Home TRANG CHỦ Thứ 2, ngày 19/08/2019
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Finance & Retail Tin tức - Sự kiện
Trong nước
Quốc tế
Tin hoạt động của Viện
Tin vắn đáng chú ý
Điểm tin y tế
Ngày Sốt rét thế giới 25 tháng 4 (World Malaria Day)
Web Sites & Commerce Hoạt động hợp tác
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Web Sites & Commerce Chuyên đề
Web Sites & Commerce Tư vấn sức khỏe
Web Sites & Commerce Tạp chí-Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động Đảng & Đoàn thể
Web Sites & Commerce Bạn trẻ
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Trung tâm dịch vụ
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
3 8 0 9 2 7 7 1
Số người đang truy cập
1 3 4
 Tin tức - Sự kiện Quốc tế
Thông tin cập nhật về tình hình nghiên cứu y tế trên toàn cầu

Các bà mẹ vui mừng chào đón loại vaccine sốt rét đầu tiên trên thế giới ở Malawi; Liên Hiệp Quốc: Xà phòng & siêu vi khuẩn-Hai tỷ người thiếu nước tại cơ sở y tế; Chăm sóc mắt cho những người sống sót sau Ebola; Tổ chức Y tế thế giới: Số ca mắc sởi đang gia tăng nhanh trên toàn thế giới; Thông tin mới về bệnh tả trên toàn cầu 

Các bà mẹ vui mừng chào đón loại vaccine sốt rét đầu tiên trên thế giới ở Malawi

Alinafe Tsitsi, một bà mẹ hai con, đã đến Bệnh viện Cộng đồng Mitundu, Malawi vào sáng sớm thứ ba. Ôm đứa con út của mình sát vào ngực, bà tham gia vào việc xếp hàng theo đội hình. Giống như nhiều bà mẹ khác tập trung tại bệnh viện, Tsitsi đã biết được từ một nhân viên chăm sóc sức khỏe cộng đồng rằng loại vaccine sốt rét đầu tiên trên thế giới sẽ được sử dụng hôm nay.

Đã trải qua những mất mát lớn do sốt rét, bà muốn chắc chắn rằng đứa con út của mình được bảo vệ. “Chồng tôi được chẩn đoán mắc bệnh sốt rét nhưng không có thuốc ở bệnh viện,”Tsitsi nói. Tôi đã rất sợ mạng sống của chồng . Ông ta là trụ cột của gia đình. Chúng tôi đã phải vay tiền để được điều trị tại một phòng khám tư nhân. Khi tôi biết về vaccine sốt rét, tôi muốn con tôi tiêm loại thuốc này. Sốt rét vẫn là một kẻ giết người lớn trên toàn thế giới và đặc biệt là ở vùng cận Saharan châu Phi nơi có hơn 250 000 trẻ em dưới 5 tuổi chết mỗi năm. Họ là nhóm dễ bị tổn thương nhất chiếm hơn 60% tổng số ca tử vong do sốt rét trên toàn thế giới.

Tiến sĩ Mary Hamel - Trưởng chương trình thực hiện vaccine sốt rét tại TCYTTG cho biết đã có rất nhiều tiến bộ trong việc phòng chống sốt rét trong 15 năm qua. Đã có sự sụt giảm đều đặn về số ca mắc và tử vong do sốt rét, chủ yếu là do màn tẩm hóa chất diêt, phun thuốc tồn lưu trong nhà và điều trị hiệu quả cao khi trẻ em bị bệnh. Tuy nhiên, chúng ta đang đến một thời điểm mà tiến bộ đang bị đình trệ, và chúng tôi biết đây là thời điểm chúng ta rất cần một công cụ mới. Chúng tôi hy vọng rằng vaccine sốt rét mới sẽ là công cụ đó. RTS, S là vaccine đầu tiên và cho đến nay, là loại vaccine duy nhất cho thấy sự bảo vệ một phần chống lại bệnh sốt rét ở trẻ em. Vaccine tác động chống lại P. falciparum, ký sinh trùng sốt rét nguy hiểm nhất trên toàn cầu và phổ biến nhất ở châu Phi. Với những trẻ nhận được 4 liều trong các thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn, vaccine đã ngăn ngừa khoảng 4 trong 10 trường hợp mắc bệnh sốt rét và 3 trong 10 trường hợp mắc bệnh sốt rét nghiêm trọng trong thời gian bốn năm.


Các bà mẹ chờ đợi tiêm phòng vaccine sốt rét ở Malawi. Ảnh: WHO / M.Niewenhof

 Vaccine này có một lịệu trình hơi bất thường”- Tiến sĩ Hamel nói. “Nó được tiêm vào lúc 5, 6 và 7 tháng tuổi và sau đó khoảng 2 tuổi. Một câu hỏi quan trọng là liệu các bậc cha mẹ sẽ đưa con cái của họ tại những thời điểm này hay không?”


Cộng đồng đang tham gia vào chương trình thí điểm vaccine sốt rét. Ảnh: WHO / M.Niewenhof

Malawi là quốc gia đầu tiên thí điểm vaccine sốt rét trong chương trình tiêm chủng định kỳ của họ tại 11 quận trong cả nước. Đây là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi bệnh sốt rét, với hơn 4 triệu trường hợp mắc bệnh và 7.000 ca tử vong trong năm 2017. Các bác sĩ và điều dưỡng địa phương hy vọng rằng vaccine này cùng với các biện pháp phòng chống sốt rét khác sẽ làm giảm số ca nhiễm sốt rét đe dọa tính mạng do căn bệnh này. “Người dân đã được giới thiệu về loại vaccine rất tốt”, ông Han Hanfa Likaka, Cán bộ điều dưỡng cao cấp tại Bệnh viện Cộng đồng Mitundu cho biết. “Rất nhiều bà mẹ có con 5 tháng tuổi xuất hiện, điều này cho chúng ta một dự báo là các bà mẹ cũng muốn loại trừ bệnh sốt rét.”

Tiến sĩ Michael Kayange, Phó Giám đốc chương trình sốt rét thuộc Bộ Y tế Malawi cho biết công việc triển khai với cộng đồng sẽ tiếp tục hỗ trợ phòng chống sốt rét, tiếp tục thúc đẩy việc sử dụng màn ngủ để bảo vệ các gia đình chống lại việc lây nhiễm sốt rét. “Chúng tôi có các nhóm truyền thông trực tiếp để đảm bảo rằng phụ nữ nhận được thông điệp chính xác”- Tiến sĩ Kayange nói. “Họ không nên nghĩ rằng khi con cái họ tiêm vaccine sốt rét thì chúng được bảo vệ hoàn toàn. Trẻ em vẫn có thể mắc bệnh sốt rét nếu các biện pháp phòng ngừa khác không được sử dụng.”


Trẻ em đến 2 tuổi ở Malawi đang được chủng ngừa vaccine sốt rét. Ảnh: WHO / M.Reinfelde

Về phần Tsitsi, bà hoàn toàn cam kết tuân thủ lịch tiêm phòng sốt rét đầy đủ và đảm bảo những phụ nữ khác trong cộng đồng của bà được thông báo. “Khi tôi về nhà, tôi sẽ nói chuyện với bạn bè và những người phụ nữ khác trong cộng đồng về vaccine sốt rét,” bà nói. “Tôi sẽ bảo họ đi tiêm phòng cho con”. Bước tiếp theo trong Chương trình thực hiện vaccine sốt rét là bắt đầu thí điểm vaccine ở Kenya và Ghana, hai quốc gia còn lại được chọn để triển khai loại vaccine này. Dự án thí điểm sẽ mất bốn năm để hoàn thành -Tiến sĩ Hamel nói. “Nếu có chính sách sử dụng vaccine rộng rãi hơn, có thể đến sớm hơn, chúng tôi sẽ có nhiều bài học để giúp các quốc gia khác thực hiện các chương trình thành công trong tương lai.” 

Được lãnh đạo bởi các Bộ Y tế tại Ghana, Kenya và Malawi, chương trình thí điểm vaccine RTS, S đang được tài trợ bởi GAVI, Liên minh vaccine; Quỹ toàn cầu chống AIDS, bệnh lao và sốt rét và Unitaid. WHO, PATH và GSK đang cung cấp các khoản đóng góp bổ sung, với việc GSK quyên góp tới 10 triệu liều vaccine.

Liên Hiệp Quốc: Xà phòng & siêu vi khuẩn-Hai tỷ người thiếu nước tại cơ sở y tế

Liên Hiệp Quốc vào hôm thứ tư cho biết ¼ cơ sở y tế của thế giới thiếu các dịch vụ nước cơ bản, ảnh hưởng đến 2 tỷ người và cảnh báo rằng các điều kiện mất vệ sinh có thể thúc đẩy sự gia tăng những loại siêu vi khuẩn gây chết người trên toàn cầu. Dữ liệu mới cho biết: Ở các nước nghèo nhất, khoảng một nửa các cơ sở y tế không có các dịch vụ nước cơ bản - có nghĩa là nước được phân phối bằng đường ống hoặc các giếng khoan bảo vệ nó khỏi bị nhiễm phân - khiến các bà mẹ và trẻ sơ sinh gặp nguy hiểm đặc biệt.

Tổ chức Y tế thế giới và Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) cho biết hơn 1 triệu ca tử vong mỗi năm có liên quan đến sinh bẩn và 15% tất cả bệnh nhân đến khám tại một cơ sở y tế bị nhiễm trùng. Các bệnh viện không nhất thiết là các điểm chăm sóc mà bạn có thể chữa lành, nhưng các điểm chăm sóc gần như bị nhiễm trùng. (Chúng tôi) rất hoảng hốt vì điều này", Bruce Gordon, điều phối viên y tế công cộng của TCYTTG nói tại một cuộc họp báo ở Geneva. Các tổ chức này cho biết trên thế giới, gần 900 triệu người không có nước tại cơ sở y tế địa phương hoặc phải sử dụng nước giếng hoặc nguồn nước suối không được bảo vệ. Một trong năm cơ sở cũng thiếu nhà vệ sinh, ảnh hưởng đến khoảng 1,5 tỷ người.

Một trong những mục tiêu phát triển được các nhà lãnh đạo thế giới thông qua vào năm 2015 là tất cả mọi người được tiếp cận với nước và vệ sinh an toàn vào năm 2030. Một cơ sở chăm sóc sức khỏe không có nước không thực sự là một cơ sở chăm sóc sức khỏe- Nhà thống kê Tom Slaymaker của UNICEF cho biết. Những người bị bệnh đã thải ra nhiều mầm bệnh hơn trong phân của họ và không có nhà vệ sinh, nhân viên, bệnh nhân, bao gồm cả các bà mẹ và em bé có nguy cơ mắc bệnh và lây lan qua chất thải của con người cao hơn nhiều.

Các cơ quan này cho biết các dịch vụ nước và vệ sinh tốt là rất quan trọng để làm giảm sự lây lan của vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh, một trong những mối đe dọa sức khỏe lớn nhất trên toàn cầu. Tổ chức từ thiện quốc tế WaterAid cho biết tỷ lệ siêu vi khuẩn gia tăng có liên quan đến điều kiện vệ sinh kém tại các cơ sở y tế và điều này dẫn đến việc lạm dụng và sử dụng kháng sinh không đúng. Helen Hamilton, nhà phân tích chính sách của WaterAid, cho biết dữ liệu tiết lộ "các điều kiện thường không thể tin được" trong đó các nhân viên y tế đang cố gắng giúp đỡ bệnh nhân. "Cuộc chiến cứu mạng sống và làm chậm sự gia tăng của những siêu vi khuẩn gây chết người đe dọa tất cả chúng ta, không thể chiến thắng khi những nhân viên tiền tuyến tận tụy này bị từ chối ... những nguyên tắc cơ bản của chăm sóc sức khỏe". Bà kêu gọi các chính phủ ưu tiên vấn đề này khi họ gặp nhau tại kỳ họp của Đại Hội đồng Y tế thế giới vào tháng tới tại Geneva. Dữ liệu cho thấy Tây Phi có tỷ lệ tiếp cận với nước và vệ sinh thấp nhất.

WaterAid cho biết điều này đáng báo động khi thiếu nước sạch và vệ sinh tốt đã góp phần vào sự lây lan của dịch Ebola tồi tệ nhất thế giới trong khu vực, khiến hơn 11.300 người thiệt mạng trong giai đoạn 2013-2016.

Chăm sóc mắt cho những người sống sót sau Ebola

Tại Cộng hòa Dân chủ Congo, các bác sĩ nhãn khoa địa phương đang học cách chăm sóc đặc biệt cho những người sống sót sau Ebola.


Muhindo, một người trẻ sống sót sau Ebola được bác sĩ Steven Yeh kiểm tra mắt. WHO / J. D. Kannah

Kiến thức thu được sau vụ dịch Ebola 2014 -2016 ở Tây Phi đã xác định một số thách thức mà những người sống sót phải đối mặt, bao gồm giảm thị lực hoặc mờ mắt do viêm mắt. Khoảng 20% ​​những người sống sót sau vụ dịch đó có một số vấn đề về mắt.


Một cảnh nhìn từ trên không của thành phố Beni ở tỉnh Bắc Kivu. World Bank/V. Tremeau

Bằng cách xác định và điều trị sớm những vấn đề này, các hậu quả nghiêm trọng, bao gồm mù lòa, có thể được ngăn chặn bệnh. Cùng với Bộ Y tế Congo, Tổ chức Y tế thế giới gần đây đã tổ chức một phòng khám mắt để kiểm tra sức khỏe mắt cho những người sống sót sau vụ dịch Ebola hiện tại.


Tiến sĩ Jessica Shantha (trái) và Tiến sĩ Steven Yeh (phải) là các giáo sư từ Đại học Emory,
kiểm tra mắt của một người sống sót sau Ebola xem có biến chứng tiềm ẩn nào không. WHO / J. D. Kannah

Phòng khám được tổ chức tại Beni, Congo, một trong những khu vực bị ảnh hưởng, từ ngày 25 tháng 3 đến ngày 1 tháng 4. Ngoài ra, một phòng khám mắt ở Butembo, một khu vực bị ảnh hưởng khác, đã được trang bị để họ có thể cung cấp dịch vụ chăm sóc chuyên biệt này cho những người sống sót ở đó. Đây là lần đầu tiên trong một vụ dịch Ebola, việc theo dõi chăm sóc mắt xuất hiện rất nhanh sau khi những người sống sót được đưa ra khỏi nơi chăm sóc.


Cô Kanyare đưa bé Muhindo đến phòng khám (WHO / J. D. Kannah)

Một số người sống sót cũng giúp lập kế hoạch và quản lý phòng khám. Các đối tác trong dự án này bao gồm Đại học Emory, nơi đã triển khai hai bác sĩ nhãn khoa và Đại học Bắc Carolina đã triển khai một bác sĩ nhãn khoa cho dự án thông qua Mạng lưới phản ứng và cảnh báo dịch bệnh toàn cầu do TCYTTG tổ chức.


Centrine thực hiện một xét nghiệm về mắt để kiểm tra xem có bất kỳ biến chứng nào sau khi cô sống sót do Ebola hay không.WHO / J. D. Kannah

Hơn 250 người sống sót đã được nhìn thấy. Nhóm nghiên cứu lưu ý rằng các biến chứng như viêm màng bồ đào được quan sát ở mức thấp hơn so với các trường hợp từ vụ dịch Ebola 2014 -2016 ở Tây Phi. Cho đến nay chỉ có một người sống sót bị các biến chứng mắt có thể liên quan đến Ebola.


Télesphore Mumbere, Giáo sư nhãn khoa tại Phòng khám Đại học Butembo,
kiểm tra mắt của một người sống sót sau Ebola. WHO / J. D. Kannah

Như một phần của chương trình, các chuyên gia quốc tế đã đào tạo cho 10 bác sĩ nhãn khoa Congo về cách xác định và điều trị các vấn đề về mắt liên quan đến Ebola. Phản hồi từ các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe quốc gia tham gia và những người sống sót đã đăng ký nhìn chung là tích cực.


Christian đã được bác sĩ Steven Yeh kiểm tra mắt. WHO/ J. D. Kannah

Các bước tiếp theo sẽ là tiếp tục theo dõi những người sống sót, tại các phòng khám được tổ chức mỗi tháng, nơi đó họ được chăm sóc y tế, sinh học và tâm lý. Hiện tại có hơn 300 người sống sót đã đăng ký trong chương trình theo dõi.

Tổ chức Y tế thế giới: Số ca mắc sởi đang gia tăng nhanh trên toàn thế giới


Ảnh: Steve Sierzega tiêm chủng vaccine sởi, quai bị và rubella tại Sở y tế hạt Rockland ở Pomona, N.Y., ngày 27 tháng 3 năm 2019.

TCYTTG cho biết số ca mắc sởi trên toàn thế giới gần gấp bốn lần trong ba tháng đầu năm so với năm ngoái. TCYTTG trích dẫn dữ liệu sơ bộ, cho biết hơn 112.000 trường hợp mắc căn bệnh có thể phòng ngừa nhưng rất dễ lây lan đã được báo cáo trên toàn cầu trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 3. TCYTTG kêu gọi gia tăng tỷ lệ tiêm chủng tốt hơn nhằm chống lại bệnh sởi – căn bệnh có thể giết chết hoặc khiến một đứa trẻ bị tàn tật suốt đời.

Trong những tháng gần đây, TCYTTG cho biết sự gia tăng của căn bệnh này đã xảy ra "ở các quốc gia có tỷ lệ tiêm chủng cao, bao gồm cả Mỹ cũng như Israel, Thái Lan và Tunisia, vì căn bệnh này đã lây lan nhanh chóng giữa các nhóm người chưa được tiêm chủng. Mặc dù dữ liệu này là tạm thời và chưa đầy đủ, nhưng nó cho thấy một xu hướng rõ ràng, TCYTTG cho biết nhiều quốc gia đang ở giữa những đợt bùng phát bệnh sởi lớn, với tất cả các khu vực trên thế giới có sự gia tăng bền vững số ca mắc. Cơ quan này cho biết số trường hợp được báo cáo thường thấp hơn so với số trường hợp thực tế, có nghĩa là số trường hợp được ghi nhận có khả năng không phản ánh mức độ nghiêm trọng thực sự của dịch sởi. Trong ba tuần liên tiếp, các cơ quan y tế của Mỹ đã bổ sung hàng chục báo cáo mới về bệnh sởi vào tổng số hàng năm của nó, hiện ở mức 555, con số lớn nhất trong vòng 5 năm. 20 trong số 50 tiểu bang Mỹ hiện đã báo cáo có các trường hợp mắc bệnh sởi.
 

Hơn một nửa trong tổng số ca mắc của Mỹ-285 ca đã được báo cáo tại Thành phố New York. Các quan chức ở thành phố lớn nhất nước này tuần trước đã ra lệnh tiêm vaccine sởi bắt buộc để ngăn chặn dịch bệnh hiện đang xuất hiện ở những người Do Thái chính thống tại quận Brooklyn của thành phố. Các quan chức sở y tế thành phố đổ lỗi cho các nhà tuyên truyền chống vaccine cung cấp thông tin sai lệch trong cộng đồng.

Thông tin mới về bệnh tả trên toàn cầu

Điểm tin về các thông tin chính về bệnh tả

·Dịch tả là một bệnh tiêu chảy cấp có thể gây tử vong trong vài giờ nếu không được điều trị. Các nhà nghiên cứu đã ước tính rằng mỗi năm, có khoảng 1,3-4 triệu trường hợp, trong đó có 21.000 đến 143.000 ca tử vong trên toàn thế giới do bệnh tả, có tới 80% trường hợp có thể được điều trị thành công bằng dung dịch bù nước đường uống (ORS). Những trường hợp nặng sẽ cần điều trị nhanh bằng truyền dịch và kháng sinh.

·Cung cấp nước an toàn và vệ sinh là rất quan trọng để kiểm soát việc truyền bệnh tả và các bệnh khác truyền qua đường nước. Nên sử dụng vắc-xin dịch tả uống an toàn kết hợp với cải thiện nước và vệ sinh để kiểm soát dịch tả và phòng ngừa ở những khu vực có nguy cơ cao mắc bệnh tả. Chiến lược toàn cầu về kiểm soát dịch tả với mục tiêu giảm 90% tử vong do dịch tả đã được đưa ra vào năm 2017.
 

Tả là một bệnh nhiễm trùng tiêu chảy cấp do ăn phải thức ăn hoặc nước bị nhiễm vi khuẩn Vibrio cholerae. Tả vẫn là mối đe dọa toàn cầu đối với sức khỏe cộng đồng và là một chỉ số về sự bất bình đẳng và phát triển xã hội không đầy đủ. Các nhà nghiên cứu đã ước tính rằng mỗi năm, có khoảng 1,3 đến 4,0 triệu trường hợp, trong đó có 21 000 đến 143 000 trường hợp tử vong trên toàn thế giới do bệnh tả).

Tả là một bệnh cực kỳ nguy hiểm có thể gây ra tiêu chảy cấp tính nghiêm trọng. Phải mất từ ​​12 giờ đến 5 ngày để một người xuất hiện các triệu chứng sau khi ăn thực phẩm hoặc nước bị ô nhiễm. Bệnh tả ảnh hưởng đến cả trẻ em và người lớn và có thể gây tử vong trong vài giờ nếu không được điều trị. Hầu hết những người bị nhiễm V. cholerae không phát triển bất kỳ triệu chứng nào, mặc dù vi khuẩn có trong phân của họ trong khoảng từ 1-10 ngày sau khi bị nhiễm bệnh và được thải ra lại môi trường, có khả năng lây nhiễm cho người khác.

Ở những người phát triển các triệu chứng, phần lớn có các triệu chứng nhẹ hoặc trung bình, trong khi một số ít bị tiêu chảy nước cấp tính với mất nước nghiêm trọng. Điều này có thể dẫn đến tử vong nếu không được điều trị. Trong thế kỷ 19, dịch tả lan rộng khắp thế giới từ ổ chứa ban đầu của nó ở đồng bằng sông Hằng ở Ấn Độ. Sáu đại dịch sau đó đã giết chết hàng triệu người trên khắp các châu lục. Đại dịch hiện nay (thứ bảy) bắt đầu ở Nam Á vào năm 1961 và lan đến Châu Phi năm 1971 và Châu Mỹ vào năm 1991. Bệnh tả hiện đang lưu hành ở nhiều quốc gia.

Chủng Vibrio cholerae

Có nhiều typ huyết thanh của V. cholerae, nhưng chỉ có haityp- O1 và O139 - gây ra dịch bệnh. V. cholerae O1 đã gây ra tất cả các vụ dịch gần đây. V. cholerae O139 - lần đầu tiên được xác định ở Bangladesh vào năm 1992 - gây ra dịch bệnh trong quá khứ, nhưng gần đây chỉ được xác định trong các trường hợp lẻ tẻ. Nó chưa bao giờ được xác định bên ngoài châu Á. Không có sự khác biệt về bệnh tật do hai nhóm huyết thanh gây ra.

Dịch tễ học, các yếu tố nguy cơ và gánh nặng bệnh tật

Bệnh tả có thể lưu hành (endemic)hoặc gây ra dịch (epidemic). Một khu vực lưu hành dịch tả là một khu vực nơi các trường hợp dịch tả xác định đã được phát hiện trong 3 năm qua với bằng chứng lây truyền tại chỗ (có nghĩa là các trường hợp không được nhập từ nơi khác). Một vụ dịch tả (outbreak/epidemic) có thể xảy ra ở cả các quốc gia lưu hành và ở các quốc gia nơi bệnh tả không thường xuyên xảy ra.

Ở các nước lưu hành bệnh tả, một vụ dịch có thể theo mùa hoặc lẻ tẻ và có số lượng ca bệnh lớn hơn dự kiến. Ở một quốc gia nơi dịch tả không thường xuyên xảy ra, một vụ dịch được xác định bằng sự xuất hiện của ít nhất 1 trường hợp tả xác định với bằng chứng lây truyền tại chỗ tại một khu vực thường không có bệnh tả.

Sự lan truyền bệnh tả có liên quan chặt chẽ đến việc tiếp cận không đầy đủ đến các cơ sở vệ sinh và nước sạch. Các khu vực có nguy cơ điển hình bao gồm các khu ổ chuột ven đô và các trại dành cho người tị nạn quốc tếhoặc người di cư, nơi không đáp ứng các yêu cầu tối thiểu về nước sạch và vệ sinh.

Hậu quả của một cuộc khủng hoảng nhân đạo - như sự gián đoạn của hệ thống nước và vệ sinh, hoặc sự dịch chuyển dân cư đến các trại không đầy đủ và quá đông người- có thể làm tăng nguy cơ lây truyền bệnh tả, nếu vi khuẩn có mặt hoặc được mang đến. Xác chết không bị nhiễm bệnh chưa bao giờ được báo cáo là nguồn gốc của dịch bệnh. Số ca mắc bệnh tả được báo cáo cho TCYTTG tiếp tục ở mức cao trong vài năm qua. Trong năm 2017, có 1.227.391 ca đã được thông báo từ 34 quốc gia, trong đó có 564 trường hợp tử vong. Sự khác biệt giữa những con số và gánh nặng ước tính của căn bệnh này là do nhiều trường hợp không được ghi nhận vì những hạn chế trong hệ thống giám sát và sợ ảnh hưởng đến thương mại và du lịch.

Một cách tiếp cận nhiều mặt là chìa khóa để kiểm soát bệnh tả và làm giảm tử vong. Một sự kết hợp của giám sát, nước, vệ sinh môi trường , huy động sự tham gia củaxã hội, điều trị và vaccine tả uống được sử dụng.

Giám sát

Giám sát bệnh tả phải là một phần của hệ thống giám sát dịch bệnh lồng ghépbao gồm phản hồi ở cấp địa phương và chia sẻ thông tin ở cấp toàn cầu.

Các trường hợp tả được phát hiện dựa trên sự nghi ngờ lâm sàng ở những bệnh nhân bị tiêu chảy cấp tính nặng. Sự nghi ngờ sau đó được xác nhận bằng cách xác định V. cholerae trong các mẫu phân từ các bệnh nhân bị ảnh hưởng. Phát hiện có thể được nâng lên bằng cách sử dụng các test chẩn đoán nhanh (RDTs), trong đó một hoặc nhiều mẫu dương tính kích hoạt cảnh báo dịch tả. Các mẫu được gửi đến phòng xét nghiệm để xác nhận bằng nuôi cấy hoặc làm PCR. Năng lực địa phương để phát hiện (chẩn đoán) và giám sát (thu thập, biện giải và phân tích dữ liệu) sự xuất hiện dịch tả, là trung tâm của một hệ thống giám sát hiệu quả và lập kế hoạch các biện pháp phòng chống.

Các quốc gia bị ảnh hưởng bởi dịch tả được khuyến khích tăng cường giám sát dịch bệnh và chuẩn bị ở cấp độ quốc gia để nhanh chóng phát hiện và ứng phó với dịch bệnh. Theo Quy địnhkiểm dịch y tế quốc tế, việc thông báo về tất cả các trường hợp tả không còn bắt buộc. Tuy nhiên, các sự kiện y tế công cộng liên quan đến dịch tả phải luôn được đánh giá theo các tiêu chí được cung cấp trong các quy định để xác định xem có cần thông báo chính thức hay không.

Giải pháp can thiệp về nước và vệ sinh môi trường

Giải pháp lâu dài để kiểm soát dịch tả nằm ở sự phát triển kinh tế và tiếp cận phổ cập đến nước uống an toàn và vệ sinh đầy đủ. Các hành động nhắm vào các điều kiện môi trường bao gồm triển khai các giải pháp WASH bền vững thích ứng lâu dài để đảm bảo sử dụng nước an toàn, vệ sinh cơ bản và thực hành vệ sinh tốt trong các điểm nóng bệnh tả. Ngoài dịch tả, các biện pháp can thiệp như vậy còn ngăn ngừa một loạt các bệnh khác lây ruyền qua nước, cũng như góp phần đạt được các mục tiêu liên quan đến nghèo đói, suy dinh dưỡng và giáo dục. Các giải pháp WASH cho bệnh tả phù hợp với các giải pháp trong các Mục tiêu phát triển bền vững.

Điều trị

Tả là một bệnh dễ điều trị. Phần lớn mọi người có thể được điều trị thành công thông qua việc sử dụng kịp thời dung dịch bù nước bằng đường uống (ORS). Gói tiêu chuẩn ORS của WHO/UNICEF được hòa tan trong 1 lít (L) nước sạch. Bệnh nhân là người lớn có thể cần tới 6 L ORS để điều trị mất nước vừa phải vào ngày đầu tiên.

Bệnh nhân mất nước nghiêm trọng có nguy cơ bị sốc và cần phải truyền dịch nhanh chóng bằng đường tĩnh mạch. Những bệnh nhân này cũng được cho dùng kháng sinh thích hợp để giảm thời gian tiêu chảy, giảm thể tích dịch bù nước cần thiết, và rút ngắn số lượng và thời gian bài tiết V. cholerae trong phân của họ. Sử dụng kháng sinh hàng loạt không được khuyến cáo, vì nó đã được chứng minh là không có tác dụng đối với sự lây lan của bệnh tả, có thể góp phần kháng thuốc kháng sinh.

Tiếp cận nhanh chóng với điều trị là điều cần thiết trong một vụ dịch tả. Cần bù nước bằng đường uống trong cộng đồng, ngoài ra các trung tâm điều trị lớn hơn có thể cung cấp dịch truyền tĩnh mạch và chăm sóc 24 giờ. Với điều trị sớm và đúng cách, tỷ lệ tử vong ca bệnh sẽ ở mứcdưới 1%. Kẽm là một liệu pháp bổ trợ quan trọng cho trẻ em dưới 5 tuổi, nó cũng làm giảm thời gian tiêu chảy và có thể ngăn ngừa các đợt gây ra tiêu chảy cấp tính trong tương lai do những nguyên nhân khác.

Thúc đẩy môi trường vệ sinh và huy động sự tham gia của xã hội

Các chiến dịch giáo dục sức khỏe, phù hợp với văn hóa và tín ngưỡng địa phương, giúp thúc đẩy việc áp dụng các thực hành vệ sinh phù hợp như rửa tay bằng xà phòng, chế biến an toàn và lưu trữ thực phẩm và xử lý an toàn phân của trẻ em. Thực hành tang lễ cho những người chết vì dịch tả phải được điều chỉnh để ngăn ngừa lây nhiễm với những người tham dự.

Hơn nữa, các chiến dịch nâng cao nhận thức nên được tổ chức trong thời gian bùng phát dịch bệnh và cần cung cấp thông tin cho cộng đồng về những nguy cơ tiềm ẩnvà triệu chứng của bệnh tả, biện pháp phòng ngừa để tránh bệnh tả, khi nào và ở đâu báo cáo các trường hợp và tìm kiếm điều trị ngay lập tức khi có triệu chứng. Vị trí của các địa điểm điều trị thích hợp cũng nên được chia sẻ.

Sự tham gia của cộng đồng là chìa khóa cho những thay đổi lâu dài trong hành vi và kiểm soát dịch tả.

Các loại vaccine tả uống

Hiện tại có ba loại vaccine tả uống (oral cholera vaccines-OCV) đủ tiêu chuẩn của TCYTTG là Dukoral®, Shanchol ™ và Euvichol-Plus®. Tất cả ba loại vaccine cần hai liều để bảo vệ đầy đủ. Dukoral® được dùng với dung dịch đệm, đối với người lớn, cần 150 ml nước sạch. Dukoral có thể được sử dụng cho tất cả các cá nhân trên 2 tuổi. Tối thiểu cách nhau 7 ngày và không quá 6 tuần giữa mỗi liều. Trẻ em từ 2-5 tuổi cần liều thứ ba. Dukoral® chủ yếu được sử dụng cho khách du lịch. Hai liều Dukoral® bảo vệ chống lại bệnh tả trong 2 năm.

Shanchol ™ và Euvichol-Plus® về cơ bản là cùng một loại vắc-xin được sản xuất bởi hai nhà sản xuất khác nhau. Chúng không đòi hỏi một dung dịch đệm khi sử dụng. Chúng được dùng cho tất cả đối tượng hơn 1 tuổi. Cách nhau tối thiểu hai tuần giữa mỗi liều của hai loại vaccine này. Hai liều Shanchol ™ và Euvichol-Plus® bảo vệ chống lại bệnh tả trong ba năm, trong khi một liều cung cấp sự bảo vệ ngắn hạn. Shanchol ™ và Euvichol-Plus® là các loại vaccine hiện có sẵn cho các chiến dịch chủng ngừa hàng loạt thông qua kho dự trữ OCV toàn cầu. Kho dự trữ được hỗ trợ bởi GAVI, Liên minh vaccine. Dựa trên các bằng chứng có sẵn, tài liệu về vaccine phòng chống dịch tả của TCYTTG vào tháng 8 năm 2017 chứng tỏ rằng:

• OCV nên được sử dụng ở những vùng có tả lưu hành, trong các cuộc khủng hoảng nhân đạo có nguy cơ mắc bệnh tả cao và trong khi dịch tả bùng phát; luôn kết hợp với các chiến lược phòng ngừa và kiểm soát khác về dịch tả.

• Chủng ngừa không được làm gián đoạn việc cung cấp các biện pháp can thiệp sức khỏe ưu tiên cao khác để kiểm soát hoặc ngăn chặn vụ dịch. Hơn 30 triệu liều OCV đã được sử dụng trong các chiến dịch chủng ngừa hàng loạt. Các chiến dịch đã được thực hiện ở các khu vực trải qua một đợt bùng phát, tại các khu vực có mức độ tổn thương cao trong các cuộc khủng hoảng nhân đạo và ở các quần thể dân cư sống ở các khu vực lưu hành cao, được gọi là các điểm nóng (“hotspots”.) .

Đáp ứng của Tổ chức Y tế thế giới

Vào năm 2014, Lực lượng đặc nhiệm toàn cầu về kiểm soát bệnh tả (Global Task Force o­n Cholera Control - GTFCC), với Ban thư ký có trụ sở tại TCYTTG đã đượcphục hồi. GTFCC là một mạng lưới gồm hơn 50 đối tác hoạt động kiểm soát dịch tả trên toàn cầu, bao gồm các tổ chức học thuật, các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan của Liên Hợp Quốc.

Thông qua GTFCC và với sự hỗ trợ từ các nhà tài trợ, TCYTTG làm việc để:

• Thúc đẩy thiết kế và thực hiện các chiến lược toàn cầu nhằm góp phần phát triển năng lực phòng ngừa và kiểm soát bệnh tả trên toàn cầu;

• Cung cấp một diễn đàn trao đổi kỹ thuật, phối hợp và hợp tác về các hoạt động liên quan đến dịch tả để tăng cường năng lực quốc gia phòng ngừa và kiểm soát bệnh tả;

• Hỗ trợ các quốc gia thực hiện các chiến lược kiểm soát dịch tả hiệu quả và theo dõi tiến bộ;

• Phổ biến các hướng dẫn kỹ thuật và số tay thực địa;

• Hỗ trợ xây dựng chương trình nghiên cứu, tập trung vào đánh giá các phương pháp tiếp cận đổi mới trong phòng ngừa và kiểm soát dịch tả ở các quốc gia bị ảnh hưởng;

• Tăng khả năng xem xét dịch tả như một vấn đề sức khỏe cộng đồng toàn cầu quan trọng thông qua việc phổ biến thông tin về phòng ngừa và kiểm soát dịch tả, và tiến hành các hoạt động vận động và huy động nguồn lực để hỗ trợ phòng ngừa và kiểm soát dịch tả ở cấp quốc gia, khu vực và toàn cầu.

 Chấm dứt dịch tả: Lộ trình đến năm 2030

Vào tháng 10 năm 2017, các đối tác của GTFCC đã đưa ra một chiến lược kiểm soát dịch tả Chấm dứt dịch tả: Lộ trình toàn cầu đến năm 2030. Chiến lược do quốc gia dẫn đầu với mục tiêu giảm 90% tử vong do bệnh tả và loại trừ dịch tả ở 20 quốc gia vào năm 2030. Lộ trình toàn cầu tập trung vào ba trục chiến lược:

1. Phát hiện sớm và ứng phó nhanh để ngăn chặn dịch bệnh: chiến lược tập trung vào việc kiềm chế dịch bệnh bất cứ nơi nào chúng có thể xảy ra, thông qua phát hiện sớm và đáp ứng đa ngành nhanh chóng bao gồm sự tham gia của cộng đồng, tăng cường năng lực giám sát và phòng xét nghiệm, hệ thống y tế và sẵn sàng cung cấp vật tư thiết yếu và thiết lập các đội phản ứng nhanh.

2. Một cách tiếp cận đa ngành nhắm mục tiêu ngăn ngừa tái diễn dịch tả: chiến lược kêu gọi các quốc gia và các đối tác tập trung vào các điểm nóng về bệnh tả, các khu vực tương đối nhỏ bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch tả. Việc lan truyền bệnh tả có thể được ngăn chặn ở những khu vực này thông qua các biện pháp bao gồm cải thiện WASH và thông qua việc sử dụng OCV.

3. Cơ chế phối hợp hiệu quả để hỗ trợ kỹ thuật, vận động, huy động nguồn lực và hợp tác ở cấp địa phương và toàn cầu: GTFCC cung cấp một khuôn khổ mạnh mẽ nhằm hỗ trợ các nước tăng cường nỗ lực kiểm soát dịch tả, xây dựng các chương trình kiểm soát dịch tả xuyên quốc gia do quốc gia lãnh đạo và hỗ trợ các quốc gia về nguồn nhân lực, kỹ thuật và tài chính.

Nghị quyết thúc đẩy kiểm soát dịch tả và thống nhất "Chấm dứt dịch tả: Lộ trình toàn cầu đến năm 2030" đã được thông qua vào tháng 5/2018 tại Kỳ họp lần thứ 71 của Đại Hội đồng Y tế thế giới.

Bộ dụng cụ về bệnh tả

Để đảm bảo triển khai hiệu lực và hiệu quả các vật liệu cần thiết dành cho việc điều tra và xác định các vụdịch tả, cũng như điều trị bệnh nhân tả, TCYTTG đã phát triển một bộ dụng cụ về bệnh tả. Sau khi tham khảo ý kiến ​​với các đối tác triển khai, TCYTTG đã chỉnh sửa bộ dụng cụ về bệnh tả vào năm 2016 nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thực địa. Tổng cộng có 6 bộ dụng cụ:

• 1 bộ dùng chođiều tra

• 1 bộ cung cấp cho việc xác định trong phòng xét nghiệm

• 3 bộ dùng cho điều trị tại cộng đồng, tuyến thôn bản và trung ương

• 1 bộ dụng cụ hỗ trợ với các vật liệu hậu cần như đèn năng lượng mặt trời, hàng rào và túi nước và vòi.

Mỗi bộ điều trị cung cấp đủ vật liệu để điều trị cho 100 bệnh nhân. Các bộ dụng cụ dịch tả được sửa đổi được thiết kế để giúp chuẩn bị cho một vụ dịch tả tiềm tàng và để hỗ trợ tháng đầu tiên trong đáp ứng ban đầu.

Tài liệu tham khảo

(1) Updated global burden of cholera in endemic countries. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4455997/Ali M, Nelson AR, Lopez AL, Sack D. (2015). PLoS Negl Trop Dis 9(6): e0003832. doi:10.1371/journal.pntd.0003832.

(2) The incubation period of cholera: a systematic review.. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/23201968/ Azman AS, Rudolph KE, Cummings DA, Lessler J. J Infect. 2013;66(5):432-8. doi: 10.1016/j.jinf.2012.11.013. PubMed PMID: 23201968; PubMed Central PMCID: PMC3677557.

(3) Cholera Annual Report 2017 . http://www.who.int/wer/2018/wer9338/en/
Weekly Epidemiological Record 21 September 2018, Vol 93, 38 (pp 489-500).

(4) Cholera vaccines: WHO position paper – August 2017 .http://apps.who.int/iris/bitstream/10665/258764/1/WER9234-477-498.pdf

Weekly Epidemiological Record 25 AUGUST 2017, No 34, 2017, 92, 477–500.

 

Ngày 16/05/2019
Ths.Bs.Lê Thạnh biên dịch
(Nguồn: who.int.com; voanew.com)
 

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên khoa của Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn về các bệnh ký sinh trùng và các bệnh do véc tơ truyền, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng mới nổi như sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ, giun lươn, giun đũa chó và các bệnh thông thường khác; khám và xét nghiệm chẩn đoán bệnh bằng các phương tiện kỹ thuật cao như sinh hóa, huyết học, miễn dịch (ELISA), sinh học phân tử và chẩn đoán hình ảnh bằng nội soi tiêu hóa, siêu âm màu…

   Trung tâm Dịch vụ khoa học kỹ thuật của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế chuyên sản xuất mua bán hóa chất, vật tư, chế phẩm diệt côn trùng; dịch vụ diệt côn trùng gây bệnh, côn trùng gia dụng như muỗi, ruồi, gián, kiến…; dịch vụ phòng diệt mối mọt và xét nghiệm phát hiện tôm bằng các kỹ thuật hiện đại.


 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 CHUYÊN ĐỀ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: Khu vực 8-Phường Nhơn Phú-Thành phố Quy Nhơn-Tỉnh Bình Định.
Tel: (84) 0256.3547492 - Fax: (84) 0256.3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng Ban biên tập: TTND.PGS.TS. Hồ Văn Hoàng-Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích