Home TRANG CHỦ Thứ 2, ngày 19/11/2018
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Finance & Retail Tin tức - Sự kiện
Trong nước
Quốc tế
Tin hoạt động của Viện
Tin vắn đáng chú ý
Điểm tin y tế
Ngày Sốt rét thế giới 25 tháng 4 (World Malaria Day)
Web Sites & Commerce Hoạt động hợp tác
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Web Sites & Commerce Chuyên đề
Web Sites & Commerce Tư vấn sức khỏe
Web Sites & Commerce Tạp chí-Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động Đảng & Đoàn thể
Web Sites & Commerce Bạn trẻ
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Trung tâm dịch vụ
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
3 5 3 7 5 7 9 9
Số người đang truy cập
3 8
 Tin tức - Sự kiện Quốc tế
Thông tin mới nhất về bệnh sốt rét trên thế giới

            Sốt rét là do ký sinh trùng Plasmodium spp. gây ra. Ký sinh trùng lây lan sang người qua vết đốt của muỗi Anopheles cái bị nhiễm bệnh, được gọi là "vector sốt rét". Có 5 loài ký sinh trùng gây bệnh sốt rét ở người và 2 loài P. falciparum và P. vivax - là mối đe dọa lớn nhất. Sốt rét là bệnh sốt cấp tính. một cá nhân không miễn dịch, các triệu chứng thường xuất hiện 10–15 ngày sau khi muỗi bị nhiễm bệnh cắn người. Các triệu chứng đầu tiên - sốt, nhức đầu và ớn lạnh - có thể nhẹ và khó nhận ra là sốt rét. Nếu không được điều trị trong vòng 24 giờ, sốt rét P. falciparum có thể tiến triển thành bệnh nặng, thường dẫn đến tử vong.

Trẻ em bị sốt rét nặng thường phát triển một hoặc nhiều triệu chứng sau đây: thiếu máu nặng, suy hô hấp liên quan đến toan chuyển hóa, hoặc sốt rét não. Ở người lớn, sự liên quan của nhiều cơ quan cũng thường xuyên. Ở những vùng lưu hành sốt rét, người dân có thể phát triển miễn dịch một phần, cho phép nhiễm sốt rét không triệu chứng xảy ra.

• P. falciparum là ký sinh trùng sốt rét phổ biến nhất trên lục địa châu Phi. Nó chịu trách nhiệm cho hầu hết các ca tử vong do sốt rét trên toàn cầu.

• P. vivax là ký sinh trùng sốt rét chiếm ưu thế ở hầu hết các quốc gia ngoài vùng cận Saharan châu Phi.

Ai là đối tượng có nguy cơ? Gánh nặng bệnh tật

Trong năm 2016, gần một nửa dân số thế giới có nguy cơ bị nhiễm sốt rét. Hầu hết các ca sốt rét và tử vong xảy ra ở vùng cận Sahara, châu Phi. Tuy nhiên, các khu vực Đông Nam Á, Đông Địa Trung Hải, Tây Thái Bình Dương và Châu Mỹ của TCYTTG cũng có nguy cơ. Trong năm 2016, 91 quốc gia và khu vực có sự lây truyền bệnh sốt rét tiếp diễn.

Một số nhóm quần thể có nguy cơ mắc bệnh sốt rét cao hơn đáng kể và phát triển bệnh nặng hơn những nhóm quần thể khác. Chúng bao gồm trẻ sơ sinh, trẻ em dưới 5 tuổi, phụ nữ mang thai và bệnh nhân nhiễm HIV / AIDS, cũng như người di cư không miễn dịch, quần thể di biến động và du khách. Các chương trình phòng chống sốt rét quốc gia cần thực hiện các biện pháp đặc biệt để bảo vệ các nhóm quần thể này khỏi bị nhiễm sốt rét, xem xét các bối cảnh cụ thể của họ.

Theo Báo cáo sốt rét thế giới mới nhất, phát hành vào tháng 11/2017,có 216 triệu ca sốt rét trong năm 2016, gia tăng từ 211 triệu ca trong năm 2015. Ước tính số ca tử vong do sốt rét ở mức 445 000 vào năm 2016, một con số tương đương với năm trước (446 000).Khu vực châu Phi của TCYTTG tiếp tục mang theo một tỷ lệ cao không cân xứng của gánh nặng sốt rét toàn cầu. Trong năm 2016, khu vực này chiếm 90% số ca sốt rét và 91% số ca tử vong do sốt rét. Khoảng 15 quốc gia, tất cả ở vùng cn sa mạc Sahara châu Phi, ngoại trừ Ấn Độ, chiếm 80% gánh nặng bệnh sốt rét toàn cầu.

Ở những vùng có sự lan truyền bệnh sốt rét cao, trẻ em dưới 5 tuổi đặc biệt dễ bị nhiễm sốt rét, mắc bệnh và tử vong. Hơn hai phần ba (70%) số ca tử vong do sốt rét xảy ra ở nhóm tuổi này. Số ca tử vong do sốt rét dưới 5 tuổi đã giảm từ 440.000 trong năm 2010 xuống còn 285.000 vào năm 2016. Tuy nhiên, sốt rét vẫn là nguyên nhân chính gây tử vong cho trẻ em dưới 5 tuổi, và cứ hai phút cướp đi mạng sống của một đứa trẻ.

Sự lan truyền

Trong hầu hết các trường hợp, bệnh sốt rét được truyền qua vết đốt của muỗi Anopheles cái. Có hơn 400 loài muỗi Anopheles khác nhau, khoảng 30 là các vector sốt rét có tầm quan trọng lớn. Tất cả vector quan trọng đốt vào lúc hoàng hôn và bình minh. Cường độ lan truyền phụ thuộc vào yếu tố liên quan đến ký sinh trùng, vector, vật chủ người và môi trường.

Muỗi Anopheles đẻ trứng trong nước, trứng nở thành ấu trùng, cuối cùng thành muỗi trưởng thành. Những con muỗi cái tìm kiếm sự hút máu để nuôi dưỡng trứng của chúng. Mỗi loài muỗi Anopheles đều có môi trường sống ưa thích của chúng; ví dụ, một số thích các vũng nước ngọt nhỏ, nông, chẳng hạn như vũng nước và móng chân động vật, và muỗi rất nhiều trong mùa mưa ở các nước nhiệt đới.

Sự lây lan mạnh hơn ở những nơi mà tuổi thọ của muỗi dài hơn (để ký sinh trùng có thời gian hoàn thành sự phát triển của nó bên trong muỗi) và ở những nơi nó thích cắn người hơn là những động vật khác. Tuổi thọ dài và thói quen cắn người mạnh của các loài vector châu Phi là lý do chính khiến gần 90% trường hợp sốt rét trên thế giới ở khu vực này.Sự lây truyền cũng phụ thuộc vào điều kiện khí hậu có thể ảnh hưởng đến số lượng và sự tồn tại của muỗi, chẳng hạn như lượng mưa, nhiệt độ và độ ẩm. Ở nhiều nơi, sự lan truyền theo mùa, với đỉnh cao trong và ngay sau mùa mưa. Dịch bệnh sốt rét có thể xảy ra khi khí hậu và các điều kiện khác tạo ra sự lây truyền đột ngột ở những nơi có ít hoặc không có miễn dịch đối với bệnh sốt rét. Dịch bệnh cũng có thể xảy ra khi những người có khả năng miễn dịch thấp di chuyển vào các khu vực có lây truyền bệnh sốt rét mạnh, ví dụ như tìm việc làm, hoặc là người tị nạn.

Khả năng miễn dịch của con người là một yếu tố quan trọng khác, đặc biệt là ở người lớn ở những nơi có tình trạnglan truyền trung bình hoặc mạnh. Miễn dịch phần bộ được phát triển qua nhiều năm phơi nhiễm với sốt rét và trong khi không bao giờ cung cấp bảo vệ hoàn toàn, nó làm giảm nguy cơ nhiễm sốt rét nhưng sẽ gây ra bệnh nghiêm trọng. Vì lý do này, hầu hết các ca tử vong do sốt rét ở châu Phi xảy ra ở trẻ nhỏ, trong khi ở những vùng có ít lây truyền và khả năng miễn dịch thấp, tất cả các nhóm tuổi đều có nguy cơ.

Phòng ngừa

Phòng chống vector là cách chính để ngăn ngừa và giảm lây truyền sốt rét. Nếu tỷ lệ bao phủ của các can thiệp phòng chống vector trong một khu vực cụ thể đủ cao, thì biện pháp bảo vệ sẽ được mang lại cho toàn bộ cộng đồng. TCYTTG khuyến cáo bảo vệ cho tất cả mọi người có nguy cơ bị sốt rét vớicác biện pháp phòng chống vector sốt rét hiệu quả. Hai hình thức phòng chống vctor- màn tẩm hóa chất diệt chống và phun tồn lưu trong nhà - có hiệu quả trong một loạt các trường hợp.

Màn tẩm hóa chất diệt muỗi

Màn tẩm háo chất tồn lưu lâu (LLINs) là hình thức thích hợp của màn tẩm hóa chất diệt (ITNs) cho các chương trình y tế công cộng. Tại hầu hết các nơi, WHO khuyến cáo tỷ lệ bao phủ LLIN cho tất cả mọi người có nguy cơ bị sốt rét. Cách hiệu quả nhất để đạt được điều này là cung cấp LLIN miễn phí, để đảm bảo tiếp cận bình đẳng cho tất cả mọi người. Song song, các chiến lược truyền thông thay đổi hành vi hiệu quả được yêu cầu để đảm bảo rằng tất cả mọi người có nguy cơ bị sốt rét ngủ dưới một LLIN mỗi đêm, và ngủ màn được duy trì đúng cách.

Phun hóa chất tồn lưu trong nhà

Phun hóa chất tồn lưu trong nhà (Indoor residual spraying -IRS) là một cách có tác động mạnhđể giảm nhanh sự lây truyền sốt rét. Tiềm năng của nó được thực hiện khi có ít nhất 80% nhà ở tại các khu vực mục tiêu được phun. Phun tồn lưu trong nhà có hiệu quả trong 3-6 tháng, tùy thuộc vào loại thuốc trừ sâu được sử dụng và loại bề mặt được phun. Ở một số nơi, việc phun nhiều lần là cần thiết để bảo vệ quần thể trong suốt mùa sốt rét.

Thuốc sốt rét

Thuốc sốt rét cũng có thể được sử dụng để phòng ngừa sốt rét. Đối với du khách, bệnh sốt rét có thể được ngăn ngừa thông qua hóa dự phòng, giúp ngăn chặn giai đoạn nhiễm sốt rét trong máu, do đó ngăn ngừa bệnh sốt rét. Đối với phụ nữ mang thai sống trong các khu vực lây truyền từ trung bình đến cao, TCYTTG khuyến cáo điều trị dự phòng cách quãng bằng sulfadoxine-pyrimethamine, tại mỗi lần khám thai theo lịch trình sau ba tháng đầu. Tương tự như vậy, đối với trẻ sơ sinh sống ở các khu vực lây truyền cao của châu Phi, nên sử dụng 3 liều điều trị dự phòng cách quãng với sulfadoxine-pyrimethamin, được cung cấp cùng với tiêm phòng định kỳ.

Vào năm 2012, TCYTTGkhuyến cáo hóa dự phòng sốt rét theo mùa như một chiến lược phòng ngừa sốt rét bổ sung cho các khu vực của tiểu vùng Sahel châu Phi. Chiến lược này liên quan đến việc sử dụng các liệu trình hàng tháng của amodiaquine cộng với sulfadoxine-pyrimethamine cho tất cả trẻ em dưới 5 tuổi trong mùa lây truyền cao.

Kháng hóa chất diệt

Phần lớn sự thành công trong việc kiểm soát bệnh sốt rét là do kiểm soát vector. Kiểm soát vector phụ thuộc nhiều vào việc sử dụng pyrethroid, là loại thuốc trừ sâu duy nhất hiện được khuyến cáo sử dụng cho ITNs hoặc LLINs.Trong những năm gần đây, muỗi kháng với pyrethroid đã xuất hiện ở nhiều nước. Ở một số khu vực, khả năng đề kháng với tất cả 4 lớp thuốc trừ sâu dùng cho y tế công cộng đã được phát hiện. May mắn thay, sự đề kháng này hiếm khi được kết hợp với hiệu quả giảm của LLINs,và LLINs tiếp tục cung cấp một mức độ bảo vệ đáng kể trong hầu hết các nơi. Sử dụng luân phiên các lớp thuốc trừ sâu khác nhau cho IRS được khuyến cáo như là một phương pháp để xử lý kháng thuốc trừ sâu.

Tuy nhiên, tại các khu vực lưu hành sốt rét ở cận Saharan châu Phi và Ấn Độ đang gây ra mối lo ngại đáng kể do mức độ lây truyền sốt rét cao và các báo cáo phổ biến về kháng thuốc trừ sâu. Việc sử dụng 2 loại thuốc trừ sâu khác nhau trong một màn chống muỗi tạo cơ hội giảm thiểu nguy cơ phát triển và lây lan kháng thuốc trừ sâu; việc phát triển những màn ngủ mới này là ưu tiên hàng đầu. Một số sản phẩm đầy hứa hẹn cho cả IRS và màn đều đang trong quá trình sản xuất.

Phát hiện kháng thuốc trừ sâu phải là một thành phần thiết yếu của tất cả các nỗ lực kiểm soát sốt rét quốc gia để đảm bảo rằng các phương pháp phòng chống vector hiệu quả nhất đang được sử dụng. Việc lựa chọn thuốc trừ sâu dùng cho IRS nên luôn được thông tin bởi các dữ liệu tại chỗ gần đây về tính nhạy cảm của các vector mục tiêu.

Để đảm bảo một đáp ứng toàn cầu kịp thời và phối hợp tới mối đe dọa kháng thuốc trừ sâu, TCYTTG đã làm việc với một loạt các bên liên quan để phát triển "Kế hoạch toàn cầu về xử lý kháng thuốc trừ sâu trong các vector sốt rét (GPIRM)", được phát hành vào tháng 5 năm 2012.

Chẩn đoán và điều trị

Chẩn đoán và điều trị sớm bệnh sốt rét làm giảm bệnh tật và ngăn ngừa tử vong. Nó cũng góp phần giảm lây truyền sốt rét. Thuốc điều trị tốt nhất có sẵn, đặc biệt đối với sốt rét P. falciparum, là liệu pháp phối hợp dựa vào artemisinin (ACT).

TCYTTG khuyến cáo rằng tất cả các trường hợp sốt rét nghi ngờ được xác nhận bằng cách sử dụng xét nghiệm chẩn đoán dựa trên ký sinh trùng (hoặc kính hiển vi hoặc test chẩn đoán nhanh) trước khi điều trị. Kết quả xác nhận ký sinh trùng có thể có sẵn trong 30 phút hoặc ít hơn. Điều trị, chỉ dựa trên các triệu chứng chỉ nên được xem xét khi không thể chẩn đoán ký sinh trùng. Các khuyến nghị chi tiết hơn có sẵn trong "Hướng dẫn về điều trị sốt rét của WHO", ấn bản thứ ba, được xuất bản vào tháng 4 năm 2015.

Kháng thuốc sốt rét

Kháng thuốc sốt rét là một vấn đề tái diễn. Sự đề kháng của P. falciparum đối với các thế hệ thuốc trước đây, như chloroquin và sulfadoxine-pyrimethamine (SP), đã trở nên phổ biến trong những năm 1950s và 1960s, làm suy yếu các nỗ lực kiểm soát sốt rét và đảo ngược thành tựu thu được đối với sự sống còn của trẻ.

TCYTTG khuyến cáo theo dõi kháng thuốc sốt rét thường xuyên và hỗ trợ các nước tăng cường nỗ lực của họ trong lĩnh vực công việc quan trọng này.Một ACT chứa cả thuốc artemisinin và một thuốc đối tác. Trong những năm gần đây, tình trạng ký sinh trùng kháng với artemisinin đã được phát hiện ở 5 nước thuộc tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng: Campuchia, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam. Các nghiên cứu đã xác nhận rằng kháng artemisinin đã nổi lên một cách độc lập ở nhiều khu vực của tiểu vùng này.

Trong năm 2013, TCYTTG đã phát động đáp ứng khẩn cấp với kháng artemisinin (ERAR) trong Tiểu vùng sông Mekong mở rộng, một kế hoạch tấn công cấp cao nhằm kiềm chế sự lây lan của ký sinh trùng kháng thuốc và cung cấp các công cụ cứu mạng sống cho tất cả các quần thể có nguy cơ bị sốt rét. Nhưng ngay cả khi công việc này đang được tiến hành thì các ổ đề kháng bổ sung vẫn xuất hiện một cách độc lập ở các khu vực địa lý mới của tiểu vùng. Song song, có một số báo cáo về sự gia tăng đề kháng với thuốc đối tác của ACT ở một số nơi. Một cách tiếp cận mới là cần thiết để bắt kịp với bức tranh sốt rét đang thay đổi.

Do đó, Ủy ban tư vấn chính sách sốt rét của TCYTTG trong tháng 9 năm 2014 đã đề xuất áp dụng mục tiêu loại trừ sốt rét P. falciparum ở tiểu vùng này vào năm 2030. TCYTTG đã khởi xướng Chiến lược loại trừ sốt rét ở Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (2015–2030) tại Kỳ họp của Đại hội đồng y tế thế giới vào tháng 5 năm 2015, và được tất cả các quốc gia trong tiểu vùng thông qua. Với hướng dẫn kỹ thuật của TCYTTG, tất cả các nước GMS đã xây dựng kế hoạch loại trừ sốt rét quốc gia. Cùng với các đối tác, TCYTTG sẽ cung cấp sự hỗ trợ liên tục cho các nỗ lực loại trừ sốt rét cấp quốc gia thông qua chương trình Loại trừ sốt rét ở khu vực Mê Kông, một sáng kiến ​​mới phát triển từ ERAR.

Giám sát

Giám sát đòi hỏi phải theo dõi bệnh và đáp ứng có lập trình và thực hiện hành động dựa trên dữ liệu nhận được. Hiện nay nhiều quốc gia có gánh nặng sốt rét cao có hệ thống giám sát yếu và không đủ khả năng đánh giá tình trạng phân bố và xu hướng bệnh, làm cho việc tối ưu hóa các phản ứng và đáp ứng với dịch bệnh trở nên khó khăn.

Giám sát hiệu quả là cần thiết ở tất cả các điểm trên lộ trình hướng tới loại trừ sốt rét và Chiến lược kỹ thuật toàn cầu về bệnh sốt rét 2016-2030 (GTS) khuyến cáo rằng các nước chuyển đổi giám sát thành một can thiệp cốt lõi. Hệ thốnggiám sát sốt rét mạnhcho phép các chương trình tối ưu hóa hoạt động của họ, bằng cách trao quyền cho các chương trình để:

ng hộ đầu tư từ các nguồn trong nước và quốc tế, tương xứng với gánh nặng bệnh sốt rét ở một quốc gia hoặc khu vực địa phương;

Phân bổ nguồn lực cho những người có nhu cầu nhất và các biện pháp can thiệp hiệu quả nhất để đạt được tác động sức khỏe cộng đồng lớn nhất có thể;

- Đánh giá thường xuyên xem các kế hoạch có tiến triển như mong đợi hay không hoặc liệu các điều chỉnh về quy mô hay sự kết hợp của các biện pháp can thiệp có bắt buộc hay không;

-Giải thích tác động của nguồn tài trợ nhận được và cho phép công chúng, đại diện được bầu của họ và các nhà tài trợ để xác định xem việc này có xứng đáng vớiđồng tiền bỏ ra hay không; và

-Đánh giá xem các mục tiêu của chương trình đã được đáp ứng chưa và tìm hiểu những hoạt đồng để các chương trình hiệu lực và hiệu quả hơn có thể được thiết kế.

Hệ thống giám sát sốt rét mạnh hơn là nhu cầu khẩn cấp để đáp ứng sốt rét kịp thời và hiệu quả ở các vùng lưu hành, ngăn chặn dịch bệnh sự tái diễn, theo dõi tiến bộ, và giúp cho các chính phủ và cộng đồng sốt rét toàn cầu về tính trách nhiệm.

Loại trừ

Loại trừ sốt rét được định nghĩa là việc làm gián đoạn sự lan truyền tại chỗ của một loài ký sinh trùng sốt rét cụ thể trong một khu vực địa lý xác định do các hoạt động có chủ ý. Các biện pháp liên tục được yêu cầu để ngăn chặn việc tái lan truyền bệnh.(Việc xác nhận loại trừ sốt rét ở một quốc gia sẽ đòi hỏi sự lây truyền tại chỗ bị gián đoạn cho tất cả các ký sinh trùng sốt rét ở người).

Thanh toán bệnh sốt rét được định nghĩa là giảm vĩnh viễn xuống bằng không tỷ lệ nhiễm sốt rét trên toàn thế giới do ký sinh trùng sốt rét ở người gây ra do các hoạt động có chủ ý. Các can thiệp không còn cần thiết sau khi đã đạt được thanh toán bệnh.

Tỷ lệ tiến bộ ở một quốc gia cụ thể sẽ phụ thuộc vào sức mạnh của hệ thống y tế quốc gia, mức đầu tư phòng chống sốt rét và một số yếu tố khác, bao gồm: yếu tố sinh học, môi trường và xã hội, nhân khẩu học, chính trị, và thực thể kinh tế của một quốc gia cụ thể.Ở những nước có tỷ lệ lây truyền sốt rét cao hoặc trung bình, các chương trình phòng chống sốt rét quốc gia nhằm mục đích tối đa hóa việc giảm số ca sốt rét và tử vong.Khi các nước tiến gần đến loại trừ, các hệ thống giám sát mạnh có thể giúp đảm bảo rằng mọi ca nhiễm đều được phát hiện, điều trị và báo cáo với một cơ quan đăng ký sốt rét quốc gia. Bệnh nhân được chẩn đoán bị sốt rét cần được điều trị kịp thời bằng thuốc sốt rét hiệu quả cho sức khỏe của họ và ngăn ngừa sự lây truyền tiếp diễn bệnh trong cộng đồng.

Các quốc gia đã đạt được ít nhất 3 năm liên tiếp không có ca bệnh sốt rét tại chỗ hội đủ điều kiện nộp đơn xin chứng nhận của WHO về loại trừ sốt rét. Trong những năm gần đây, 8 quốc gia đã được Tổng giám đốc WHO chứng nhận đạt được loại trừ sốt rét: Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (2007), Morocco (2010), Turkmenistan (2010), Armenia (2011), Maldives (2015), Sri Lanka ( 2016), Kyrgyzstan (2016) và Paraguay (2018). Khung của WHO về loại trừ sốt rét (2017) cung cấp một bộ công cụ và chiến lược chi tiết để đạt được và duy trì việc loại trừ.

Vaccine sốt rét

Vaccine RTS, S / AS01 (RTS, S) - còn được gọi là Mosquirix - là một loại vaccine bằng đường tiêm cung cấp bảo vệ một phần chống sốt rét ở trẻ nhỏ. Vaccine đang được đánh giá ở vùng cận Saharan châu Phi như một công cụ phòng chống sốt rét bổ sung có khả năng có thể được thêm vào (và không thay thế) gói cốt lõi của các biện pháp phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị do TCYTTT đề xuất.

Vào tháng 7 năm 2015, vaccine đã nhận được một ý kiến ​​tích cực của Cơ quan thuốc châu Âu, một cơ quan quản lý thuốc nghiêm ngặt. Vào tháng 10 năm 2015, hai nhóm tư vấn của TCYTTG đã đề xuất triển khai thí điểm RTS, S / AS01 ở một số quốc gia châu Phi.

Vào tháng 11 năm 2016, TCYTTG thông báo rằng vaccin RTS, S sẽ được triển khai trong các dự án thí điểm tại một số khu vực được lựa chọn ở 3 quốc gia ở vùng cận Saharan châu Phi: Ghana, Kenya và Malawi. Việc tài trợ đã được bảo đảm cho giai đoạn đầu của chương trình và việc chủng ngừa bắt đầu vào năm 2018. Các dự án thí điểm này có thể mở đường cho việc triển khai vaccine rộng rãi hơn nếu độ an toàn và tính hiệu quả được coi là có thể chấp nhận được.

Đáp ứng của Tổ chức Y tế thế giới

Chiến lược kỹ thuật toàn cầu về bệnh sốt rét của WHO 2016-2030 - được Đại Hội đồng Y tế thế giới thông qua vào tháng 5 năm 2015 - cung cấp một khung kỹ thuật cho tất cả các quốc gia lưu hành sốt rét. Chiến lược nhằm mục đích hướng dẫn và hỗ trợ các chương trình khu vực và quốc gia khi họ hành động theo hướng phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét.

Chiến lược đặt ra các mục tiêu toàn cầu đầy tham vọng nhưng có thể đạt được, bao gồm:

• Giảm tỷ lệ mắc mới sốt rét ít nhất 90% vào năm 2030.

• Giảm tỷ lệ tử vong do sốt rét ít nhất 90% vào năm 2030.

• Loại trừ bệnh sốt rét ở ít nhất 35 quốc gia vào năm 2030.

• Ngăn chặn sự tái diễn bệnh sốt rét ở tất cả các quốc gia không còn sốt rét.

Chiến lược này là kết quả của một quá trình tư vấn mở rộng kéo dài 2 năm và liên quan đến sự tham gia của hơn 400 chuyên gia kỹ thuật từ 70 quốc gia thành viên. Nó dựa trên 3 trụ cột chính:

Đảm bảo tiếp cận phổ cập đến phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị sốt rét;

Thúc đẩy các nỗ lực hướng tới loại trừ và đạt được tình trạng không còn sốt rét; và

Chuyển đổi giám sát sốt rét thành một can thiệp cốt lõi.

Chương trình phòng chống sốt rét toàn cầu của TCYTTG phối hợp các nỗ lực toàn cầu của WHO để phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét bằng cách:

-Thiết lập, truyền thông và thúc đẩy việc thông qua các chỉ tiêu dựa trên bằng chứng, các tiêu chuẩn, chính sách, chiến lược kỹ thuật và hướng dẫn dựa trên bằng chứng;

-Giữ số điểm độc lập về sự tiến bộ toàn cầu;

- Phát triển các phương pháp tiếp cận để xây dựng năng lực, tăng cường hệ thống và giám sát; và

-Xác định các mối đe dọa đối với việc phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét cũng như các lĩnh vực hành động mới.

GMP được hỗ trợ và tư vấn bởi Ủy ban tư vấn chính sách sốt rét (MPAC), một nhóm 15 chuyên gia sốt rét toàn cầu được chỉ định sau một quy trình đề cử mở. MPAC, họp hai lần mỗi năm, cung cấp tư vấn độc lập cho WHO để phát triển các khuyến nghị chính sách cho việc phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét. Nhiệm vụ của MPAC là cung cấp tư vấn chiến lược và đầu vào kỹ thuật, và mở rộng đến tất cả các khía cạnh của việc phòng chống và loại trừ sốt rét, như là một phần của quy trình thiết lập chính sách minh bạch, đáp ứng và đáng tin cậy.

Ngày 04/07/2018
Ths.Bs.Lê Thạnh
(Nguồn: who.int.com)
 

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên khoa của Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn về các bệnh ký sinh trùng và các bệnh do véc tơ truyền, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng mới nổi như sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ, giun lươn, giun đũa chó và các bệnh thông thường khác; khám và xét nghiệm chẩn đoán bệnh bằng các phương tiện kỹ thuật cao như sinh hóa, huyết học, miễn dịch (ELISA), sinh học phân tử và chẩn đoán hình ảnh bằng nội soi tiêu hóa, siêu âm màu…

   Trung tâm Dịch vụ khoa học kỹ thuật của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế chuyên sản xuất mua bán hóa chất, vật tư, chế phẩm diệt côn trùng; dịch vụ diệt côn trùng gây bệnh, côn trùng gia dụng như muỗi, ruồi, gián, kiến…; dịch vụ phòng diệt mối mọt và xét nghiệm phát hiện tôm bằng các kỹ thuật hiện đại.


 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 CHUYÊN ĐỀ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: Khu vực 8-Phường Nhơn Phú-Thành phố Quy Nhơn- Tỉnh Bình Định.
Tel: (84) 0256.3547492 - Fax: (84) 0256.3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng ban biên tập: TTND.PGS.TS. Nguyễn Văn Chương - Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích