CẬP NHẬT VỀ CÁC CHIẾN LƯỢC CAN THIỆP VÀ HOÁ DỰ PHÒNG
Tính đến năm 2024, 34 quốc gia châu Phi đã áp dụng điều trị dự phòng ngắt quãng tron thai kỳ (Intermittent Preventive Treatment in pregnancy-IPTp) để giảm gánh nặng sốt rét trong thai kỳ. Trong số này, 33 quốc gia có tỷ lệ lây truyền sốt rét từ trung bình đến cao đã báo cáo dữ liệu thường xuyên từ các cơ sở y tế thuộc khu vực công về số lượng phụ nữ đến khám thai định kỳ và số lượng phụ nữ nhận liều thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư của IPTp (tức là IPTp1, IPTp2, IPTp3 và IPTp4). Sử dụng số lượng thai kỳ dự kiến hàng năm làm mẫu số (đã điều chỉnh cho trường hợp sảy thai và thai chết lưu), tỷ lệ sử dụng IPTp theo liều đã được tính toán. Tỷ lệ bao phủ dịch vụ chăm sóc tiền sản và IPTp được báo cáo cho năm 2020 và 2021 đã được điều chỉnh theo sự gián đoạn trong dịch vụ chăm sóc tiền sản. Từ năm 2023 đến năm 2024, tỷ lệ bao phủ phụ nữ mang thai và trẻ em gái tham gia chăm sóc tiền sản ít nhất một lần giảm nhẹ từ 81% xuống 79%.

Hình 4. Tỷ lệ phụ nữ mang thai và trẻ em gái tham dự khám thai ít nhất một lần và nhận IPTp, theo liều sulfadoxine-pyrimethamine, khu vực cận Sahara châu Phi, 2010-2024
Tỷ lệ bao phủ IPTp1 vẫn giữ nguyên ở mức 65%, trong khi tỷ lệ bao phủ cả IPTp2 và IPTp3 đều tăng, lần lượt từ 54% lên 55% và từ 43% lên 45%. Mặc dù có sự gia tăng khiêm tốn về tỷ lệ bao phủ IPTp2 và IPTp3, tỷ lệ bao phủ tổng thể cho cả ba liều trong năm 2024 vẫn thấp hơn nhiều so với mục tiêu 80%. Bốn quốc gia đạt tỷ lệ bao phủ IPTp3 trên 75%: Burkina Faso (77%), Cộng hòa Dân chủ Congo (76%), Guinea (79%) và Sierra Leone (78%). Khi diễn giải xu hướng này, sự sụt giảm trong phạm vi bao phủ chăm có tiền sản trong khi phạm vi bao phủ IPTp vẫn giữ nguyên (hoặc tăng lên) thực chất cho thấy sự gia tăng phạm vi bao phủ IPTp trong số những người tham dự chăm sóc tiền sản, vì mẫu số vẫn là tất cả phụ nữ và trẻ em gái mang thai.
Sự suy giảm hiệu quả của các loại thuốc truyền thống do kháng thuốc đã thúc đẩy nhu cầu tìm kiếm và đánh giá lại các phác đồ dự phòng hóa học mới.
Thách thức kháng thuốc và so sánh hiệu quả các phác đồ (SP vs DP)
Chiến lược IPTp với sulfadoxine-pyrimethamine (IPTp-SP) đang đối mặt với sự gia tăng các đột biến gen PfDHFR và PfDHPS. Tại Uganda, tỷ lệ các đột biến kháng thuốc mức độ cao như PfDHFR I164L và PfDHPS A581G đã tăng đáng kể (từ 24,9% lên 35,2%) sau khi triển khai IPTp-SP. Một phân tích gộp năm 2026 khẳng định phác đồ Dihydroartemisinin-Piperaquine (DP) có hiệu quả làm sạch ký sinh trùng vượt trội. Tuy nhiên, SP vẫn giữ vai trò quan trọng nhờ các hiệu ứng ngoài mục tiêu.
Bảng 3. So sánh các phát đồ can thiệp hoá dự phòng
| Chỉ số so sánh | IPTp-SP | IPTp-DP | IPTp-(DP+SP) |
| Nguy cơ tái phát ký sinh trùng (28 ngày) | 57,8% | 4,1% | 3,9% |
| Nguy cơ sốt rét lâm sàng | 9,3% | 1,1% | 0,3% |
| Nguy cơ nhiễm trùng lúc sinh | Cao | Thấp | Thấp nhất |
| Tác động lên cân nặng sơ sinh | Tốt (nhờ hiệu ứng kháng khuẩn) | Tốt (nhờ diệt ký sinh trùng) | Tối ưu |
Dữ liệu cho thấy phác đồ kết hợp (DP+SP) mang lại sự bảo vệ toàn diện nhất, vừa kiểm soát ký sinh trùng kháng thuốc, vừa tận dụng lợi ích của SP lên kết cục thai kỳ.
Hiệu ứng ngoài mục tiêu và tác động lên nhiễm trùng đường sinh dục (STI/RTI)
Mặc dù hiệu quả chống sốt rét suy giảm, IPTp-SP vẫn làm giảm 30% nguy cơ trẻ nhẹ cân so với không điều trị. Cơ chế chính là do SP có tác dụng kháng khuẩn phổ rộng đối với các bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STI) và đường sinh sản (RTI) như chlamydia và lậu cầu. Những nhiễm trùng này thường âm thầm nhưng là nguyên nhân hàng đầu gây viêm màng ối và sinh non. Ngược lại, phác đồ DP dù diệt ký sinh trùng tốt nhưng không có tác dụng bảo vệ chống lại các mầm bệnh STI/RTI này.
Đổi mới trong mô hình triển khai: c-IPTp và Tích hợp SMC
Để giải quyết vấn đề bao phủ thấp, hai mô hình triển khai mới đã cho thấy hiệu quả vượt trội:
- IPTp dựa vào cộng đồng (c-IPTp): Tại Senegal, việc sử dụng nhân viên y tế cộng đồng giúp giảm tải cho các trạm y tế và tiếp cận các khu vực xa xôi.Phụ nữ chấp nhận tốt phương thức này, mặc dù cần giải quyết vấn đề thiếu hụt nguồn cung thuốc và que thử thai tại thực địa.
- Tích hợp với Hoá dự phòng sốt rét theo mùa (SMC): Tại Mali và Burkina Faso, IPTp-SP được tích hợp vào các chiến dịch SMC cộng đồng bên cạnh dịch vụ chăm sóc tiền sản truyền thống. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhận thuốc dưới sự quan sát trực tiếp (DOT) tăng lên đáng kể.
| Quốc gia | Tỷ lệ tiếp nhận tại cơ sở thông thường | Tỷ lệ tiếp nhận khi tích hợp (SMC+ANC) |
| Mali | 68,7% | 79,2% (p=0,006) |
| Burkina Faso | 28,7% | 52,3% (p<0,0001) |
Mô hình tích hợp này được các nhà cung cấp dịch vụ đánh giá là khả thi và có khả năng làm tăng tỷ lệ đi khám thai định kỳ của phụ nữ.
Các biện pháp can thiệp hỗ trợ khác
Kiểm soát véc tơ vẫn là nền tảng quan trọng. Để đối phó với tình trạng muỗi kháng pyrethroid, các loại màn thế hệ mới như Interceptor G2 (chứa chlorfenapyr) đã chứng minh hiệu quả vượt trội trong việc giảm tỷ lệ nhiễm sốt rét tại Uganda so với màn truyền thống. Ngoài ra, đối với những phụ nữ mang thai phải di chuyển đến vùng dịch, mefloquine có thể được cân nhắc sử dụng trong tam cá nguyệt thứ hai và thứ ba sau khi đánh giá cẩn thận lợi ích-nguy cơ.
TRIỂN VỌNG VACCINE VÀ THÁI ĐỘ CỘNG ĐỒNG
Vaccine ngăn chặn bám dính nhau thai nhắm vào VAR2CSA là hướng đi tiềm năng nhất cho phụ nữ mang thai lần đầu. Hiện tại, các nghiên cứu về vaccine giai đoạn máu (PfCyRPA) cũng đang được tiến hành để giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh.
Mặc dù VAR2CSA là ứng cử viên hàng đầu cho vắc-xin đặc hiệu cho thai kỳ, nhưng các thử nghiệm lâm sàng ban đầu sử dụng các vùng liên kết CSA giả định của VAR2CSA đã không tạo ra được khả năng miễn dịch vượt chủng, có thể do sự đa dạng giữa các dòng vô tính cao của VAR2CSA. Tuy nhiên, huyết tương miễn dịch được tinh chế chống lại một biến thể duy nhất của VAR2CSA đã được chứng minh là có khả năng ức chế rộng rãi sự liên kết CSA của nhiều chủng ký sinh trùng, hỗ trợ tính khả thi của việc sử dụng các biến thể hạn chế cho vắc-xin cho phụ nữ mang thai. Một kháng thể đơn dòng phản ứng rộng rãi với VAR2CSA, nhận biết một epitope cấu hình trải rộng các miền liên quan đến liên kết CSA, được phát hiện nhắm mục tiêu vào một epitope khác với vị trí liên kết CSA, phù hợp với việc thiếu hoạt động ức chế bám dính của nó. Một mục tiêu khác, được bảo tồn nhiều hơn trên bề mặt của IRBC, cùng vị trí với VAR2CSA cũng liên kết với CSA, có thể đóng vai trò là mục tiêu thay thế để can thiệp.
Việc đánh giá hiệu quả vắc xin trong thai kỳ đặt ra những lo ngại đáng kể về đạo đức và an toàn. Khi vắc xin bào tử toàn phần giảm độc lực bằng bức xạ PfSPZ được tiêm trước thụ thai dưới sự bảo vệ của thuốc chống sốt rét, nó an toàn và dung nạp tốt, với tỷ lệ hiệu quả lên tới 57% và 86% chống lại sốt rét lâm sàng và KST trong máu, tương ứng, trong các lần mang thai tiếp theo. Về sự chấp nhận của cộng đồng, một nghiên cứu tại 4 quốc gia chỉ ra rằng 25,8% phụ nữ chọn vắc xin sốt rét là ưu tiên hàng đầu của họ. Tại Ghana thì tỷ lệ chấp nhận cao nhất (89,3% có ý định tiêm). Rào cản là 40,1% phụ nữ cho rằng vắc xin là “không tự nhiên”, đặc biệt cao tại Pakistan. Bên cạnh đó, họ cũng cho biết động lực, lý do chính tiếp nhận vaccine là mong muốn bảo vệ trẻ sơ sinh.
KẾT LUẬN
Thực trạng mắc sốt rét trong thai kỳ cho thấy sự phân hóa rõ rệt giữa các loài ký sinh trùng: P. falciparum gây gánh nặng bệnh tật nặng nề nhất tại Châu Phi, trong khi P. vivax đang thách thức các mục tiêu loại trừ tại Châu Mỹ và Châu Á. Việc kết hợp các phác đồ thuốc mới, chẩn đoán phân tử và các mô hình tiếp cận cộng đồng là cần thiết để bảo vệ thai kỳ trước sự biến đổi của các loài ký sinh trùng này.
(Hết)
Tài liệu tham khảo
1. Minwuyelet A, Yewhalaw D, Siferih M, Atenafu G. Current update on malaria in pregnancy: a systematic review. Trop Dis Travel Med Vaccines. 2025 May 22;11(1):14.
2. Ali AO, Abdillahi HA, Nadarajah S, Muse AH, Hared YA. Factors associated with intermittent preventive treatment (IPTp-SP) use for malaria during pregnancy in Somalia: a multilevel analysis of the 2020 demographic and health survey. Malar J. 2025 Dec 4;24:433.
3. Kizza J, Katairo T, Kakuru A, Nsengimaana B, et al. Recurrent Plasmodium falciparum parasitemia and drug resistance mutations during intermittent preventive treatment of malaria in pregnancy in Uganda. J Infect Dis. 2026 Feb 13:jiag074.
4. Aguti M, Kizza J, Kakuru A, Nakalembe M, et al. Maternal and household risk factors for malaria in pregnancy and low birthweight: a prospective cohort study from Uganda. Malar J. 2025 Dec 30;25(1):30.
5. Sichalwe MM, Charles DE, Kimaro RR, Basit A, et al. Prevalence, risk factors, and birth outcomes of anaemia in pregnancy across Tanzania: A scoping review. J Public Health Res. 2026 Feb 21;15(1):22799036261423640.
5. Malaria Partners International. Science & Research Report - December 2025 [Internet]. 2025 Dec [cited 2026 Mar 12]. Available from: https://www.malariapartnersinternational.org/december-2025-science-research-report/.
6. Onwuka AM, Aitken EH, Hasang W, Madanitsa M, et al. VAR2CSA-specific IgG and IgM antibodies are markers of exposure and protection against adverse malaria pregnancy outcomes. Malar J. 2025 Dec 31;25(1):72.
7. Dos Santos MI, Carvalho Júnior AR, de Oliveira GM, et al. Association between peripheral markers in women with malaria in pregnancy and small newborns: A cross-sectional study. PLOS Glob Public Health. 2025 Dec 3;5(12):e0005526.
8. Kakuru A, Partridge-Ames J, Gaw SL. Beyond malaria: can intermittent preventive treatment with sulphadoxine-pyrimethamine reduce the number of small vulnerable newborns globally? Lancet Glob Health. 2025 Nov 17.
9. Opoku Mensah B, Anim EO, Ahenkorah Fondjo L, Manu AO. Impact of Malaria Infection on the Diagnostic Performance of Adipsin for Preeclampsia in Pregnancy: A Case-Control Study. J Pregnancy. 2026 Jan 13;2026:4688006.
10. Olaya S, Angulo SD, Miranda J, Garay M. Severe Malaria and Mechanical Ventilation in Pregnancy: The Crucial Role of Fetal Doppler in Monitoring Fetal Well-Being. Cureus. 2025 Nov 29;17(11):e98109.
11. Adrama H, Dela Cruz EJ, Ozarslan N, Kakuru A, et al. Impact of intermittent preventive treatment of malaria in pregnancy with sulfadoxine-pyrimethamine on sexually transmitted and reproductive tract infections: results from a randomized trial in Uganda. Int J Epidemiol. 2026 Jan 2;55(1):dyag005.
12. Ndoye T, Majeres Lugand M, Diallo AM, et al. Correction: Initiating community intermittent preventive treatment of malaria in pregnancy in Senegal: qualitative evaluation of stakeholder acceptability and experience. Malar J. 2026 Jan 19;25(1):40.
13. Koita K, Kayentao K, Worrall E, et al. Effectiveness of antenatal care delivery of intermittent preventive treatment in pregnancy with sulfadoxine-pyrimethamine in the context of an integrated strategy with seasonal malaria chemoprevention in Mali and Burkina Faso. BMJ Glob Health. 2026 Jan 8;11(1):e019153.
14. Kokuhennadige V, Aitken E, Rogerson S. Malaria in pregnancy at the frontline: a delicate balance. Curr Opin Immunol. 2026 Jan 27;99:102726.
15. Limaye R, Schue J, Fesshaye B, Singh P, et al. Pregnant women's attitudes and intentions toward vaccines in Brazil, Ghana, Kenya, and Pakistan. PLOS Glob Public Health. 2026 Jan 28;6(1):e0004562.
16. GPnotebook. Malaria prophylaxis and pregnancy [Internet]. 2026 Feb 26 [cited 2026 Mar 12]. Available from: https://gpnotebook.com/pages/infectious-disease/malaria-prophylaxis-and-pregnancy.
17. GPnotebook. Schwangerschaft (Malariabehandlung während der Schwangerschaft) [Internet]. 2026 [cited 2026 Mar 12]. Available from: https://gpnotebook.com/de/pages/infektiologie/schwangerschaft-malariabehandlung-wahrend-der-schwangerschaft.
18. Naing C, Ni H, Htet NH, Aung HH, et al. Comparative effect of chemoprevention in malaria infection during pregnancy: A network meta-analysis. Br J Clin Pharmacol. 2026 Mar;92(3):779-792.
19. Barber BE, Bird E, Wilkes CS, William T, et al. Plasmodium knowlesi Malaria During Pregnancy. J Infect Dis. 2015;211(7):1104-1110.
20. Ahmar H, Jayanti N, Jayanti I, Fatmasari BD, et al. Malaria in Pregnancy: Systematic Review of Maternal and Fetal Outcomes and Effectiveness of Preventive Strategies. J Current Health Sci. 2025;5(3):155-168.
21. Oruni A, et al. Chlorfenapyr Bednets Effectively Overcome Pyrethroid Resistance in Uganda. Sci Rep. 2026 Jan 2;16:115.
22. Kapulu MC, et al. Malaria Vaccine Protection Against Intradermal or Venous Parasites: A Randomized Phase 2b Human Challenge Trial. Nature Med. 2026 Jan 6.
23. Kone M, et al. Efficacy of ProC6C-AlOH/Matrix-M Against P. falciparum: A Phase 2 Study. Lancet Infect Dis. 2025 Dec 16.
24. Ba A, et al. Genetic Diversity in the PfCyRPA Vaccine Candidate in Senegal. Sci Rep. 2026 Jan 18.
25. World Health Organization. World Malaria Report 2025. Geneva: WHO; 2025.
Malaria Partners International. Science & Research Report - January 2026 [Internet]. 2026 Jan [cited 2026 Mar 12]. Available from: https://www.malariapartnersinternational.org/science-research-report-january-2026/.
ThS.BS. Nguyễn Công Trung Dũng, TS.BS. Huỳnh Hồng Quang
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn