Home TRANG CHỦ Thứ 2, ngày 16/09/2019
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Finance & Retail Tin tức - Sự kiện
Trong nước
Quốc tế
Tin hoạt động của Viện
Tin vắn đáng chú ý
Điểm tin y tế
Ngày Sốt rét thế giới 25 tháng 4 (World Malaria Day)
Web Sites & Commerce Hoạt động hợp tác
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Web Sites & Commerce Chuyên đề
Web Sites & Commerce Tư vấn sức khỏe
Web Sites & Commerce Tạp chí-Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động Đảng & Đoàn thể
Web Sites & Commerce Bạn trẻ
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Trung tâm dịch vụ
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
3 8 4 1 1 8 3 6
Số người đang truy cập
1 6 6
 Tin tức - Sự kiện Quốc tế
Thông tin cập nhật về thuốc sốt rét mới tafenoquine (Kritafel®) trong lộ trình loại trừ sốt rét

Tóm tắt

Plasmodium vivax ít được nghiên cứu hơn trong lĩnh vực ký sinh trùng sót rét, song loài này cũng gây nhiễm cho hơn 20 triệu người mỗi năm. Hầu hết các ca bệnh tập trung ở vùng châu Á-Thái Bình Dương-nơi mà hơn 2,2 tỷ người có nguy cơ sốt rét. Một số thách thức đang phải đối mặt tại các vùng lưu hành sốt rét do P. vivax là sự tiếp cận và tuân thủ điều trị thuốc điều trị hiệu quả giai đoạn thể ngủ trong gan còn giới hạn, sự xuất hiện/ lan rộng kháng thuốc và quan niệm sai lầm rằng P. vivax không gây tử vong. Với hướng dẫn Quốc gia, primaquine kê đơn chỉ định dùng 14 ngày liên tiếp, tuy nhiên điều quan tâm là bệnh nhân không tuân thủ dùng đủ liệu trình có thể làm giảm tình trạng tái phát từ thể ngủ.Do vậy, một ứng cử viên mới dùng liều duy nhất 1 ngày là cần thiết, một trong số các thuốc đó đã được chấp thuận bởi Cục Quản lý Thực Dược phẩm Mỹ (FDA, 2018) giúp làm sạch thể ngủ trong gan, điều trị tiệt căn P. vivax có tế gọi là Tafenoquine. Bài tổng hợp này nhằm cập nhật thông tin các dữ liệu về Tafenoquine với các vai trò tiềm năng trong ngăn ngừa tái phát do P. vivax trong lộ trình loại trừ sốt rét.

Từ khóa: Plasmodium vivax, Tafenoquine, thể ngủ trong gan

Tafenoquine: Một dẫn suất thuốc 8-aminoquinolein diệt thể ngủ P. vivax trong gan

Thông tin từ Viện các bệnh truyền nhiễm và sốt rét Úc (Australian Defence Force Malaria and Infectious Disease Institute-ADFMIDI), trước đây là Viện Sốt rét Lục quân Úc, thuộc Bộ Quốc phòng Úc cho biết qua các nghiên cứu đa trung tâm về thuốc Tafenoquine (TQ) trong thời gian 20 năm tại nhiều châu lục khác nhau trên thế giới đã chứng minh hiệu lực và độ an toàn cao trong diệt thể ngủ và dự phòng sốt rét ở tất cả loài Plasmodium spp., ngày 22/7/2018 thuốc TQ đã được Cơ quan Quản lý Thực dược phẩm Mỹ (US. FDA) chấp thuận và thời gian đến loại thuốc TQ tiếp tục được các cơ quan chức năng cũng như các Chương trình Quốc gia Phòng chống sốt rét cân nhắc thay thế primaquin phosphate (PQ) liệu trình 14 ngày bằng TQ với điều trị ngắn ngày (1 ngày 1 liều để đạt được sự tuân thủ và chấp thuận của bệnh nhân sốt rét do P. vivax khi điều trị tận gốc, nhất là khi bệnh nhân đã xuất viện về nhà và tiếp tục liệu trình.


Hình 1. Tafenoquine thuộc nhóm 8-aminoquinolein có tiềm năng diệt thể ngủ

Đây cũng là Viện nghiên cứu duy nhất trên thế giới tiến hành thử nghiệm pha III về thuốc TQ như một thuốc dự phòng cho cả P. falciparumP. vivax. Các kết quả nghiên cứu đã mang lại thành công thiết thực và có ý nghĩa trong việc chọn lựa thuốc sốt rét tại nhiều quốc gia có bệnh lưu hành khu vực châu Á-Thái Bình Dương, kể cả Việt Nam nhằm thay đổi chính sách thuốc sốt rét theo từng giai đoạn, giảm gánh nặng sốt rét và đạt được sự tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân vì có sự giám sát chặt chẽ trong nghiên cứu.

Tafenoquine là một loại dẫn suất của 8-aminoquinolin sản xuất bởi công ty GlaxoSmithKline sau khi đánh giá có tác dụng như một liệu pháp điều trị tiềm năng cho sốt rét gần 25 năm trước cũng như ngăn ngừa sốt rét vì thuốc TQ diệt thể ngủ và chống tái phát xa cho P. vivax. Chỉ định điều trị cho thuốc TQ là diệt thể ngủ cả P. vivax P. ovale vì hai loài KSTSR này có thể gây tái phát xa sau khi đã hoàn tất liệu trình thuốc diệt thể vô tính.

TQ hiện nay được xem là thuốc duy nhất tiềm năng thay cho liệu pháp PQ 14 ngày, nhưng thuốc hiện vẫn đang hoàn tất các giai đoạn nghiên cứu thử nghiệm tại một số quốc gia nữa theo luật dược, nên sẽ chỉ định sử dụng rộng rãi thời gian đến. Lợi điểm chính của TQ là thời gian bán hủy dài (2-3 tuần), nên điều trị liều duy nhất có thể đủ nồng độ thuốc theo liều dược lý làm sạch toàn bộ thể ngủ. Giống như PQ, loại thuốc TQ cũng có thể gây tán huyết trên những bệnh nhân thiếu men G6PD. Ngoài ra, do thời gian bán hủy kéo dài của TQ nên cần sự chăm sóc đặc biệt để đảm bảo những bệnh nhân có thiếu men G6PD nghiêm trọng không nên dùng thuốc.

Tafenoquine là thuốc ứng viên mới cho điều trị P. vivax kháng primaquin

Hiện tại chloroquine (CQ) và primaquin phosphate (PQ) là hai thuốc dùng điều trị thể vô tính và tận gốc, ngăn ngừa tái hoạt thể ngủ của của P. vivax, tác động trên các thể ngoại hồng cầu, phá hủy các thể ngủ, nên có khả năng ngăn ngừa P. vivax tái phát xa. Liệu pháp PQ hiện tại có thể làm tăng hoạt tính của CQ chống lại sự kháng thuốc do của P. vivax ở giai đoạn trong hồng cầu. Dù nhiều báo cáo tại các các vùng địa lý khác nhau cho thấy P. vivax kháng PQ tại Indonesia, song bằng chứng tin cậy thì chưa thuyết phục vì do nhiều yếu tố can thiệp như điều trị không có giám sát, dung nạp thuốc và khả năng tái nhiễm có thể chưa gián biệt.

Tái phát có thể xảy ra sớm hoặc muộn (16 ngày đến 3 năm) kể từ lần nhiễm đầu tiên, ngay cả khi đã điều trị đủ liều. Do đó, thử nghiệm lâm sàng nếu cho rằng kháng PQ thì xác định là lam máu vẫn dương tính với P. vivax sau khi đã điều trị liều chuẩn và có PQ đủ liệu trình 14 ngày theo khuyến cáo Tổ chức Y tế thế giới trong suốt quá trình theo dõi. Điều này sẽ khó khả thi vì sự tuân thủ của bệnh nhân nhận điều trị khi họ đã không còn sốt nữa, nên sẽ tiếp tụclà nguồn lây trong cộng đồng khi còn tồn tại. TQ có thể kích thích KSTSR ra khỏi nơi ẩn núp tại gan, loại bỏ hoàn toàn thể ngủ và dừng tái phát. Do đó, TQ là loại thuốc mang lại niềm hy vọng mới trong việc loại trừ sốt rét do P. vivax khi kết hợp với một số biện pháp phòng chống khác và thể giới hiện công nhận việc TQ ra đời đánh giá là “một thành tựu phi thường” trong y học và trontg lịch sử điều trị sốt rét hơn 60 năm qua.

Trong thời gian đến, việc phối hợp giữa Tập đoàn nghiên cứu và phát triển dược phẩm GlaxoSmithKline(GSK) và Tổ chức phát triển thuốc sốt rét Medicines for Malaria Venture (MMV) sẽ sớm đưa TQ với biệt dược Krintafel đưa vào danh mục thuốc sốt rét thiết yếu các quốc gia điều trị tiệt căn sốt rét do P. vivax, sớm loại trừ sốt rét trên toàn cầu.

  
Hình 2. Krintafel- Biệt dược của Tafenoquine do GSK và MMV phối hợp nghiên cứu

Tiềm năng thay thế primaquine bằng tafenoquine trong điều trị bệnh nhân P. vivax

Theo thông tin từ giáo sư Ric Price thuộc Trung tâm nghiên cứu y học nhiệt đới của Đại học Oxford, Anh cho thấy 40% dân số thế giới có nguy cơ nhiễm P. vivax. Không như P. falciparum, loài P. vivax có thể ngủ và bị "đánh thức dậy" trong nhu mô gan sau vài tuần đến vài tháng, thậm chí vài năm kể từ khi có triệu chứng nhiễm đầu tiên đã điều trị khỏi. Các tình trạng nhiễm trùng tái phát này đã cho phép ký sinh trùng sống sót trong thời gian dài trong điều kiện muỗi ít (như các tháng mùa đông hay nhiệt độ ôn đới). Khả năng tồn tại của thể ngủ như vậy đã khiến cho P. vivax sẽ khó loại trừ hơn so với sốt rét P. falciparum.


Hình 3. Công thức hóa học của Primaquine, Sitamaquine và Tafenoquine phosphate

Tại nhiều nơi có can thiệp của chương trình PCSR tích cực đang làm giảm tỷ lệ mắc sốt rét do P. falciparum nhưng đối với P. vivax thì chưa, điều này đang trở thành điểm nổi bật về sốt rét ở các quốc gia châu Phi. Tại nhiều vùng, P. vivax tái phát là một nguyên nhân chính của gánh nặng bệnh tật ở trẻ em nhỏ, dẫn đến nhiều cơn sốt chồng cơn, dẫn đến thiếu máu và dễ mắc các bệnh nhiếm trùng khác đi kèm theo. Hầu hết thuốc sốt rét có đích tác dụng cụ thể vào các giai đoạn, nhưng hầu như không có thuốc nào trong số chúng có tác động lên thể ngủ trong gan của P. vivax. Hơn 60 năm qua, điều trị tiệt căn P. vivax là gồm CQ diệt thể vô tính và PQ loại bỏ thể ngủ. Tuy nhiên, PQ đòi hỏi liệu trình dài 14 ngày, nên bệnh nhân khó có thể tiếp tục hoàn tất liệu trình đầy đủ của PQ.

Trong một nghiên cứu gần đây ở đa trung tâm ấn bản trên tạp chí The Lancet cho biết liều duy nhất 300mg TQ làm giảm nguy cơ tái xuất hiện ký sinh trùng trong vòng 6 tháng sau điều trị đến 10% so với 60% ở nhóm chỉ dùng đơn thuần CQ. Các nghiên cứu tiếp theo đang điều tra thêm về vai trò của TQ về độ an toàn và hiệu quả. Nếu thử nghiệm lâm sàng tiếp theo có thể xác định tính an toàn và so sánh hiệu lực với các lựa chọn điều trị hiện nay và thuốc có thể dùng rộng rãi, thì liều dùng duy nhất của TQ sẽ có tiềm năng điều trị hiệu quả và tiệt căn cho P. vivax và sẽ là công cụ quan trọng trong loại trừ sốt rét.

Điểm mới trong nghiên cứu P. vivax thời gian qua về hiệu lực thuốc PQ cũng cho thấy có tỷ lệ kháng của P. vivax. Do đó, nhiều thử nghiệm lâm sàng một thuốc mới như TQ thuộc nhóm 8-aminoquinolein, một đồng phân với PQ, có công thức phân tử 8-(4–amino-1-methylbutyl) amino-2,6-dimethoxhy-4 methyl-5-(3-trifluoromethylphenoxy) quinoline succinate), thuốc tác động thông qua cơ chế tích tụ thuốc trong khoang không bào của KST, gây khử động heme, ức chế hình thành hemozoine.

Như thuốc chloroquine đã từng dùng trên thế giới trên 60 năm qua, thì thuốc primaquine phosphate cùng đã dùng trên thế giới từng ấy thời gian và thuốc TQ ra đời vào khoảng những năm 1980. Thử nghiệm điều trị P. vivax liệu trình 3 ngày với tổng liều 800mg thay vì CQ liều 1500mg liệu trình 3 ngày và PQ 420mg trong 14 ngày. Kết quả bước đầu do Glaxo Smith KlineMedicines for Malaria Venture trong pha I và II cho hiệu quả vừa đáp ứng lâm sàng tốt, vừa không thấy tái phát sớm cũng như tái phát xa. Các nghiên cứu in vitro, cũng chỉ ra hoạt tính chống lại thoi trùng, giao bào nên có tiềm năng cắt lan truyền.

Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng, TQ cho thấy nồng độ trong máu và trong mô cao gấp 3-67 lần so với thuốc PQ và các nghiên cứu in vitro có tác động cộng lực với hoạt tính của CQ và artemisinin, nên khi phối hợp sẽ cho hiệu quả tối ưu. Các nghiên cứu tiếp theo phase III chuẩn bị triển khai vào tháng 5.2014 tại đa quốc gia, trong đó có Việt Nam và pha này tiếp tục đánh giá trên nhóm phụ nữ mang thai và đối với nhóm đối tượng thiếu men G6PD.

Cục Quản lý Thực Dược phẩm Mỹ đã chấp thuận hiệu quả và vai trò Tafenoquine

Sau 20 năm nghiên cứu, giờ đây các nhà khoa học đã chấp nhận TQnhư là một thành tựu phi thường trong y học.Loại thuốc TQ đặc biệt dành để điều trị P. vivax gây tái phátmà đã từng gây bệnh cho 8,5 triệu người mỗi nămlà thách thức trong việc loại bỏ nó không hề dễ dàng vì nó có thể không hoạt động trong gan trong nhiều năm trước khi "tái thức tỉnh" nhiều lần.Điều này có thể gây ra khó khăn cho việc loại trừ sốt rét trên toàn thế giới. Giờ đây Cục Quản lý Thực - Dược phẩm Mỹ (US. Food and Drug Administration - FDA) ở Mỹ đã chấp thuận cho Tafenoquine, một loại thuốc có thể làm cho ký sinh trùng ra khỏi nơi ẩn náu của nó trong tế bào gan và ngăn chặnngười bị nhiễm mắc lại nó.Nó có thể được dùng cùng với một loại thuốc khác để điều trị nhiễm sốt rét ngay lập tức.

Từ rất lâu, loại thuốc có thể được sử dụng để loại bỏ sốt rét tiềm ẩn trong nhu mô gan là primaquine phosphate, nhưng không giống như liều duy nhất 1 ngày 1 liều của TQ, PQ cần phải dùng kéo dài đến 14 ngày. Điểu này là một bất lợi do bệnh nhân không tuân thủ dùng thuốc vì nhiều bệnh nhân cảm thấy đỡ hơn chỉ sau vài ngày dùng thuốc đã ngừng uống, nên cho phép ký sinh trùng thức dậy vào một ngày nào sau đó.

Cơ quan FDA cho biết thuốc TQ có hiệu quả và phê chuẩn nó để sử dụng tại Mỹ nhưng cũng chỉ ra rằng có những tác dụng phụ quan trọng cần lưu ý.Ví dụ những người có vấn đề về bệnh lý bất thường enzyme như thiếu hụt men G6PD, không nên dùng thuốc Tafenoquine vì nó có thể gây thiếu máu trầm trọng.Do đó, Cơ quan quản lýFDA khuyến cáo mọi người nên xét nghiệm có thiếu men G6PD này trước khi sử dụng thuốc và điều này có thể gây ra vấn đềcần quan tâm ở nơi bệnh sốt rét phổ biến. Ngoài ra, còn có những lo ngại rằng ở liều cao hơn, nó có thể là một vấn đề cho những người bị bệnh tâm thần.

Nhưng bất chấp những cảnh báo này có hy vọng thuốc này cùng với màn ngủ tẩm hóa chất các biện pháp phòng ngừa khác, sẽ giúp giảm số lượng bệnh sốt rét do P. vivax trên thế giới.Giáo sư Ric Price, thuộc Đại học Oxford cho biết khả năng loại bỏ ký sinh trùng trong gan chỉ bằng một liều TQduy nhất là một thành tựu vĩ đại và quan trọng, trong tâm trí của ông nó là một trong những tiến bộ đáng kể nhất trong điều trị bệnh sốt rét trong vòng 60 năm qua.

Abstracts

UPDATE INFORMATIONS o­nTHE NEW ANTIMALARIAL DRUG OF

TAFENOQUINE (Kritafel®) IN MALARIA ELIMINATION ROADMAP

Plasmodium vivax is a less widely studied form of the malaria parasite but it still infects over 20 million people with malaria each year. Most of these cases occur in the Asia Pacific region where more than 2.2 billion people are at risk of infection. Some of the challenges faced by vivax malaria-endemic countries include limited access and poor compliance to effective drugs treating liver hypnozoite stages, emergence-spread of drug resistance, and misperception of vivax malaria as nonlethal. With national guidelines, primaquine is prescribed consecutive 14 days and there are concerns that reduced adherence may reduce the efficacy of preventing liver stage relapse. Hence, the new of o­ne day and single dose of candidate is needed, and o­ne of these approved by the US Food and Drug Administration (FDA, 2018), is intended to clear intrahepatic hypnozoites of P. vivax for radical cure namely Tafenoquine. This review focuses o­n data accrued to date o­n Tafenoquine and gives insight o­n the potential role of the drug in preventing vivax relapse in malaria elimination roadmap.

Key words: Plasmodium vivax, Tafenoquine, liver hypnozoite stages

Tài liệu tham khảo

1.Ding Y, Liu H, Tekwani BL, Nanayakkara NP et al., (2016). Methemoglobinemia hemotoxicity of some antimalarial 8-aminoquinoline analogues and their hydroxylated derivatives: Density functional theory computation of Ionization potentials. Chem Res Toxicol; 29(7):1132-41.

2.Ebstie YA, Abay SM, Tadesse WT, Ejigu DA (2016). Tafenoquine and its potential in the treatment and relapse prevention of Plasmodium vivax malaria: The evidence to date. Drug Des Devel Ther;10:2387-99.

3.Fukuda MM, Krudsood S, Mohamed K et al., (2017). A randomized, double-blind, active-control trial to evaluate the efficacy and safety of a three day course of tafenoquine monotherapy for the treatment of Plasmodium vivax malaria. PLoS o­ne;12(11):e0187376.

4.Kaewpruk N, Tan-ariya P, Ward SA et al., (2016). Pfmdr1 polymorphisms influence o­n in vitro sensitivity of Thai Plasmodium falciparum isolates to primaquine, sitamaquine and tafenoquine. Southeast Asian J Trop Med Public Health;47(3):366-76.

5.Kitchener S, Nasveld P, Edstein MD (2007). Tafenoquine for the treatment of recurrent Plasmodium vivax malaria. Am J Trop Med Hyg;76(3):494-6.

6.Li Q, O'Neil M, Xie L, Caridha D, Zeng Q et al., (2014). Assessment of the prophylactic activity and pharmacokinetic profile of oral tafenoquine compared to primaquine for inhibition of liver stage malaria infections. Malar J;13:141.

7.Lianos-Cuentas A, Lacerda MV, Rueangweerayut R et al., (2014). Tafenoquine plus chloroquine for the treatment and relapse prevention of Plasmodium vivax malaria (DETECTIVE): A multicentre, double-blind, randomised, phase 2b dose-selection study. Lancet; 383(9922):1049-58.

8.Maneerattanasak S, Gosi P, Krudsood S et al., (2017). Molecular and immunological analyses of confirmed Plasmodium vivax relapse episodes. Malar J;16(1):228.

9.Rajapakse S, Rodrigo C, Fernando SD (2015). Tafenoquine for preventing relapse in people with Plasmodium vivax malaria. Cochrane Database Syst Rev;(4):CD010458.

10.Shanks GD, Oloo AJ, Aleman GM, et al., (2001). A New primaquine analogue, Tafenoquine for prophylaxis against Plasmodium falciparum malaria. Clin Infect Dis. 33 (12): 1968-74.

11.Thriemer K, Ley B, Bobogare A, Dysoley L et al., (2017). Challenges for achieving safe and effective radical cure of Plasmodium vivax: A round table discussion of the APMEN Vivax Working Group. Malar J. 2017 Apr 5;16(1):141.

12.Watson J, Taylor WRJ, Bancone G, Chu CS, White NJ (2018). Implications of current therapeutic restrictions for primaquine and tafenoquine in the radical cure of vivax malaria. PLoS Negl Trop Dis;12(4):e0006440.

Ngày 18/02/2019
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang  

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên khoa của Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn về các bệnh ký sinh trùng và các bệnh do véc tơ truyền, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng mới nổi như sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ, giun lươn, giun đũa chó và các bệnh thông thường khác; khám và xét nghiệm chẩn đoán bệnh bằng các phương tiện kỹ thuật cao như sinh hóa, huyết học, miễn dịch (ELISA), sinh học phân tử và chẩn đoán hình ảnh bằng nội soi tiêu hóa, siêu âm màu…

   Trung tâm Dịch vụ khoa học kỹ thuật của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế chuyên sản xuất mua bán hóa chất, vật tư, chế phẩm diệt côn trùng; dịch vụ diệt côn trùng gây bệnh, côn trùng gia dụng như muỗi, ruồi, gián, kiến…; dịch vụ phòng diệt mối mọt và xét nghiệm phát hiện tôm bằng các kỹ thuật hiện đại.


 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 CHUYÊN ĐỀ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: Khu vực 8-Phường Nhơn Phú-Thành phố Quy Nhơn-Tỉnh Bình Định.
Tel: (84) 0256.3547492 - Fax: (84) 0256.3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng Ban biên tập: TTND.PGS.TS. Hồ Văn Hoàng-Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích