Home TRANG CHỦ Thứ 7, ngày 18/11/2017
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Finance & Retail Tin tức - Sự kiện
Trong nước
Quốc tế
Tin hoạt động của viện
Tin vắn đáng chú ý
Điểm tin y tế
Ngày Sốt rét thế giới 25 tháng 4 (World Malaria Day)
Web Sites & Commerce Hoạt động hợp tác
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Web Sites & Commerce Chuyên đề
Web Sites & Commerce Tư vấn sức khỏe
Web Sites & Commerce Tạp chí-Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động đoàn thể
Web Sites & Commerce Bạn trẻ
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Trung tâm dịch vụ
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
3 2 2 6 0 4 3 0
Số người đang truy cập
3 5
 Tin tức - Sự kiện Quốc tế
Thông tin y học cập nhật trên thế giới

Nguy cơ bệnh tim mạch khi dùng thuốc trị Parkinson

Cho tới nay, y học hiện đại cũng chưa có cách nào để phòng ngừa và chữa khỏi hẳn được bệnh Parkinson. Tuy nhiên, các thuốc điều trị có thể làm giảm triệu chứng của bệnh rất tốt. Nên phối hợp dùng thuốc với các biện pháp khác như vật lý trị liệu, tập luyện thể dục, chế độ ăn thích hợp,... để làm tăng hiệu quả điều trị.

Thuốc apomorphin mà bố bạn dùng là chất đối kháng dopamin được sử dụng để điều trị rung giật thần kinh vận động dai dẳng ở bệnh nhân Parkinson. Khi dùng cần lưu ý về những tác dụng phụ của thuốc có thể xảy ra như ảo giác, buồn ngủ, giữ nước và hạ huyết áp khi đứng. Thuốc này cũng có thể làm tăng nguy cơ các hành vi ép buộc như chứng cuồng dâm, cờ bạc và ăn quá nhiều. Khi sử dụng liều cao apomorphin cũng có thể làm tăng nguy cơ kéo dài khoảng QT. Đặc biệt, ở bệnh nhân có tiền sử kéo dài khoảng QT, đang có rối loạn tim mạch nghiêm trọng như suy tim, rối loạn chức năng gan nghiêm trọng; rối loạn điện giải.

Vì vậy, trong quá trình sử dụng thuốc bệnh nhân cần liên lạc ngay với bác sĩ khi gặp các tác dụng phụ trên hoặc khi có bất kỳ thay đổi nào có thể làm tăng nguy cơ loạn nhịp tim.


Hình 1

Cảnh báo 4 loại thuốc có nguy cơ gây ra bệnh Parkinson

Bệnh Parkinson là một hiện tượng thoái hóa hệ thần kinh trung ương, làm suy yếu khả năng vận động, lời nói, hành vi, thuộc vào nhóm các bệnh rối loạn vận động.Việc lạm dụng hay sử dụng quá nhiều thuốc trong việc điều trị các chứng bệnh của người cao tuổi là một trong số những nguyên nhân gây nên bệnh Parkinson. Đặc điểm của bệnh là các cơ thường bị cứng cơ, run, chuyển động chậm chạp và trong một số trường hợp bệnh nặng, người bệnh còn bị mất đi một số chức năng hoạt động vật lý. Bệnh chuyên khoa này thường bệnh này hay gặp ở người già, thường là qua tuổi 60 (chiếm 90%) nhưng cũng có số ít những trường hợp bắt đầu có triệu chứng từ độ tuổi 50. Bệnh hiếm gặp ở người trẻ tuổi. Phát hiện triệu chứng của bệnh Parkinson không khó, một số hiện tượng sau đây sẽ giúp các bạn nhận biết bệnh một cách rõ nét nhất.


Hình 2

·Tay chân run, cứng, khó hoạt động và tư thế bất ổn. Hiện tượng trên là do cơ bắp và xương bị cứng dần, kèm theo đau khớp.

·Di chuyển chậm chạp là hiện tượng đặc trưng nhất của bệnh Parkinson. Trong giai đoạn cuối, bệnh sẽ xuất hiện các chứng bất ổn định về tư thế dẫn đến mất cân bằng và té ngã.

·Bệnh còn có hiện tượng giảm nhiều chức năng của cơ thể khác, biểu hiện như mất ngủ, hay ngủ ban ngày. Giảm tỷ lệ hoạt động tại các cơ nhỏ nhỏ trên khuôn mặt. Bên cạnh đó người bệnh khi mắc bệnh Parkinson còn vô thức trong một số hoạt động sinh hoạt hàng ngày như tiểu không tự chủ…

·Thay đổi các giác quan, cảm giác về mùi, cảm giác đau.

Theo nghiên cứu, nguyên nhân của bệnh Parkinson là do sự thoái hóa của các tế bào não. Suy giảm lượng dopamin trong não, sẽ làm giảm quá trình dẫn truyền tín hiệu thần kinh giữa các tế bào, do đó mà gây cản trở trong việc chỉ đạo của não đến các cơ  chân tay trên cơ thể. Tuy nhiên đến nay nguyên nhân chính xác vẫn chưa được bác sĩ chuyên khoa chỉ ra, nhưng nguyên nhân dẫn đến bệnh Parkinson khi lạm dụng thuốc là một vấn đề đã được khẳng định rõ ràng. Sau đây là 4 nhóm thuốc có nguy cơ gây bệnh Parkinson nếu như quá lạm dụng.


Hình 3

1.Nhóm thuốc an thần: Đây là thuốc có tác dụng xoa dịu và ổn định hệ thần kinh, giúp cho hệ thần kinh được nghỉ ngơi và hồi phục. Thường xuyên dùng để điều trị các bệnh thông thường như mất ngủ, suy nhược thần kinh, stress hay tâm thần phân liệt. Tuy nhiên nhóm thuốc lại gây ra tác dụng phụ trên hệ thần kinh tâm thần và là một nguy cơ gây ra bệnh Parkimson. Chúng bao gồm Phenothiazin (Clorpromazin), Butyrophenon (Haloperidol) và Thioxanthen. Chỉ cần dùng liều cao thuốc này trên 2 tuần là bạn đã có thể có nguy cơ bị Parkinson. Nếu dùng trên 6 tháng thì gần như 100% tai biến xảy ra.

2.Nhóm thuốc bổ não: Đây là nhóm thuốc từ trước đến nay vẫn được xếp vào nhóm thuốc thường xuyên bị lạm dụng do quan niệm thuốc bổ thì tốt. Thuốc thường xuyên được sử dụng ở người hay mất ngủ, đau đầu, rối loạn tiền đình. Hai loại thuốc điển hình trong nhóm này là Cinnarizin (Stugeron, Vertizin) và Flunarizin (Vasotense, Siberizin). Lạm dụng thuốc này trong thời gian dài có thể dẫn đến tai biến, đặc biệt đối với phụ nữ và là một trong sốnguyên nhân gây nên bệnh Parkinson. Vì vậy phụ nữ mắc bệnh rối loạn tiền đình cần phải cẩn trọng khi sử dụng loại thuốc này.

3.Nhóm thuốc chẹn calci: Đối tượng hay sử dụng nhóm thuốc này là bệnh nhân bị bệnh về tim mạch như tăng huyết áp, rối loạn nhịp tim. Thuốc có tác dụng khống chế những rắc rối do bệnh tim mạch gây ra tuy nhiên lại tạo ra tác dụng phụ lên hệ thần kinh. Theo dược sĩ tư vấn, Amlodipine, Manidipine, Diltiazem, và Verapamil là những loại thuốc điều trị bệnh tăng huyết áp, thiểu năng động mạch vành và nhịp tim nhanh thông qua việc ức chế bơm calci ở cơ tim. Tuy nhiên, chúng cũng vô tình ức chế luôn việc bơm calci trên hệ thần kinh ngoại tháp, làm ảnh hưởng đến khả năng giải phóng các chất trung gian hóa học thần kinh, dẫn đến bệnh Parkinson.

4.Thuốc động kinh: Thuốc chống động kinh loại axit valproic là một thuốc chống động kinh thế hệ mới có hiệu quả khá cao. Nhưng nó đang bị nghi ngờ là gây ra tác dụng phụ trên hệ thần kinh ngoại tháp. Thậm chí một số ý kiến còn cho rằng nó là nguyên nhân chính gây ra tình trạng bệnh Parkinson sau khi điều trị động kinh.

Nghi vấn thuốc Parkinson khiến người dùng mắc hội chứng cuồng dâm

Một nghiên cứu của các nhà khoa học ở Mỹ cho thấy loại thuốc điều trị bệnh Parkinson có thể làm tăng nguy cơ mắc chứng rối loạn kiểm soát, trong đó bao gồm cả chứng cuồng dâm. Theo các nhà nghiên cứu đến từ Hệ thống Y tế thuộc Đại học Loyola, Mỹ, những bệnh nhân mắc chứng Parkinson sử dụng thuốc đặc trị khiến bệnh tình không hề thuyên giảm mà còn mắc thêm chứng bệnh rối loạn kiểm soát xung động (ICD). ICD là một chứng rối loạn tâm lý làm cho bệnh nhân có những suy nghĩ tiêu cực, họ luôn có cảm giác căng thẳng, bất an và thực hiện những hành vi không kiểm soát để giảm bớt căng thẳng đó.TS. Jose Biller, trưởng nhóm nghiên cứu cho biết, bệnh nhân mắc chứng rối loạn kiểm soát (ICD) có khả năng gây ra hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe như bộ não trì trệ, hoang tưởng, trầm cảm đồng thời bệnh cũng ảnh hưởng nhiều đến tài chính, gia đình và công việc.


Hình 4

Những nghiên cứu trong phạm vi quốc gia trước đó đã phát hiện ra rằng khoảng 14% bệnh nhân đã từng trải qua chứng rối loạn kiểm soát ít nhất một lần. Người bệnh thường thiếu hiểu biết và đánh giá thấp sự hiện diện cũng như mức độ nghiêm trọng của ICD và các điều kiện liên quan. Theo như kết quả nghiên cứu thì ICD phổ biến hơn ở những bệnh nhân mắc hội chứng Parkinson. Nguyên nhân chính gây ra hội chứng ICD là do việc sử dụng một loạt các loại thuốc thuộc nhóm các chất đồng vận dopamine, giúp kiểm soát chứng run và các triệu chứng khác của bệnh Parkinson. Phát hiện này của nghiên cứu có thể giúp điều trị cho bệnh nhân mắc hội chứng ICD bằng cách điều chỉnh thuốc , kích thích não bộ và tư vấn chuyên môn còn được biết tới với cái tên là liệu pháp nhận thức hành vi.

Các chuyên gia cho biết, việc quản lý thuốc Parkinson vô cùng khó khăn vì hiện nay ngoài loại thuốc này thì chưa hề có thêm bất kì loại thuốc hay bất cứ phương pháp nào khác có thể điều trị cho những bệnh nhân mắc Parkinson. Họ đang xem xét để giảm hoặc ngừng sử dụng loại thuốc này nhưng đó vẫn đang là một thách thức lớn.

Bệnh Parkinson (hay còn gọi là PD) là một chứng bệnh rối loạn thoái hóa của hệ thần kinh trung ương làm suy yếu khả năng vận động, lời nói và các chức năng khác. Loại bệnh này thuộc nhóm các bệnh rối loạn vận động, nó có đặc điểm như cứng cơ, tay chân run, tư thế và dáng đi bất thường, chuyển động chậm chạp và trong những trường hợp bệnh nặng người bệnh có thể mất đi một số chức năng vận động vật lý khác.


Hình 5

Thận trọng với thuốc hạ mỡ máu nhóm statin

Nhóm thuốc –statin như: atorvastatin, simvastatin, rosuvastatin là một trong 4 nhóm thuốc hạ mỡ máu (còn gọi là thuốc trị rối loạn lipid huyết) được dùng phổ biến hiện nay. Tuy vậy, nhóm thuốc này luôn được các nhà khoa học lưu ý tác dụng phụ của chúng.


Hình 6

Trong các nhóm thuốc điều trị mỡ máu hiện có nhóm statin được thầy thuốc và người bệnh ưa dùng hơn cả. Những thuốc được dùng nhiều là atorvastatin và simvastatin. Gần đây, rosuvastatin lại nổi lên như một loại thuốc có tác dụng với nhiều nguyên nhân cơ bản gây chứng rối loạn lipid huyết và ít tác dụng phụ. Các thuốc thuộc nhóm này thường có tương tác với nhiều loại thuốc, làm tăng lượng đường máu độc với gan, suy giảm nhận thức... Cơ quan Quản lý thuốc và Thực phẩm Mỹ (US.FDA) thường xuyên theo dõi và đưa ra cảnh báo:

-Tháng 2/2010: đưa simvastatin vào danh sách 27 loại thuốc cần giám sát về độ an toàn.

-Tháng 3/2010: cảnh báo một số tai biến khi dùng liều cao atorvastatin, simvastatin với các chất ức chế đồng phân P450 như: kháng sinh nhóm macrolid: clarythromycin, erythromycin; nhóm ức chế protease kháng HIV: lopinavir, ritonavir, saquinavir; kháng nấm phổ rộng itraconazol. Các thuốc này sẽ làm cho nồng độ atorvastatin, simvastatin tăng cao trong máu gây đau cơ, tiêu cơ vân.

-Tháng 2/2012: cảnh báo về các tác dụng phụ nguy hiểm cho người dùng thuốc thuộc nhóm statin: thuốc làm gia tăng lượng đường trong máu, tăng HbA1c (gây bệnh đái tháo đường týp 2 ở 9 - 13% người dùng thuốc thuộc nhóm statin). Do đó, cần kiểm tra lượng đường trong máu ở người đang dùng thuốc nhóm statin, nếu có tăng đường huyết thì dừng, chuyển dùng nhóm thuốc hạ lipid máu khác; suy giảm nhận thức (hay quên, lẫn), mất trí nhớ có thể xảy ra, đặc biệt ở người dùng thuốc nhóm statin lâu dài; một số thuốc (ức chế đồng phân P450) tương tác với lovastatin có thể làm tăng nguy cơ tổn thương cơ bắp (người đang dùng thuốc này cần theo dõi các triệu chứng đau, yếu cơ để ngừng thuốc);

-Trước khi sử dụng thuốc nhóm statin cần làm các xét nghiệm men gan và đường trong máu, nếu kết quả không bình thường thì không nên dùng (lưu ý bác sĩ trước khi kê đơn thuốc thuộc nhóm statin cho người bệnh); bệnh nhân cần thông báo cho bác sĩ biết các triệu chứng bất thường xảy ra khi đang dùng thuốc nhóm statin như: mệt mỏi, ăn không ngon, khó chịu vùng bụng trên bên phải, vàng da, vàng mắt, nước tiểu sẫm màu,... để bác sĩ xử trí kịp thời.

-Lưu ý: Không được ăn bưởi khi dùng thuốc thuộc nhóm statin (do trong dịch bưởi chứa furano coumarin làm bất hoạt, tăng giáng hóa Cyt P450), đặc biệt là simvastatin (có người đã bị tiêu cơ khi uống simvastatin với nước bưởi; có người ăn bưởi sau khi uống simvastatin đã phải đi cấp cứu do yếu cơ cả tay và chân); không dùng thuốc thuộc nhóm statin cho người mang thai, chuẩn bị mang thai, trong thời kỳ cho con bú.

Kháng sinh làm tăng nguy cơ trầm cảm và mất trí nhớ

Liệu kháng sinh có phải là nguyên nhân gây một loạt các bệnh tâm thần ngày càng phổ biến ở Anh như trầm cảm, rối loạn lo âu, mê sảng và mất trí nhớ không?

Các bệnh về não có vẻ chẳng liên quan gì đến thuốc kháng sinh, nhưng vấn đề chính lại nằm ở đường tiêu hóa của chúng ta. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, vi khuẩn đường ruột tạo ra một số chất ảnh hưởng đến hoạt động của não bộ. Khi các vi khuẩn trong ruột được cân bằng, các chất này tạo ra các quá trình có lợi trong não bộ và được thấm qua thành ruột, đi vào máu và được chuyển tới não để nuôi dưỡng các tế bào mới ở thùy hải mã và vùng não bộ tạo ra các kí ức mới và ngăn ngừa viêm nhiễm. Khi sự cân bằng vi khuẩn bị phá vỡ bởi các thuốc kháng sinh, não bộ bị cắt nguồn cung cấp các chất củng cố sự dẫn truyền có lợi này.


Hình 7

Giả thiết này được củng cố bởi nghiên cứu của TS. Susanne Wolf, nhà thần kinh học tại Trung tâm sinh học phân tử Max Delbruck, Berlin, Đức. Bà cho chuột dùng kháng sinh liều cao để tiêu diệt hết vi khuẩn trong ruột. Khi so sánh với nhóm đối chứng, những con chuột này ghi điểm thấp hơn ở các bài test trí nhớ và mất đi sự phát triển các tế bào não ở thùy hải mã. Biểu hiện này rất thường gặp ở người bệnh Alzheimer’s. TS. Wolf cũng thấy rằng sự mất vi khuẩn trong dạ dày làm giảm số lượng tế bào bạch cầu có tác dụng chống viêm. Mất đi các tế bào này khiến người bệnh dễ phát triển bệnh Alzheimer hơn và dễ bị trầm cảm. Các nhà khoa học tại đại học Tel Aviv, Israel khi nghiên cứu hồ sơ sức khỏe của hơn một triệu người Anh từ năm 1995 - 2013 và thấy rằng chỉ cần một liều kháng sinh cũng đủ để làm gia tăng nguy cơ trầm cảm tới 25%. Dùng 2 - 5 liều kháng sinh có thể làm gia tăng nguy cơ này lên gần 50%. Dùng kháng sinh cũng có thể làm gia tăng nguy cơ lo âu - tiền thân của trầm cảm.

Thuốc trị bệnh ợ nóng có thể gây tử vong sớm

Thuốc ức chế bơm proton (PPI) trước đây được biết có liên quan đến nhiều tác động tiêu cực với sức khỏe, chẳng hạn như bệnh thận và một số loại bệnh khác. Tuy nhiên, nghiên cứu tại Mỹ mới đây đã tiến xa hơn và cho thấy các thuốc PPI được kê đơn có liên quan đến nguy cơ tử vong tăng 25% từ bất kỳ nguyên nhân nào.

Thuốc PPI được sử dụng cho những trường hợp mắc bệnh lý dạ dày thông thường và trong phác đồ tiệt trừ vi khuẩn HP nhằm mục đích giảm acid dạ dày, hỗ trợ kháng sinh tiêu diệt HP và giúp dạ dày mau hồi phục viêm, loét bằng cách giảm acid dạ dày. Tuy nhiên, với những người đang dùng chúng nhưng lại không thực sự cần thiết thì thuốc có thể gây nhiều nguy cơ hơn lợi ích. Các nhà khoa học đã kiểm tra dữ liệu từ 6 triệu bệnh nhân trong hệ thống chăm sóc sức khỏe cựu chiến binh, trong đó có nhóm người dùng PPI và nhóm người dùng thuốc kháng histamin H2 (để hỗ trợ trào ngược acid) và nhóm người không uống gì trong vòng 6 năm. Kết quả cho thấy, những người uống PPI so với những người sử dụng kháng histamin H2 có nguy cơ tử vong cao hơn từ mọi nguyên nhân. PPI thường được bán không cần đơn thuốc. Tuy nhiên, nghiên cứu đăng trên tạp chí BMJ Open chỉ xem xét các loại thuốc có sẵn theo toa. Một số thương hiệu phổ biến bao gồm: nexium, prilosec, protonix và zegerid.

Mặc dù đây chỉ là một nghiên cứu quan sát nên chưa xác định được nguyên nhân tại sao nhóm thuốc này liên quan đến tử vong sớm nhưng đã đưa ra một cảnh báo mạnh mẽ về việc cân nhắc cẩn trọng giữa nguy cơ và lợi ích khi sử dụng PPI trong điều trị bệnh lý dạ dày.

Phát hiện 13 loại ung thư nhờ một xét nghiệm máu

Các chuyên gia Nhật Bản mới đây công bố đã phát triển thành công một xét nghiệm máu mới có thể giúp chẩn đoán được 13 loại ung thư (New Blood Test Can Diagnose Cancer of 13 types), gồm có ung thư dạ dày, đại trực tràng, thực quản, tuyến tụy, gan, tuyến mật, ung thư phổi, vú, buồng trứng, tuyến tiền liệt, bàng quang, u xương và mô mềm, u não thể glioma.


Hình 8

Các nhà khoa học đã thử nghiệm và chẩn đoán chính xác trên 40.000 mẫu máu đông lạnh từ những bệnh nhân ung thư. Các chuyên gia đã sử dụng các phân tử RNa không mã hóa nhỏ, được gọi là miRNA để phát hiện các tế bào ung thư có trong mạch máu và kiểm soát các chuyển động của gen. Tác giả chính nghiên cứu này là TS. Takahiro Ochiya cho biết phương pháp xét nghiệm máu này có thể dự đoán chính xác 96% ung thư giai đoạn đầu. Ung thư vú được chẩn đoán chính xác với tỉ lệ 97%.

Hiện nay, chưa có xét nghiệm nào có thể chẩn đoán và phát hiện nhiều loại ung thư, nên xét nghiệm máu này sẽ trở thành một bước tiến lớn trong y học. Song, xét nghiệm này vẫn chưa được ứng dụng lâm sàng, nên các nhà khoa học Nhật Bản đang xin cấp phép từ chính phủ. Nếu được chấp thuận, đây sẽ là cách chúng ta kiểm tra ung thư trong tương lai - TS. Takahiro Ochiya.

Chữa khô mắt bằng dung dịch từ chất nhầy của dạ dày lợn

Những người thường xuyên đeo kính áp tròng phải chịu những kích ứng do đôi mắt khô. Không chỉ vậy, khô mắt còn gây hại đến các mô mắt. Do đó, các nhà khoa học tại Đại học Kỹ thuật Munich, Đức đã nghiên cứu và phát hiện một chất bôi trơn mắt dựa trên các phân tử tìm thấy trong dạ dày lợn để giúp chống lại tình trạng khô mắt. Mắt được giữ ẩm bằng phân tử có tên gọi mucin MUC5AC. Phân tử này được phát hiện có trong nước mắt, dạ dày, ruột. Đối với một số người, nước mắt không chứa đủ mucin MUC5AC khiến cho mắt trở nên khô.


Hình 9

Khi đeo kính áp tròng, việc cọ sát khiến mắt dễ bị tổn thương. Để khắc phục tình trạng này, chất bôi trơn tổng hợp đã được đưa vào thử nghiệm nhưng do chất này chứa nhiều acid hyaluronic - không phải thành phần từ tự nhiên dẫn đến phải thường xuyên sử dụng như dạng thuốc nhỏ mắt, nhiều lần/ngày. Nhóm nghiên cứu đã phát hiện phân tử mucin dù không hoàn toàn giống mucin MUC5AC, nhưng phân tử này có cấu trúc tương tự và có trong dạ dày lợn. TS. Oliver Lieleg, trưởng nhóm nghiên cứu cho biết: “Chúng tôi đã tiến hành các xét nghiệm trên mắt lợn, sử dụng chất nhầy có nguồn gốc từ dạ dày lợn để bôi trơn kính áp tròng và theo dõi hiệu quả của chúng. Kết quả cho thấy, sau khi bôi chất nhầy này, kính áp tròng không gây tổn thương mô mắt và chữa được chứng khô mắt”.

 

Ngày 18/08/2017
TS.Huỳnh Hồng Quang
(Tổng hợp)
 

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên ngành của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế về các bệnh ký sinh trùng và các bệnh do véc tơ truyền, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng mới nổi như sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ, giun lươn, giun đũa chó và các bệnh thông thường khác; khám bảo hiểm y tế và xét nghiệm chẩn đoán bệnh bằng các phương tiện kỹ thuật cao như sinh hóa, huyết học, miễn dịch (ELISA), sinh học phân tử và chẩn đoán hình ảnh bằng nội soi tiêu hóa, siêu âm màu…

   Trung tâm Dịch vụ khoa học kỹ thuật của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế chuyên sản xuất mua bán hóa chất, vật tư, chế phẩm diệt côn trùng; dịch vụ diệt côn trùng gây bệnh, côn trùng gia dụng như muỗi, ruồi, gián, kiến…; dịch vụ phòng diệt mối mọt và xét nghiệm phát hiện tôm bằng các kỹ thuật hiện đại.


 KẾT QUẢ TUYỂN SINH
 CHUYÊN ĐỀ
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: Khu vực 8-Phường Nhơn Phú-Tp. Quy Nhơn- Tỉnh Bình Định.
Tel: (84) 056 3547492 - Fax: (84) 056 3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng ban biên tập: TTND.PGS.TS. Nguyễn Văn Chương - Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích