vực Nadiad taluka, quận Kheda, tỉnh Gujarat đánh giá hiệu lực CQ liệu trình 5 ngày cũng cho thấy có tỷ lệ tái phát 28.31%, tỷ lệ tái phát cao nhất ở nhóm tuổi từ 5-10, không có sự khác biệt giữa nam và nữ, chủ yếu là thời gian tái phát ngắn sau 2-3 tháng, thời gian tái phát dài nhất là 17 tháng chỉ có 1 trường hợp (Srivastava HC và cs., 1996); Nghiên cứu thứ ba tiến hành tại Mumbai, Ấn Độ đánh giá hiệu lực phác đồ trên 283 trường hợp nhiễm P. vivax với phác đồ CQ, điểm thú vị trong nghiên cứu này là thời gian theo dõi rất dài, lên đến 12 tháng, tổng số 150/283 trường hợp theo dõi đủ 12 tháng thì có đến 19 ca tái phát, 17/19 ca đó tái phát trong vòng 6 tháng đầu và xác định là dòng Chesson, sau đó các tác giả đề nghị nếu đã theo dõi hiệu lực đối với P.vivax thì nên theo dõi liệu trình dài ít nhất 6 tháng (Gogtay NJ và cs., 2000). Tiếp đó, một nghiên cứu thứ 4 tiến hành nhằm đánh giá hiệu lực CQ trên bệnh nhân mắc P. vivax tại Calcutta và Orissa, Ấn Độ trên 800 trường hợp từ năm 1998-2001 cho kết quả theo dõi đủ liệu trình là 480 và có 6 trường hợp kháng thuốc CQ (1.25%) và thời điểm vẫn còn lại KSTSR P.vivax là D5 (Nandy A, Addy M., 2003).

Nhận định vấn đề P.vivax kháng CQ tại châu Phi, châu Á và Nam Mỹ, nên nhằm đánh giá thực trạng tại Thái Lan, nhóm nghiên cứu cũng đã tiến hành đánh giá hiệu lực phác đồ CQ liệu trình 3 ngày trên 886 bệnh nhân từ năm 1992-1997, sau đó cho dùng ngẫu nhiễn Primaquine, kết quả cho thấy trong vòng 7 ngày theo dõi đều sạch KSTSR, song từ D8 đến D28 thì có 4 trường hợp (0.45%) xuất hiện lại P. vivax, không có sự khác biệt giữa nhóm dùng và nhóm không dùng Primaquine (Looareesuwan S và cs., 1999). Cũng tại Thái Lan, đến năm 2003, một nghiên cứu khác đánh giá hiệu lực CQ trên 161 bệnh nhân và có chỉ định thuốc Primaquine vào ngày D28 (dùng 14 ngày liên tiếp theo liều chuẩn khuyến cáo WHO), tất cả bệnh nhân đều sạch KSTSR trong 7 ngày và có 1/161 trường hợp (0.62%) kháng thuốc (Vijaykadga S và cs., 2004).

Vấn đề kháng thuốc CQ do P.vivax dường như đang nổi lên tại vùng Dawei, Myanmar gần biến giới Thái Lan-Myanmar, trong thời gian 2002-2003, tổng số 235 bệnh nhân mắc sốt rét do P.vivax được đánh giá hiệu lực thì có đến 34% bệnh nhân xuất hiện lại KSTSR và được xem là thất bại điều trị, 59.4% trong số xuất hiện lại KSTSR là khác dòng. Có 2 trường hợp (0.8%) trường hợp xuất hiện vào D14 có nồng độ CQ + DCQ > 100 ng/ml và xem là nhiễm ký sinh trùng kháng thuốc, 21% số ca thất bại xảy ra trong 3 tuần đầu theo dõi và cũng xác định là kháng (Guthmann JP và cs., 2008). Nghiên cứu tại thành phố Laza, Myanmar gần khu vực biên giới Trung Quốc-Myanmar trên 48 bệnh nhân nhiễm P.vivax chia làm 2 nhóm ngẫu nhiên A và B, mỗi ca bệnh trong nhóm A nhận tổng liều 1200mg base liệu trình 3 ngày (600mg ngày đầu và 300mg mỗi ngày sau đó), nhóm B nhận tổng liều 1500mg base trong 3 ngày (750mg ngày đầu và 375mg mỗi ngày sau đó). Kết quả cho thấy tất cả bệnh nhân đều sạch ký sinh trùng trong vòng 3 ngày, tỷ lệ chữa khỏi là 100%, nghĩa là vùng này vẫn còn nhạy với thuốc CQ (Liang GL và Udomsangpetch R., 2009).

Nghiên cứu tiến hành tại 2 vùng Karacadag và Sekerli của tỉnh Sanliurfa, đông nam Thỗ Nhĩ Kỳ cũng cho thấy hiệu lực CQ giảm và cụ thể có 20.9% trường hợp thất bại điều trị CQ với P.vivaxvà thời điểm xuất hiện lại P.vivax là từ D3-D28 (Kurcer MA và cs., 2006), nghĩa là có thất bại điều trị sớm. Nghiên cứu tại vùng Debre Zeit, Ethiopia với số mẫu theo dõi đủ là 87, liệu trình 28 ngày cho kết quả kháng 4.82% với CQ (Teka H. và cs., 2008); một nghiên cứu khác cũng tiến hành trên đất nước Ethiopia - một quốc gia có tỷ lệ P.vivax trong cơ cấu KSTSR chiếm đến 40%, vùng thực hiện là thị trấn Serbo, Jimma, kết quả cho tỷ lệ kháng với CQ là 3.6% (n = 78) và kết quả này thất bại hoàn toàn không có liên quan đến nồng độ thuốc qua kỹ thuật đo nồng độ CQ và chất chuyển hóa Desethylchloroquine tại thời điểm xuất hiện lại KSTSR (Ketema T. và cs., 2009), riêng nghiên cứu trong thời gian 2003-2007 tại Hàn Quốc với số ca 484, chỉ có 2/484 trường hợp kháng (0.41%) với CQ (Lee KS, Kim TH., 2009) dù Hàn Quốc được biết là xứ sở với tỷ lệ P.vivax trong cơ cấu KSTSR rất cao.

Vấn đề đa kháng thuốc của P.vivax cũng được ghi nhận có liên quan đến SRAT và tử vong trong các nghiên cứu tiến cứu (Tjitra E và cs., 2008), đa kháng thuốc lan rộng khắp ở châu Á - Thái Bình Dương và Nam Mỹ. Nhiều nghiên cứu tiến hành tại Timika của Indonesia, Papua New Guinea, Thái Lan và Ấn Độ cho thấy P.vivax cũng gây ra các trường hợp SRAT, với tỷ lệtừ các báo cáo là 21-27% qua xét nghiệm nhiều kỹ thuật đối chứng chỉ nhiễm đơn thuần P.vivax (Tjitra E và cs., 2008) và tử vong do P.vivax liên quan đến các trường hợp như thế cũng dao độngkhoảng 0.8 - 1.6% (Tjitra và cs., 2008; Price RN và cs., 2009) và nhóm nghiên cứu cũng nêu bật được các biến chứng hay gặp trên các ca SRAT và tử vong như thiếu máu nặng, suy hô hấp (Price RN., 2009), rối loạn huyết động (Douglas NM và cs.,2009), hôn mê trongthể não (Tjitra E và cs., 2008). Nghiên cứu tại Timika, Papua của Indonesia giai đoạn 2004 - 2007 cho biết tỷ lệ sốt rét ác tính do P.vivax 23%, thiếu máu nặng đến 87% (Tjitra E và Anstey NM., 2008).

Trong khi các nghiên cứu trên in vivo đã kết luận có tình trạng kháng thuốc và giảm nhạy với CQ do KSTSR P.vivax hầu khắp tại các vùng sốt rét lưu hành, thì một vài nghiên cứu trên in vitro, đánh giá sự nhạy cảm của thể tư dưỡng từ 11 phân lập lâm sàng P.vivax thu thập từ Thái Lan để đánh giá hiệu lực đối với CQ. Kết quả cho thấy có sự giảm nhạy của thể tư dưỡng P.vivax với CQ mặc dù khi đã tăng nồng độ ức chế tư dưỡng nhiều lần (thậm chí > 100nM) mà vẫn phát triển thành schizontes được, điều này khiến chúng ta đặt câu hỏi liệu có vấn đề gì liên quan đến dược lực học và đây chính là điểm nổi bật khác biệt chính trong hoạt tính giữa P.vivax so với P.falciparum (Sharrock WW và cs., 2008).

 

Một nghiên cứu có đánh giá chi tiết khía cạnh phân tử về tính đa hình, đột biến của gen pvmdr1 và pvcrt-o của kháng CQ do P.vivax tại 6 vùng nghiên cứu khắp quốc gia Madagascar, giải trình tự được tiến hành để phân tích tính đa hình của gen pvmdr-o (exon 1-6) và gen pvmdr-1, kết quả cho biết tỷ lệ thất bại điều trị sau hiệu chỉnh bằng PCR là từ 0 - 14.8%, trung bình là 5.1%, có sự đột biến trên gen pvmdr-1, gồm có 5 đột biến mới và 4/5 số này có tần số đột biến thấp (1.3 - 7.5%), trong khi đột biến S513R có tần số đột biến cao hơn (96.3%), 5 loại đột biến khác có cả Y976F có tần số 97.8-100%, số liệu trên cho thấy các phân lập P. vivax kháng CQ hiện đã xuất hiện ở Madagascar (Barnadas C và Ratsimbasoa A., 2008). Một nghiên cứu khác đánh giá mối liên quan sự tái xuất hiện KSTSR P.vivax với động lực quần thể tại khu vực Amazon, qua phân tích cho thấy tỷ lệ tái phát P.vivax đến 26-40% trong thời gian theo dõi 180 ngày sau điều trị tại vùng sốt rét lan truyền thấp (Orjuela-Sachez P và cs., 2009).

Táp phát do sự tái hoạt của thể ngủ khi nhiễm phải KSTSR P.vivax, chính vì vậy, khi có xuất hiện KSTSR P.vivax trong máu sau khi điều trị có thể do tái phát (relapse), tái phát sớm do sự sống sót của ký sinh trùng thể vô tính do điều trị không dứt (recrudescence) hoặc tái nhiễm (reinfection), cả 3 thuật ngữ này đều rất khó phân biệt một cách tin cậy. Sự tái phát không thể tiên đoán vào lúc nào, có thể là vài tháng đến vài năm và tác nhân nào thúc đẩy tiến trình tái hoạt đến nay vẫn chưa thấu hiểu ( Nicolas X và cs., 2000). Một nghiên cứu đa trung tâm và tại đa quốc gia, đánh giá hiệu lực trên 149 bệnh nhân nhiễm P.vivax, trong đó tại Thái Lan có 36 bệnh nhân (n =36), Myanmar (n =75) và Ấn Độ (n = 38), kết quả qua phân tích giải trình tự cho biết có 107/149 bệnh nhân (72%) có xuất hiện lại KSTSR (78% ở nhóm bệnh nhân Thái Lan, 75% ở Myanmar và 63% ở Ấn Độ). Trong 61% ở nhóm bệnh nhân Thái Lan và Myanmar và 55% ở Ấn Độ không thấy kiểu gen ký sinh trùng giống như kiểu gen ban đầu bệnh nhân nhiễm và gây sốt rét cấp tính, do vậy chưa thể kết luận rõ ràng (Imwong M. và cs., 2007).

1. Vỡ lách do sốt rét Plasmodium vivax: biến chứng có thể đe dọa tử vong

Sốt rét-một trong những bệnh thường gặp trong vùng đông Nam Anatolia, quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 1992, khoảng 18.676 ca sốt rét (SR) được chẩn đoán tại Thổ Nhĩ Kỳ và 2 thành phố chiếm tỷ lệ cao nhất là Diyarbakir (4168 ca) và thành phố SanliUrfa (3578 ca). Đặc biệt, sốt rét tăng nhanh trong suốt khoảng thời gian 1994 - 1995 với số ca là 84.345 và 82.094. Đành rằng, lách là “mồ chôn” của các hồng cầu già, song biến chứng vỡ lách do sốt rét là rất hiếm. Nhân đây, chúng tôi ghi nhận 2 trường hợp báo cáo. Cả 2 bệnh nhân đều nam giới và được điều trị với thuốc chloroquine theo liều chuẩn với SR plasmodium vivax (P.vivax). Đồng thời tổng hợp y văn thế giới về các trường hợp tương tự để chia sẻ kinh nghiệm cùng quý đồng nghiệp về động lực lâm sàng hay nóiđúng hơn là những thay đổi hình ảnh lâm sàng sốt rét do P. vivax không còn là bệnh lý lành tính như quan niệm trước đây. Chúng tôi xác định có 15 giai đoạn vỡ lách tự phát trong y văn của Anh quốc từ năm 1961. Bởi vì sự gia tăng số người đi du lịch đến những vùng lưu hành SR có kháng thuốc, SR trở thành một vấn đề sức khoẻ đang trở nên quan trọng cho những nhà phẩu thuật trên toàn thế giới. Đặc biệt SR ở khu vực đông nam Anatolia, Thổ Nhĩ Kỳ. Việc cảnh báo sớm là điều cần thiết và nên chia sẻ kinh nghiệm cũng như phần nào góp phần cho công tác truyền thông giaoos dục sức khỏe tốt hơn.

Trường hợp 1: Bệnh nhân nam, 56 tuổi nhập viện với chẩn đoán, có cơn đau bụng cấp vùng thượng vị, tiếp đó dấu hiệu phản ứng thành bụng và đau dữ dội, bệnh nhân được cho uống chloroquine (CQ). Tại khoa cấp cứu, bệnh nhân tụt huyệt áp và
đau vùng hố chậu trái. Siêu âm bụng tổng quát cho thấy lách lớn và đã vỡ, máu chảy tự do trong ổ bụng. Chỉ định phẩu thuật cấp cứu, kiểm tra khoang phúc mạc thấy lượng máu khoảng 1.500ml và bao lách dể vụn bở, xác định vỡ lách độ III và phẩu thuật viên quyết định cắt bỏ. Chẩn đoán giải phẩu bệnh học cho thấy lách cân nặng 950g và kích thước 21 x 12 x 7cm. Về đại thể, lách có màu xám đen với vết rách bao lách và khối máu tụ dưới bao. Về vi thể thấy các xoang phình to, tăng tổ chức viêm và thâm nhiễm nhiều đại thực bào. Trên lam giọt dày và giọt mỏng có sự hiện diện P. vivax . Bệnh nhân hồi phục sau mổ và xuất viện ngày thứ 6 sau khi phẩu thuật.

Trường hợp 2: cũng là một bệnh nhân nam, 32 tuổi nhập viện điều trị do thủng tá tràng tại khoa tiêu hoá. Anh ta cũng được điều trị CQ vì chẩn đoán sốt rét P. vivax. Nhập viện được 4 ngày thì bệnh nhân xuất hiện sốt cao, hạ huyết áp và đau bụng. Chúng tôi đã thực hiện chọc bụng thăm dò, có máu tự do trong khoang phúc mạc. Mở bụng thấy khoảng 1.000ml máu trong khoang phúc mạc, lách lớn và kích thước lớn gấp 2 lần so với kích thước bình thường, bao lách bị xé rách mặt trước lách (chẩn đoán vỡ lách độ II). Tiến hành cắt lách, lách nặng 1.050g và kích thước 22 x 15 x 8cm. Về đại thể, lách chuyển sang màu nâu xám với bao lách bị xé rách ở một vài chỗ. Về vi thể,có sung huyết và dãn các xoang lách với nhiều vùng chảy máu, hiện hiện P. vivax. Bệnh nhân khoẻ và được xuất viện ngày thứ 11 sau phẩu thuật.

Một số bàn luận: từ lâu, sốt rét là một trong những bênh thường gặp ở vùng đông Nam Anatolia của Thỗ Nhĩ Kỳ. Trong năm 1992, 18.676 ca được chẩn đoán và thành phố Diyarbakir chiếm tỷ lệ cao nhất với 4168 ca, theo sau là thành phố SanliUrfa (3578 ca). Vùng đông nam Anatolia nằm ở phía trên vùng Mesopotamia, gồm có các thành phố Diyarbakir, SanliUrfa, GaziAntep, Adizamma, Batman, Mardin, Siirt và Sirnak. Đặc biệt, sốt rét trong khoảng thờì gian 1994 - 1995 với 84.345 và 82.094 ca được chẩn đoán, Tuy nhiên, năm 1998, số ca mắc mới giảm hẳn chỉ còn 36.842 ca. Proguanil và CQ được xem là trị liệu dự phòng tốt nhất cho những người đi du lịch đến đông Nam Anatolia trong khoảng thời gian này.


Vỡ lách tự phát được mô tả chi tiết trong nhiều bệnh nội khoa và truyền nhiễm, trong đó sốt rét là hay gặp nhất. Những bệnh khác như bạch cầu đơn nhân, các bệnh lý tân sản lách và các bệnh ác tính về máu. Tỷ lệ vỡ lách được xác định với số liệu rất hạn hữu. So sánh những canhiễm ký sinh tùng tự nhiên hoặc do mắc phải đã trở nên thường xuyên để điều tra vấn đề này. Nhiễm trùng tự nhiên là mắc thông qua con đường muỗi đốt hoặc do ghép tạng, mô. Nhiễm trùng mắc phải là do bệnh nhân được truyền máu, dùng chung kim tiêm, tai nạn phòng thí nghiệm và do tiêm truyền thí nghiệm hoặc bệnh do điều trị. Qua 15 ca vỡ lách tự phát do sốt rét tổng hợp trên y văn, báo cáo từ năm 1960 thì chỉ có 3 ca trong số đó được xem xét và đề xuất đến các biện pháp can thiệp. Tỷ lệ vỡ lách tự nhiên do nhiễm trùng từ 0% (0/5870) đến 1.96% (1/51). Chỉ có 0.4% ca vỡ lách do nhiễm trùng mắc phải (3/75). Điều đó cho thấy chỉ 15 ca được báo cáo từ năm 1960, đặc biệt những ca đó là nhiễm trùng mắc phải..

Giới thiệu một số trường hợp vỡ lách do sốt rét trình bày trên y văn

TT

Vùng SRLH

GĐ SR

Loài

Triệu chứng

PT.

cắt lách

Kết quả

1

Không

Mạn

P.malariae

Sốc, LUQ, dấu Kehr

Sống

2

Không

Cấp

P.vivax

LUQ, dấu Kehr

Sống

3

Không

Cấp

P. falciparum

Không

Không

Sống

4

Không

Cấp

P.vivax

Sốt, LUQ, dấu Kehr

Sống

5

Không

Cấp

P.vivax

Không số liệu

Sống

6

Không

Cấp

P.vivax

Không số liệu

Sống

7

Không

Cấp

P.vivax

Không số liệu

Sống

8

Không

Cấp

P. falciparum

LUQ, dấu Kehr

Sống

9

Không

Cấp

P. vivax

Sốt, đau lưng, sốc nặng

Không

Tử vong

10

Không

Cấp

P. vivax

Sốt, hạ HA, máu phúc mạc

Không

Sống

11

Không

Cấp

P. falciparum

Tụt HA, máu phúc mạc

Sống

12

Không

Cấp

P. falciparum

LUQ, sốt

Sống

13

Cấp

P. vivax

LUQ, mạch nhanh

Sống

14

Không

Cấp

P. malariae

Sốt, LUQ, đau đầu

Không

Sống

15

Cấp

P. vivax

Sốt, LUQ

Sống

16

Cấp

P. vivax

Sốt, mạch nhanh, ngất

Sống

* LUP: Đau hạ sườn trái

Lách lớn rất hay gặp ở những vùng sốt rét lưu hành trên thế giới, chiếm gần 50 - 80% dân số sống trong vùng sốt rét. Khi lách có thể sờ thấy được nghĩa là bệnh nhân đã xuất hiện triệu chứng được 3 - 4 ngày. Nếu bệnh không được điều trị thì lách tiếp tục to lên, dẫn đến kích thước trung bình của lách trong quần thể lớn hơn vì tỷ lệ hiện mắc sốt rét tăng lên. P. vivax được xem có liên quan mật thiết với vỡ lách tự nhiên và mắc phải. Trong số những ca được báo cáo sau năm 1960, thì 9/15 ca là do P.vivax (4 ca nhiễm trùng tự nhiên và 5 ca nhiễm trùng mắc phải), tất cả bệnh nhân được mô tả ở trên đều mắc P.vivax. và điều đáng chú ý vỡ lách tự phát thường xảy ra trong đợt cấp và cơn sốt sơ phát.

Cơ chế chính xác của vỡ lách tự phát đến nay vẫn chưa được hiểu thấu đáo. Tuy nhiên,có 3 cơ chế đang được đưa ra và có thể phần nào giúp các nhà khoa học dựa vào đó để đưa ra các cảnh báo sớm: [1] Sự gia tăng áp lực trong xoang lách, điều này là do tăng sản tế bào lách và ứ máu trong toàn bộ xoang lách; [2] Lách có thể bị chèn ép bởi cơ bụng theo hoạt động sinh lý như đại tiện, hắt hơi, ho, ngồi, nằm xuống và [3] Sự tắc nghẽn các mạch do quá trình tăng sản hệ lưới nội mô, dẫn đến cục nghẽn bít tắt và nhồi máu tại chỗ. Điều này đưa đến xuất huyết dưới vỏ và vùng liên thuỳ của lách và có thể bóc toàn bộ vỏ lách, gây xuất huyết nặng hơn ở vỏ lách. Hậu quả vỡ lách bị phù nề này sẽ toác ra.

Theo bệnh học, vỡ lách tự phát bao gồm biến đổi hình ảnh vi, đại thể. Về mặt đại thể, lách trong sốt rét cấp tính thường có màu đỏ nâu vì sung huyết, ứ máu và lắng đọng nhiễm sắc. Bao ngoài của lách thì mỏng và dể rách. Lách trong bệnh nhân sốt rét, đặc biệt sốt rét mạn tính và tái nhiễm nhiều lần thì thường màu xám đen, tăng mật độ mô liên kết và mô sợi, dẫn đến tăng trọng lượng lách, thường phì đại kèm theo mật độ cứng, chắc. Ngoài ra, sự xé rách của bao lách ở một hay vài chỗ trong nhu mô lách bên dưới có thể thấy được. Vết rách này có thể nhỏ hay lớn (từ độ I -IV) và có thể ở bất cứ vị trí nào trên bề mặt lách. Cả 2 ca được mô tả ở trên, đều có lách phì đại. Vi thể, cho thấy nhiều hạt sắc tố, hồng cầu nhiễm ký sinh trùng sốt rét và hồng cầu chưa bị nhiễm và một quá trình tăng sinh đại thực bào trong các mao mạch, xoang tĩnh mạch và vùng tuỷ lách. Sự sung huyết và dãn mạch xoang cùng với bít tắt mạch rãi rác, mao mạch với tuỷ lách nhiều nốt hoại tử.

Phẩu thuật cắt lách được xem như một lựa chọn duy nhất trong điều trị các trường hợp vỡ lách tự phát do sốt rét. Trong số 16 bệnh nhân được mô tả từ năm 1960, thì 13 bệnh nhân được điều trị phẩu thuật cắt lách. Tất cả các ca này đều được cắt bỏ toàn bộ lách. Trong những vùng không lưu hành sốt rét, phương pháp giải phẩu được cải thiện và được xem như điều trị hỗ trợ, giúp cho việc săn sóc trước và sau mổ tốt hơn, giúp giám sát tình trạng lách vỡ trong nhiều trường hợp chấn thương xuyên lách hay bị một vật cùn đâm thấu vào nhu mô lách. Điều trị bảo tồn (không phẩu thuật cắt lách) bao gồm theo dõi bênh nhân 7-14 ngày tại bệnh viện, nằm nghỉ tại giường tuyệt đối,, cho truyền dịch và máu (nếu cần thiết). Trong nhiều vùng sốt rét lưu hành, quản lý bệnh nhân vỡ lách tự phát cũng nên cố gắng không phẩu thuật mà điều trị bảo tồn. Với những bệnh nhân thường xuyên đi du lịch đến những vùng sốt rét. Phẩu thuật cắt lách nên được dành cho những bệnh nhân bị vỡ lách nghiêm trọng, liên tục chảy máu hoặc chảy máu tái phát. Nói chung, sự thay đổi cấu trúc của lách trong quá trình mắc sốt rét có thể dẫn đến phì đại lách hoàn toàn không có triệu chứng gì hay nếu có, thì biến chứng hình thành một u máu và vỡ u máu này và chúng ta nên lưu ý phơi nhiễm đầu tiên với sốt rét, đặc biệt là nhiễm P. vivax dường như là những yếu tố quan trọng trong vỡ lách tự phát.

2. Một số biến chứng khác

2.1. P. vivax gây giảm bạch cầu nghiêm trọng biến chứng thể não và não úng thủy

Một trường hợp 4 tuổi và 1 trường hợp 1 tuổi nhiễm sốt rét do P. vivax được báo cáo có liên quan đến các biến chứng trên hệ thần kinh trung ương. Cả 2 trường hợp đều biểu hiện bệnh lý não và xuất hiện cơn động kinh. Một trường hợp có biểu hiện giảm bạch cầu nghiêm trọng, xuất huyết nội sọ tụ thành khối lớn và não úng thủy cần phải phẩu thuật đặt shunt trong khi các đặc điểm khác về hệ tiêu hóa có rất ít. Cả hai trường hợp đáp ứng tốt với quinine nhưng có di chứng (Rekha Harish và cs.,2007).

2.2. Tổn thương phổi cấp do sốt rét P.vivax

Nhóm tác giả gồm Tan LK, Yacoub S, Scott S, Bhagani S, Jacobs M đang công tác tại khoa truyền nhiễm, bệnh viện Royal Free Hospital, London, Anh Quốc vừa cho biết từ lâu sốt rét do P.vivax là sốt rét lành tính nhưng gần đây đã nhận ra là bệnh có những biến chứng đe dọa tính mạng đang gia tăng. Ca bệnh này là một đối tượng vừa đi du lịch trở về và nhiễm phải P. vivax, dẫn đến tổn thương phổi cấp trong vòng 3 ngày điều trị.

2.3. Sốt rét do P. vivax gây biến chứng sốc và hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS)

Nhóm tác giả Sathish Kumar, Mark Melzer, Paul Dodds, Julie Watson và Rosalynn Ord đang công tác tại khoa vi sinh, bệnh viện King George, Goodmayes, Essex, Anh và bệnh viện bệnh nhiệt đới, Mortimer Market, London, Anh báo cáo ca bệnh nhiễm P. vivax có biến chứng sốc và hội chứng suy hô hấp cấp tính. Bệnh nhân đáp ứng tốt với liệu pháp CQ và primaquine. Điều tránh nghi ngờ là trên bệnh nhân này đã thực hiện xét nghiệm PCR và kết quả cho thấy dương tính với P. vivax DNA và âm tính với P. falciparum DNA. P. vivax có thể gây nên các biến chứng nặng và ở đó có thể nhiễm đồng thời 2 loại ký sinh trùng, mẫu máu nên làm xét nghiệm PCR để phân tích để loại trừ trường hợp nhiễm phối hợp.

2.4. Thiếu máu và giảm bạch cầu trên trẻ em nhiễm sốt rét P. vivax

Nhóm tác giả Alfonso J. Rodríguez-Morales, Elia Sánchez, Miguel Vargas, Carmelina Piccolo, Rosa Colina và Melissa Arria từ Trung tâm nghiên cứu ký sinh trùng, JWT, đại học Los Andes, Trujillo, Venezuela và Đơn vị bệnh truyền nhiễm thuộc bệnh viện Santos Anibal Dominicci, Sucre, Venezuela cho biết các đặc điểm dịch tễ học lâm sàng trên các bệnh nhân nhi sốt rét do P. vivax đã gây nên thiếu máu và giảm tiểu cầu đòi hỏi phải nhập viện. Trong thời gian hơn 3 năm, tổng số 78 trẻ nhiễm P. vivax nhập viện Sucre, Venezuela. Các đặc điểm lâm sàng lúc nhập viện là sốt (93.59%), rét run (41.03%) và đau đầu (14.10%). Về mặt cận lâm sàng, thiếu máu (94.87%) trong đó thiếu máu nặng chiếm đến 10.26%, suy dinh dưỡng 25.64% và 10.26% có ký sinh trùng trong đường ruột. Nồng độ Hb trung bình lúc nhập viện là 8.09 g/dl và tiểu cầu trung bình 127.402 tế bào/mm3. Trong số các bệnh nhi này thì 58.97% phát triển thành giảm tiểu cấu (trong đó 24.36% bị nặng), số ca đòi hỏi phải truyền máu là 25.64%. Sau khi điều trị bằng thuốc CQ và primaquine và chăm sóc khác, tất cả bệnh nhân đều thành công và xuất viện. Không có tử vong hoặc xuất hiện thêm biến chứng, ngoại trừ còn 17.95% số bệnh nhân vẫn còn giảm tiểu cầu mức độ vừa.

2.5. Phù phổi cấp do sốt rét P. vivax

Các tác giả C. Illamperuma và B. L. Allen từ khoa y, đại học y Indiana, Indianapolis, Mỹ và và Richard L. Roudebush thuộc trung tâm y khoa VA Medical Center, khoa truyền nhiễm, 1481 West, Indianapolis, Mỹ cho biết phù phổi cấp được phát hiện từ lâu là các biến chứng của sốt rét ác tính do P. falciparum nhưng hiếm khi do P. vivax. Ở đây, họ cho biết một bệnh nhân người lớn không có miễn dịch bị nhiễm P. vivax ngoại lai đã hình thành biến chứng phù phổi cấp trong quá trình điều trị. Sau đó biến chứng này cứ tái hồi sau khi thất bại điều trị với Quinine và Doxycycline sau đó cho thêm primaquine. Điều cần thiết là cần nhận ra dấu chứng sớm của bệnh và quản lý ca bệnh tốt khi bệnh nhân nhiễm P. vivax cũng như kiến thức về thất bại điều trị đối với các thể ngủ trong gan.

2.6. Giảm tiểu cầu nặng và chảy máu mũi thứ phát (Epistaxis Secondary) do sốt rét P. vivax

Các tác giả Benjamin H. Holland B.S thuộc đại học y khoa Mercer, Anna N. Walker thuộc khoa bệnh học, đại học y khoa Mercer; Lee Collier thuộc khoa nội, bệnh viện Taylor Regional Hospital và Jeffrey L. Stephens của khoa nội nhiễm, bệnh viện Mercer cho biết từ trước đến giờ người ta vẫn ý niệm sốt rét do P.vivax là lành tính hiếm khi gây tử vong. Trong khi biến chứng giảm tiểu cầu là biến chứng dễ nhận ra do sốt rét P. falciparum, thì ở đây rất hiếm khi báo cáo là do P. vivax. Ca bệnh báo cáo này là một người di dân Mexico, đến viện với triệu chứng ban đầu là P. vivax và dấu hiệu đáng kể là giảm tiểu cầu và chảy máu mũi tự phát, ban đầu không đáp ứng với liệu pháp truyền tiểu cầu. Qua trường hợp này, các thầy thuốc bất cứ nơi đâu nên cảnh giác cả các đặc điểm lâm thường gặp và không thường gặp của sốt rét, chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời là những chìa khóa giúp hạn chế tối thiểu tỷ lệ mắc bệnh và tử vong.

2.7. Sốt rét do P. vivax với hình ảnh lâm sàng giống như sốc nhiễm độc (toxic shock)

Nhóm tác giả Joon Young Song, Cheong Won Park, You Mee Jo, Jeong Yun Kim, Jeong Hyun Kim, Hyo Joong Yoon, Chi Hoon Kim, Chae Seung Lim, Hee Jin Cheong và Woo Joo Kim thuộc các khoa nhiệt đới, khoa nội và khoa cận lâm sàng của đại học y khoa Korea, Seoul, Hàn Quốc và Armed Forces Byeokje Hospital, Kyonggi, Hàn Quốc cho biết các biến chứng do sốt rét P.falciparum dẫn đến tử vong từ lâu đã được báo cáo rất nhiều. Tuy nhiên, sốt rét do P. vivax có biến chứng thì hiếm, ở đây nhóm tác giả báo cáo 2 trường hợp có hình ảnh lâm sàng của sốt rét P. vivax biểu hiện một sốc nhiễm độc. Cả 2 đều có tình trạng đông máu nội mạch rải rác (DIVC), điển hiển hình là giảm tiểu cầu nặng, suy thận thiểu niệu và phù phổi. Xét nghiệm lam máu ban đầu cho kết quả P. vivax với mật độ ký sinh trùng sốt rét là 2.352/µL và 12.376/µL lần lượt trên 2 bệnh nhân. Các bệnh nhân được điều trị bằng hydroxychloroquine và primaquine không kèm kháng sinh. Qua ca bệnh trên, điều quan trọng là cần nhấn mạnh đến khả năng nhiễm ký sinh trùng P. vivax trên các bệnh nhân đặc biệt là khi họ ở vùng lưu hành sốt rét trở về.

2.8. Suy đa phủ tạng do sốt rét P. vivax 

Một nhóm tác giả Hàn Quốc gồm Soon AeKim, Eu SukKim, Moo YongRhee, Sang IlChoi, Hee JinHuh, Seok LaeChae đang công tác tại khoa nội, đại học y Dongguk, khoa Chẩn đoán hình ảnh, đại học y quốc gia Seoul và khoa cận lâm sàng y học, đại học y Dongguk, tại Goyang, Hàn Quốc đã cùng nhau mô tả một trường hợp viêm cơ tim liên quan đến sốt rét P. vivax. Biến chứng liên quan đến tim mạch thường liên đới đến sốt rét do P.falciparum. Tuy nhiên, viêm cơ tim (myocarditis) liên quan đến sốt rét do P. vivax chưa được báo cáo trên y văn.

2.9. Các yếu tố góp phần gây biến chứng trên sốt rét do P. vivax

Các biến chứng nặng do sốt rét P. falciparum được xác định vởi sự xuất hiện các thể vô tính của P. falciparum trong máu bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng đe dọa tử vong trên bệnh nhân hoặc biến chứng khác đã bị loại trừ. Thậm chí cho dù các biến chứng này là duy nhất đối với sốt rét do P. falciparum từ lâu được biết. Điều đó không có nghĩa là tất cả ca bệnh sốt rét do P. falciparum đều có thể chuyển thành biến chứng. Tử vong do các trường hợp sốt rét do P. falciparum khoảng 1% và chiếm 1-3 triệu ca tử vong mỗi năm trên thế giới. 80% số tử vong này là sốt rét ác tính thể não. Hầu hết các biến chứng do sốt rét P. falciparum phát triển vài ngày sau khi khởi bệnh. Tuy nhiên, phù phổi cấp đôi khi xuất hiện đột ngột, thậm chí ngay sau khi điều trị bắt đầu có thể do P.vivax, các yếu tố dẫn đến biến chứng sốt rét có biến chứng do P. vivax gồm: [1] người cao tuổi [2] phụ nữ mang thai, đặc biệt trong thai con so và thai kỳ 3 tháng giữa [3] bệnh nhân đang dùng các thuốc ức chế miễn dịch steroids, thuốc chống ung thư, thuốc ức chế miễn dịch [4] Bệnh nhân suy giảm miễn dịch đang mắc lao và ung thư tiến triển [5] bệnh nhân cắt lách; [6] Thiếu các yếu tố phơi nhiễm với sốt rét (không có miễn dịch) hoặc không còn miễn dịch; [7] suy cơ quan trước khi mắc bệnh.

2.10. Sốt rét ác tính thể não do P. vivax trên bệnh nhân người lớn

Một nghiên cứu do nhóm tác giả Suman Sarkar, Prithwis Bhattacharya đang công tác tại khoa gây mê, đại học I.M.S. Banaras Hindu, Varanasi - 221 105, Uttar Pradesh, Ấn Độ cho biết sốt rét ác tính thể não là một bệnh lý não lan tỏa (diffuse encephalopathy) có liên quan đến động kinh có thể xảy ra đến 1/3 số bệnh nhân bị sốt rét nặng, đặc biệt gây ra do P. falciparum. 3 ca bệnh báo cáo ở đây là sốt rét do P. vivax (tất cả đều là bệnh nhân nam người lớn) có biến chứng co giật và biểu hiện một hội chứng bệnh lý viêm não-màng não lan tỏa (diffuse meningoencephalitis). 2/3 bệnh nhân biểu hiện chủ yếu là triệu chứng màng não và 1/3 bệnh nhân là biểu hiện viêm não đơn thuần. Tất cả ca bệnh đều được điều trị bằng Artesunate. Thường thường, sốt rét ác tính thể não là do P. falciparum, và hiếm khi do P.vivax nên những ca như thế này đặc biệt hiếm gặp, cần báo cáo và chia sẻ kinh nghiệm.

2.11. Suy thận cấp do sốt rét P. vivax

Nhóm tác giả KS Mehta, AR Halankar, PD Makwana, PP Torane, PS Satija, VB Shahđang làm việc tại khoa thận niệu, bệnh viện Nair và trường đại học y khoa Nair tại Mumbai, Ấn Độ cho biết họ đang chú ý đến vấn đề đang gia tăng hiện nay về tần suất cũng như mức độ trầm trọng của bệnh lên vấn đề suy thận cấp do sốt rét (acute renal failure_ARF). Họ đã nghiên cứu tỷ lệ, độ nặng và hậu quả của ARF trong bệnh sốt rét; trong một nghiên cứu phân tích hồi cứu một năm tại các trung tâm ở thành phố thủ đô. Tất cả lam máu và bệnh nhân suy thận cấp được đưa vào đánh giá. Tổng số 402 lam máu dương tính với sốt rét, 24 ca có ARF. 18 trường hợp có nhóm tuổi từ 21-40. P. falciparum được phát hiện là 16 và P.vivax là 3, nhiễm phối hợp là 5. Suy thận cấp không có vô niệu tìm thấy trong 14 trường hợp và 18 trường hợp có biểu hiện ARF nặng (creatinine huyết thanh >5 mg%). 22 bệnh nhân cần phải thẩm phân phúc mạc, Suy thận cấp kéo dài 2-6 tuần là 8 trường hợp. 17 bệnh nhân hồi phục hoàn toàn, trongk ih 7 bệnh nhân khác có biểu hiện tử vong kèm theo tình trạng đông máu nội mạch rải rác (DIC), hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS), suy thận nặng và sốt rét có dương tính với P. falciparum. Không đáp ứng với CQ và Artesunate cho đơn thuần và 20 bệnh nhân phải chuyển sang phác đồ quinine. Nói tóm lại, ARF cần phải thẩm phân phúc mạc trong số 92% bệnh nhân bị ARF. Trong nhiễm P. falciparum, suy thận cấp nặng, DIC và ARDS là những yếu tố tiên lượng nặng. Vấn đề kháng thuốc hay không đáp ứng với thuốc Chloroquine và Artesunate cần làm rõ.

2.12. Ảnh hưởng của sốt rét do P. vivax lên sự kết tập và biến dạng hồng cầu.

Đó là công trình nghiên cứu cơ bản của nhóm Sanjay Jayavanth, K. Jagadeesan, Megha Singh đang công tác tại khoa y sinh học, Viện công nghệ Ấn Độ, Madras-600036, và bệnh viện K.J. Hospital, Madras-600084, Ấn Độ. Sốt rét do P. vivax tác động lên dòng máu của hệ tim mạch , công trình nghiên cứu này nhằm đánh giá sự thay đổi của khả năng biến dạng hồng cầu và ngưng tập hồng cầu trên các bệnh nhân sốt rét và so sánh với nhóm đối chứng là nhóm người bình thường. Các mãu máu của bệnh nhân sốt rét (n = 16), được tuyển chọn dựa trên sự có mặt của ký sinh trùng trong máu và phân loại thành các nhóm từ mật độ thấp đến mật độ cao (LPàMPàHP hay low-medium-high parasitemia), có liên quan đến mức độ của trầm trọng của bệnh. Để đánh giá sự ngưng tập và biến dạng của hồng cầu, người ta dùng kỹ thuật đo ngưng tập laser và đo quang (laser aggregometer và optical hemorheometer), sự treo hồng cầu được chuản bị sẵn trong huyết tương và dung dịch nước muối sinh lý ở nòng độ Hct là 5%.

Kết quả cho thấy khả năng biến dạng hồng cầu giảm đi có ý nghĩa (p < 0.001) theo sự gia tăng của mật độ ký sinh trùng sốt rét trong máu. Dù có sự giảm về tính biến dạng này, song các phép đo ngưng tập hồng cầu lại tăng đáng kể, chỉ ra có sự xuất hiện tăng ngưng tập, đặc biệt trong các bệnh nhân có mẫu máu là MP và HP, do có liên quan đến một số yếu tố khác nhau. Các thay đổi này có thể phần nào góp phần vào những thay đổi về dòng máu, đặc biệt hệ vi tuần hoàn.

2.13. Sốt rét P. vivax và đồng nhiễm liên quan đến sốt rét nặng ở trẻ em Papua New Guinea

Đó là các kết quả sơ bộ ghi nhận từ nghiên cứu của nhóm Blaise Genton, Valérie D'Acremont, Lawrence Rare, Kay Baea, John C. Reeder, Michael P. Alpers, Ivo Müller thuộc Viện Nghiên cứu Bệnh nhiệt đới Thụy Sĩ, Viện Nghiên cứu y học Papua New Guinea (PNG), Goroka, Papua New Guinea. Kinh điển, sốt rét nặng thường liên quan đến Plasmodium falciparum. Một số ít thông tin sẵn có trên y văn cho biết bệnh nặng và ác tính có sự góp phần của P. vivax. Có một vài chỉ tiêu về mặt dịch tễ học mà P. vivax hoặc nhiễm phối hợp với P. vivax sẽ bảo vệ chống lại các biến chứng và tử vong. Giám sát tỷ lệ mắc bệnh quy mô lớn tiến hành tại vùng mà 4 loài cùng tòn tại cho phép chúng ta ước tính con số sót rét ác tính trong số bệnh nhân nhiễm các loài khác nhau.

2.14. Sốt rét ác tính do P. vivax biểu hiện một tình trạng mất cân bằng đáng kể về phản ứng viêm

Một công trình nghien cứu vừa được công bố vào năm 2010 do nhóm tác giả Bruno Andrade Antonio Reis - FilhoSebastiao Souza - NetoJorge ClarencioLuis CamargoAldina BarralManoel Barral - Netto cho biết: mặc dù mô tả về các ca sốt rét ác tính do P.vivax đã được báo cáo trên y văn, song các dữ liệu về mô hình miễn dịch và phản ứng viêm hiếm khi tìm thấy và rất hạn hữu. Trong tạp chí này, trình trạng miễn dịch và viêm nhiễm của cả thể sốt rét thường và sốt rét ác tính do P.vivax được so sánh để khám phá các yếu tố liên quan đến sinh bệnh học miễn dịch của bệnh. Kết quả cho biết qua phát hiện thụ động và chủ động sốt rét tiến hành trong thời gian năm 2007 tại Buritis, Rondonia, vùng Brazilian Amazon. Tổng số 219 người tham gia vào nghiên cứu. Các cá nhân được phân loại theo sự có mặt của nhiễm trùng P.vivax thành 4 nhóm: nhóm không nhiễm (n = 90), nhóm không có triệu chứng (n = 60), nhẹ (n = 50) và nặng (n = 19). Chẩn đoán sốt rét bằng kính hiển vi và thử nghiệm sinh học phân tử. Vì hiện tại chưa có tiêu chuẩn để phân loại sốt rét ác tính do P.vivax một cách rõ ràng, nên nghiên cứu này vận dụng một cách liên ứng như tiêu chuẩn của sốt rét ác tính P.falciparum. Các bệnh nhân sốt rét ác tính nặng do P. vivax là những người trẻ hơn, sống thời gian ngắn hơn trong vùng sốt rét lưu hành, và chưa bị mắc sốt rét lần nào trước đó hoặc rất ít so với các đói tượng trên nhóm không mắc sốt rét hoặc nhóm nhiễm trùng không triệu chứng. Đường cong tuyến tính mạnh được xác định có liên quan đến sự gia tăng của nồng độ C reactive protein (CRP) trong huyết tương, creatinine, bilirubins huyết thanh và sựu tiến triển dẫn đến nặng của bệnh.

Nồng độ của yếu tố hoại tử khối u (TNF) trong huyết tương, interferon-gamma (IFN-gamma) cũng như tỷ số IFN-gamma/interleukin-10 tăng và cho thấy một đường tuyến tính với sự tăng dần dần với mức độ bệnh. Cả thông số cận lâm sàng của các cơ quan bị thương tổn và các cytokines gây viêm đã giảm trong quá trình sử dụng liệu pháp điều trị kháng ký sinh trùng trên các bệnh nhân sốt rét ác tính.

Nói tóm lại, hình thái lâm sàng khác biệt của P.vivax cho thấy có liên quan chặt chẽ với sự hoạt hóa của đáp ứng tiền viêm (activation of pro-inflammatory responses) và mất cân bằng của các cytokine. Các thử nghiệm này cực kỳ quan trọng để nâng cao hiểu biết về các cơ chế sinh lý bệnh học của một căn bệnh được xem là lãng quên nay trở nên rất nặng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Baird JK, Hoffman LS (2004). “Primaquine therapy for malaria”. Clinical and Infectious diseases 39:1336-1345.

2.Baird JK, Caneta-Miguel E et al.,(2003).“Survey of resistance to chloroquine of falciparum and vivax malaria in Palawan, the Philippines”. Ann Pharmacother, 2003 Apr; 37(4):526-9.

3.Barnardas C, Ratsimbasoa A, Tichit M, Bouchier C et al.,(2008).Plasmodium vivax resistance to chloroquine in Madagasca: clinical efficacy and polymorphisms in pvmdr1 and pvcrt-o genes”. Antimicrob Agents Chemother, 2008 Dec; 52(12):4233-40

4.Bonnard P, Guiard-Schmid JB, Develoux M, Rozenbaum W, Pialoux G. “Splenic infarction during acute malaria”. Trans R Soc Trop Med Hyg. 2005;99:82-6.

5.Baird JK (2009). “Resistance to therapies for infection by Plasmodium vivax”. Clin Microbiol Rev, 2009 Jul;22(3):508-34

6.Brian H.Feighner, Son Il Pak et al., (1998).“Reemergence of Plasmodium vivax malaria in republic of Korea”. http:www.cdc.goc/ncidod/EID.

7.Bruno B A, Antonio R F, Sebastiao et al.,(2010).“Severe Plasmodium vivax malaria exhibits marked inflamatory imbalance”. Malaria Journal 2010, 9:13 doi:10.1186/1475-2875-9-13

8.Chaudhry R, Mahajan RW, Diwan A, Khan S, Singhal R, Chaudel DS, et al (2003). “Unusual presentation of enteric fever: three cases of splenic and liver abscesses due to Salmonella typhi and Salmonella paratyphi A”. Trop Gastroenterol. 2003;24:198-9.

9.Chen N et al.(2007). “Relapse of Plasmodium vivax infection result from clonal hypnozoites activated at predeterminated intervals”. Journal of infectious diseases, 195:934-941.

10.Carlton JM, Adams JH, Silva JC et al.,(2008). “Comparative genomics of the neglected human malaria parasite Plasmodium vivax”. Nature, 2008 Oct 9; 455(72):757-63

11.Cisse B, Sokhna C, Boulanger D, et al (2006).‘Seasonal intermittent preventive treatment with artesunate and sulfadoxine-pyrimethamine for prevention of malaria in Senegalese children: a randomised, placebo-controlled, double-blind trial”. Lancet; 367:659-667.

12.Collines W E, Jeffery GM et al.,(1996). “Primaquine resistance in Plasmodium vivax”. Am J Trop Med Hyg, 1996 Sep; 55(3):243-9

13.Djimde A, Doumbo OK, Cortese JF, et al. (2001). “A molecular marker for chloroquine-resistant falciparum malaria”. N Engl J Med; 344:257-263.

14.Ehrman FC, Ellis JM, Young MD (1945).Plasmodium vivax Chesson strain”. Science, 1945Apr 13; 1010(2624):377

15.Fryauff DJ, Tuti S, Mardi A et al.,(2004). “Chloroquine resistant Plasmodium vivax in transmigration settlement of West Kalimantan, Indonesia”. Am J Trop Med Hyg; 59 (4):513-8

16.Genton B at al.(2008).Plasmodium vivax and mixed infection are associated with severe malaria in children: a prospective cohortstudy from Papua New Guinea”. Plos Medicine, 5:e127.

17.Goller JL et al.(2007). “Regional differences in the response of Plasmodium vivax malaria to primaquine as anti-relapse therapy”. American Journal of Tropical medicine & Hygiene, 76:203-207.

18.Gogtay NJ, Desai S, Kadam VS et al.,(2000). “Relapse pattern of Plasmodium vivax in Mumbai: a study of 283 cases of vivax malaria”. J Assoc Physicician India, 2000 Nov;48(11):1085-6.

19.Graham SM, Walsh AL, Molyneux EM, Phiri AJ, Molyneux ME.(2000). “Clinical presentation of non-typhoidal Salmonella bacteraemia in Malawian children”. Trans R Soc Trop Med Hyg. 2000;94:310-4.

20.Guthmann JP, Pittet A, Lesage A et al.,(2003).« Plasmodium vivax resistance to chloroquine in Dawei, southern Myanmar ». PMID: 15689067 [PubMed]. 

21.Hamel CT, Blum J, Harder F, Kocher T (2002). “Nonoperative treatment of splenic rupture in malaria tropica: review of the literature and case report”. Acta Trop. 2002;82:1-5.

22.Hill DR et al.(2006). “Primaquine: report from CDC expert meeting o­n malaria chemoprophylaxis” American Journal of Tropical medicine and Hygiene, 75:402-415.

23.Hovette P, Camara P, Passeron T, Tuan JF, Ba K, Barberet G, et al (2002). “Salmonella enteritidis splenic abscess complicating a Plasmodium falciparum malaria attack”. Presse Med. 2002;31:21-2.

24.Imwong M, Snounou G, Nurhayati et al.(2007).Plasmodium vivax infection usually result from activation of heterologous hypnozoites”. Journal of Infectious Diseases, 195:927-933.

25.Jeffery GM (1956). “Relapses with Chesson strain Plasmodium vivax following treatment with chloroquine”. Am J Trop Med Hyg, 1956 Jan;5(1):1-13

26.Ketema T, Bacha K, Birhanu T (2009).“Chloroquine-resistant Plasmodium vivax malaria in Serbo town, Jimma zone, south-west Ethiopia”. Malaria journal, 2009 jul 30; 8:177

27.Kitchener S, Nasveld P, Edstein MD et al.,(2007). “Tafenoquine for the treatment of recurrent Plasmodium vivax malaria”. Am J Trop Med Hyg, 2007 Mar:76 (3):494-6

28.Krongthong Thimasarn (2003). “Malaria drug resistance. Narrative part of the Maps and Graphs o­n Mekong drug resistance”. Roll Back Malaria, pp. 1-4

29.Kublin JG, Cortese JF, Njunju EM, et al (2003).‘Reemergence of chloroquine-sensitive Plasmodium falciparum malaria after cessation of chloroquine use in Malawi”. JInfect Dis 87:1870-1875.

30.Kurcer MA, Simek Z, Kurcer Z et al.,(2006).“The decreasing efficacy of chloroquine in the treatment of Plasmodium vivax malaria, in Sanliurfa, south-eastern Turkey”. Ann Trop Med Parasitol, 2006 Mar;100(2):109-13

31.Laufer MK, Plowe CV (2004). “Withdrawing antimalarial drugs: impact o­n parasite resistance and implications for malaria treatment policies”. Drug Resist Updat;7:279-288.

32.Lee KS, Kim TH, Kim ES et al.,(2009). “Short report: chloroquine resistant Plamodium vivax malaria in the Republic of Korea”. Am J Trop Hyg, 2009 Feb; 80(2):215-7

33.Li Guoqiao et al (2005). “Artequick - A new generation of artemisinine combination”. http://www.artepharm.com/product.

34.Liang GL, Sun XD, Wang J et al.,(2009).“Sensitivity of Plasmodium vivax to chloroquine in Laza city, Myanmar”. Zhongguo Ji Sheng Chong Xue Yu Ji Sheng, 2009 Apr;27(2):175-6.

35.Liu DQ, Liu RJ, Ren DX, et al (1995).“Changes in the resistance of Plasmodium falciparum to chloroquine in Hainan, China. Bull”. World Health Organ. 1995;73:483-486.

36.Looareesuwan S, Wilairatana P, Krudsood S et al.,(1999). “Chloroquine sensitivity of Plasmodium vivax in Thailand”. Ann Trop Med Parasitol, 1999 Apr; 93(3):225-30

37.Mita T, Kaneko A, Lum JK et al (2006). “Recovery of chloroquine sensitivity and low prevalence of the Plasmodium falciparum chloroquine resistance transporter gene mutation K76T following the discontinuance of chloroquine use in Malawi”. Am J Trop Med Hyg; 68:413-415.

38.Mohapatra MK, Padhiary KN, Mishra DP et al.,(2002). “Atypical manifestations of Plasmodium vivax malaria”. Indian J Malariol, 2002 Mar-Jul;39 (1-2):18-25

39.Mulindwahz et al., (2002). “Resistance patterns of Plasmodium falciparum malaria to chloroquine in Kampala, Uganda”. East African medical journal.  ISSN 0012-835X  vol. 79, no3, pp. 115-119.

40.Muller I, Galinski MR, Baird JK et al.,(2009). “Key gaps in the knowledge of Plasmodium vivax, a neglected human parasite”. Lancet Infect Dis 2009 Sep; 9(9): 555-66

41.Nacher M, Silachamroon U, Singhavisanon P, Wwilairatana P et al.,(2004). “Risk factors for Plasmodium vivax gametocyte carriage in Thailand”. Am J Trop Med, 2004 Dec;71(6):693-5.

42.Nandy A, Addy M, Maji AK et al.,(2003). “Monitoring the chloroquine sensitivity of Plasmodium vivax from Calcutta and Orissa, India”. Ann Trop Parasitol, 2003 Apr; 97 (3):215-20

43.Nasveld P, Kitchner S et al.,(2005). “Treatment of acute vivax malaria with tafenoquine”. Trans R Soc Trop Med Hyg, 2005 Jan; 99(1):2-5

44.Nature (2009).http://www. vivaxmalaria.com/template_diseases

45.Norbert g. Schwarz et al., (2005).5-day nonobserved artesunate monotherapy for treating uncomplicated falciparum malaria in young Gabonese children”. The American Society of Tropical medicine and hygiene.

46.Orjuela-Sanchez P, da Silva NS, da Silva-Nune M et al.,(2009).“Recurrent parasitemias and population dynamics of Plasmodium vivax polymorphisms in rural Amazonia”. Am J Trop Med and Hyg, 2009 Dec; 81(6):961-8

47.Ozsoy MF, o­ncul O, Pekkafali Z, Pahsa A, Yenen OS (2004). “Splenic complications in malaria: report of two cases from Turkey”. J Med Microbiol. 2004;53:1255-8.

48.Piero L. Olliaro et al., (2004).“Antimalarial compounds: from bench to bedside”. The Journal of Experimental Biology 206, 3753-3759.

49.Price RN, Douglas NM, Anstey NM.,(2009). “New developments in Plasmodium vivax malaria: severe disease and the rise of chloroquine resistance”. Curr Opin Infect Dis, 2009 Oct; 22(5); 430-5.

50.Price RN, Tjitra E, Guerra CA et al.,(2007).“Vivax malaria: negleted and not benign”. Am J Trop Med Hyg, 2007 Dec; 77(6 suppl):79-87.

51.Ratcliff A et al. (2007). “Therapeutic response of multidrug-resistant Plasmodium falciparum and Plasmodium vivax to chloroquine and sulfadoxine-pyrimethamine in southern Papua, Indonesia”. Transactions of the Royal Society of Tropical Medicine and Hygiene, 101:351-359.

52.Rehwagen C (2006). “WHO ultimatum o­n artemisinin monotherapy is showing results”. BMJ; 332: 1176.

53.Rieckmann KH, Davis DR, Hutton DC (1989).Plasmodium vivax resistance to chloroquine?”. Lancet, 1989 Nov 18:2(8673):1183-4.

54.Rowena E. Martin et al., (2004). “The malaria parasite's chloroquine resistance transporter is a member of the drug/ metabolite transporter superfamily”. Molecular Biology and Evolution 2004 21(10):1938-49.

55.Sharrock WW, Suwannarusk R, Lek-Uthai U et al.,(2008).Plasmodium vivax trophozoites insensitive to chloroquine”. Malarial journal 2008 May 27;7:94

56.Soto J, Toledo J, Gutierrez P et al., (2001).Plasmodium vivax clinically resistant to chloroquine in Colombia”. Am J Trop Hyg Aug;65(2):90-3

57.Stano I, Suprijanto S, Nurhayati et al.,(2009).“Resistance to chloroquine by Plasmodium vivax at Alor in the Lessser Sundas Archipelago in eastern Indonesia”. Am J Trop Med Hyg, 2009 Aug;81(2):338-42

58.Tasar M, Ugurel MS, Kocaoglu M, Saglam M, Somuncu I. (2004). “Computed tomography guided percutaneous drainage of splenic abscesses”. Clin Imaging. 2004;28:44-8.

59.Teka H, Petros B, Yamuah L (2008).“Chloroquine-resistant Plasmodium vivax malaria in Debre Zeit, Ethiopia”. Malaria journal, 2008 Oct 29; 7-220

60.Tjitra E, Anstey NM, Sugiarto P et al.(2008).“Multidrug-resistant Plasmodium vivax associated with severe and fetal malaria: a prospective study in Papua, Indonesia”. Pls Med, 2008 Jun 17; 5(6):128.

61.Vestergaard LS, Ringwald P (2007). “Responding to the challenge of antimalarial drug resistance by routine monitoring to update national malarial treatment policies”. American Journal of Tropical medicine and Hygiene, 77 (Suppl.6):153-159.

62.Vijaykadga S, Rojanawatsivej C, Congpoung K et al.,(2004). “Assessment of therapeutic efficacy for vivax in Thailand”. Southeast Asian J Trop Med public Health, 2004 Sep; 35(3):566-9

63.Vinetz JM et al.,(2006). “Emerging chloroquine-resistant Plasmodium vivax (benign tertian) malaria: the need for alternative drug treatment”. Clin Infect Dis 2006 Apr 15;42(8):1073-4.

64.Yagmur Y, Kara IH, Aldemir M, Buyukbairam H, Tacyldiz IH, Keles C.(2000). “Spontaneous rupture of the malarial spleen: two case reports and review of the literature”. Crit Care. 2000;4:309-13.

65.Zingman BS, Viner BL (1993). “Splenic complications in malaria; case report and review”. Clin Infect Dis. 1993:16:223-32.

66.Wellems TE, Plowe CV (2001). “Chloroquine-resistant malaria”. J Infect Dis; 184:770-776.

67.Wang X, Mu J, Li G (2005).Decreased prevalence of the Plasmodium falciparum chloroquine resistance transporter 76T marker associated with cessation of chloroquine use against P. falciparum malaria in Hainan, People's Republic of China”. Am J Trop Med Hyg;72:410-414.

68.WHO (2006). “Uncomplicated Plasmodium vivax treatment”. Guidelines for the treament of malaria. http://www.who.int/malaria/docs/ treatmentguidelines2006.pdf

69.WHO (2006). “The threat of resistance to artemisinine derivatives”. WHO briefing o­n malaria treatment guidelines and Artemisinine monotherapies, Geneva, 19 April, 2006. pp.13-17.

70.WHO (2007). “WHO/GMP_Standardized data entry for therapeutic efficacy tests”. Geneva, World Health Organisation (http://www.who.int/malaria/resistance).

71.WHO (2008). “Global malaria control and elimination: report of a meeting o­n containment of artemisinine tolerance. Geneva, WHO. http://www.who.int/malaria/resistance.

72.WHO (2009). Artemisinin resistance in Plasmodium falciparum malaria. http://www.who.int/malaria

 

Tác giả: Ths.Bs. Huỳnh Hồng Quang
(Biên dịch và tổng hợp)

Tin cùng chuyên mục

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VIỆN SỐT RÉT - KÝ SINH TRÙNG - CÔN TRÙNG QUY NHƠN
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005 
Địa chỉ:  Khu phố 8-Phường Quy Nhơn Bắc-Tỉnh Gia Lai
Điện thoại: (84) 0256.3846.892 - Fax: (84) 0256.3647464

 Email: impequynhon.org.vn@gmail.com 
Trưởng Ban biên tập: TTND.PGS.TS. Hồ Văn Hoàng-Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng

Tập đoàn công nghệ Quảng Ích