Home TRANG CHỦ Thứ 6, ngày 20/10/2017
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Finance & Retail Tin tức - Sự kiện
Trong nước
Quốc tế
Tin hoạt động của viện
Tin vắn đáng chú ý
Điểm tin y tế
Ngày Sốt rét thế giới 25 tháng 4 (World Malaria Day)
Web Sites & Commerce Hoạt động hợp tác
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Web Sites & Commerce Chuyên đề
Web Sites & Commerce Tư vấn sức khỏe
Web Sites & Commerce Tạp chí-Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động đoàn thể
Web Sites & Commerce Bạn trẻ
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Trung tâm dịch vụ
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
3 1 9 8 9 8 8 9
Số người đang truy cập
2 5
 Tin tức - Sự kiện Quốc tế
Một số nghiên cứu mới trong lĩnh vực vi nấm-ký sinh trùng thời gian gần đây

Thời gian gần đây cùng với các nghiên cứu côn trùng y học truyền bệnh, một số nghiên cứu mới trong lĩnh vực vi nấm-ký sinh trùng đã được tiến hành điều tra, nghiên cứu không chỉ ở môi trường thực hành điều trị mà còn ở điều kiện thực địa cộng đồng.

Lĩnh vực vi nấm-ký sinh trùng như các bệnh lý nhiễm kỹ sinh trùng sốt rét, giun tròn, sán dây, sán lá, đơn bào đường tiêu hóa và các phủ tạng ở người được đăng tải hoặc báo cáo tại các hội nghị ký sinh trùng, hội nghị nghiên cứu sinh, y tế công cộng và y học dự phòng, truyền nhiễm, nhiệt đới và vệ sinh,… trong nước và quốc tế với các điểm mới liên quan đến quy mô bệnh tật, dịch tễ học, điểm mới trên lâm sàng, cận lâm sàng xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh (siêu âm, CT-scanner, MRI, Pet-CT) càng làm sáng tỏ hơn các bệnh lý do ký sinh trùng trontg thời gian qua đã cập nhật và nghiên cứu dưới sự dẫn dắt của các chuyên gia, cán bộ khoa học có kinh nghiệm tại các trường đại học, các viện nghiên cứu chuyên ngành trong đào tạo cử nhân y-sinh học, kỹ thuật y sinh, đào tạo cao học chuyên ngành ký sinh trùng hay côn trùng y học, đào tạo nghiên cứu sinh tiến sỹ chuyên ngành dịch tễ học, ký sinh trùng và côn trùng y học với các mảng nghiên cứu ở trên.

Gần đây, với sự tham gia của nhiều chuyên ngành y học khác, đặc biệt là chuyên khoa tai mũi họng và nhãn khoa nên ngày càng có nhiều nghiên cứu công bố có sự phối hợp hai chuyên ngành này với lĩnh vực vi - ký sinh trùng càng làm sáng tỏ các bệnh lý về khía cạnh lâm sàng, cận lâm sàng, xác định chính xác đến loài tác nhân gây bệnh vi nấm và đưa ra hướng điều trị thích hợp trên từng ca bệnh, giảm số ngày nằm viện, giảm chi phí điều trị và giảm tải gánh nặng bệnh tật và giảm tải bệnh viện rất nhiều. Một trong số các đề tài nghiên cứu đó đã được đăng tải trên y văn trong thời gian qua, chúng tôi xin giới thiệu với các đồng nghiệp như chia sẻ lâm sàng và kinh nghiệm điều trị và thực hành lâm sàng không phải lúc nào ta cũng thấu đáo và nghĩ đến tổng thể như vậy.


Hình 1

Đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng viêm họng do nấm Aspergillus spp.

Viêm họng miệng là bệnh thường gặp trong chuyên ngành tai mũi họng, trong đó nguyên nhân do vi nấm chỉ chiếm 2%]trước đây bệnh không ph biến. Tuy nhiên, gần đây nhiều tác giả cho rằng số lượng bệnh nhân viêm họng do vi nấm tăng tỷ lệ thuận, song hành với một số bệnh lý nội khoa như tình trạng suy giảm miễn dịch, đái tháo đường cũng như việc lạm dụng kháng sinh trong điều trị như hiện nay, cấy ghép tạng phải dùng các thuốc ức chế miễn dịch. Hơn hai thập kỷ trở lại đây, các bệnh do vi nấm tăng lên một cách đáng kể và bệnh nhiễm trùng vi nấm được coi là bệnh nhiễm trùng cơ hội.

Ở New Zealand, Mỹ, tỷ lệ tử vong do vi nấm so với các tác nhân nhiễm trùng khác đang đứng hàng thứ 10 vào năm 1980 thì đã vượt lên đứng hàng thứ 7 vào năm 1997. Tỷ lệ tử vong tăng 2,4/100.000 dân trong một năm. Bệnh lý viêm họng do vi nấm ít gặp, nên cũng hiếm công trình nghiên cứu sâu về vấn đề này. Tuy nhiên, theo Lương Thị Xuân Hà tỷ lệ nhiễm vi nấm ở nước ta cũng có xu hướng gia tăng nhanh chóng. Viêm họng do vi nấm là tình trạng tổn thương niêm mạc họng do các loại vi nấm gây ra như Aspergillus spp., Candida spp., Cryptoccocus neoformans là các chủng vi nấm gây bệnh phổ biến nhất được tìm thấy tại họng. Nghiên cứu nhận thấy các chủng vi nấm này không gây ra phổ triệu chứng lâm sàng và đáp ứng với các liệu pháp điều trị khác nhau [6]. Dựa vào đặc tính sinh hóa, vi sinh và kết quả nuôi cấy có thể định danh các loài nấm Aspergillus spp. trong phòng thí nghiệm. Nấm gây viêm họng tùy theo tình trạng nhiễm mà chúng có khả năng gây các rối loạn sinh lý tại chỗ hay toàn thân như là làm tăng tỷ lệ chuyển hóa, biến đổi con đường chuyển hóa và làm biến đổi cấu trúc màng tế bào niêm mạc họng và gây bệnh.


Hình 2

Nhóm tác giả Phạm Ngọc Minh, Phạm Thị Bích Đào và cộng sự đang công tác tại Bộ môn Ký sinh trùng, Bộ môn Tai Mũi Họng, Trường Đại học Y Hà Nội gần đây nghiên cứu tại Khoa Khám bệnh thuộc Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương và Khoa Khám bệnh Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 11/2014 đến tháng 4/2016. Kết quả cho thấy vi nấm là một trong những nguyên nhân gây viêm họng. Biểu hiện chủ yếu của viêm họng do vi nấm là ngứa họng và ho kéo dài. Việc định danh chủng vi nấm gây viêm họng rất có giá trị trong hỗ trợ thực hành lâm sàng điều trị. Nghiên cứu được tiến hành trên 65 bệnh nhân được xác định là viêm họng do nấm Aspergillus spp. thông qua soi tươi và nuôi cấy mẫu phân lập nấm. Trong đó, hai chủng gây bệnh được xác định là A. fumigatus (82,3%) và A. flavus (17,7%). Triệu chứng lâm sàng chính là rát họng kéo dài (89,1%), niêm mạc họng dày, đỏ (90,1%). Bệnh phối hợp gồm viêm đại tràng mạn tính 65,3%, viêm dạ dày 21,2%, đái tháo đường 1,4%, viêm mũi xoang 12,1%. Phác đồ điều trị là sử dụng Posaconazole 300mg x 2 lần trong ngày đầu tiên sau đó giảm 300mg/ ngày trong 14 ngày và corticoid liều thấp 0,5mg/kg/ngày có hiệu quả.

Qua nghiên cứu trên 65 bệnh nhân được chẩn đoán xác định viêm họng do nấm Aspergillus spp. cho thấy các triệu chứng viêm họng do Aspergillus spp cũng khác với chủng Candida albicans, với biểu hiện đau rát họng kéo dài chiếm cao nhất với 89,1%, trong khi đó nhiễm nấm C. albicans biểu hiện chủ yếu làngứa họng và ho kéo dài.


Hình 3

Biểu hiện hơi thở hôi chiếm 14,5%, gặp tương đương ở cả hai nhóm nhiễm hai chủng trên. 90,1% số ca có niêm mạc họng dày, đỏ vì nấm Aspergillus spp. xâm nhập vào tổ chức dưới niêm mạc gây ra những tổn thương là những mảng dày sần ở niêm mạc và ít đáp ứng với thuốc kháng nấm Itraconazol. Chỉ 7,1% niêm mạc họng nề xám, cuối cùng dạng ít gặp là niêm mạc nhợt màu 2,8%, những trường hợp này đều có viêm mũi họng dị ứng kèm theo. Chính vì vậy, trên lâm sàng nếu chỉ soi thì rất khó đánh giá đây là tổn thương do nấm hay của viêm mũi họng dị ứng.

Scheid SC cũng nhận thấy tổn thương niêm mạc do chủng Aspergillus spp. là dạng xâm nhập vì thế không đáp ứng với Itraconazol. Các bệnh phối hợp tro ng viêm họng do Aspergillus spp. gặp trong nghiên cứu là viêm đại tràng mạn tính 65,3%, viêm dạ dày 21,2%, đái tháo đường 1,4%, viêm mũi xoang 12,1%. Liệu đây có thể là các bệnh lý nền hay yếu tố song hành với viêm họng do nấm. Nghiên cứu của Mehanna HM và cộng sự cho thấy những bệnh phối hợp với nấm họng chủ yếu trên cơ địa bệnh nhân đái tháo đường và bệnh nhân hen có điều trị thuốc corticoides dự phòng kéo dài, song chủng nấm trong nghiên cứu là C. albicans.

Hai chủng nấm ở nghiên cứu này gây bệnh phổ biến gồm A. fumigatus (82,3%) và A. flavus chiếm tỷ lệ thấp hơn (17,7%). Kết quảnày tương tự như số liệu nghiên cứu của tác giả Jean-Paul Latgé qua nghiên cứu trên 175 chủng Aspergillus spp. gây bệnh nhưng chỉ có một số chủng có khả năng gây bệnh ở người như A. fumigatus, A. flavus, A. niger, A. versicolor, A. terreurs. Trong đó, chủng A. fumigatus, A. flavus cũng là hai chủng gây bệnh phổ biến nhất. Phác đồ sử dụng điều trị viêm họng do nấm Aspergillus spp. sử dụng posaconazole 300mg x 2 lần trong ngày đầu tiên sau đó giảm 300mg/ ngày trong 14 ngày và corticoid liều thấp 0,5mg/kg/ngày cho thấy kết quả cải thiện lâm sàng và cận lâm sàng tốt 100%.

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng nhiễm trùng nấm ở ống tai

Nhiễm trùng nấm ở ống tai ngoài được mô tả đầu tiên bởi Andral và Gavarret vào năm 1843. Bệnh chiếm khoảng 9% bệnh nhân đến khám vì viêm ống tai ngoài. Bệnh gặp ở cả hai giới nam và nữ, thường có liên quan đến yếu tố địa lý, tập trung nhiều ở vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới, kể cả Việt Nam. Bệnh gây ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống do gây ù tai, nghe kém, ngứa tai, đau tai, cảm giác đầy tai. Việc điều trị nấm ống tai ngoài không khó, song bệnh hay tái phát, đồng thời phụ thuộc vào chủng nấm gây viêm. Mặc dù có nhiều loài nấm gây bệnh, nhưng thường gặp nhất là nấm Aspergillus spp. Hiện nay, trên thế giới việc điều trị nấm ống tai ngoài còn nhiều tranh luận với nhiều quan điểm khác nhau, đặc biệt là những trường hợp tái phát và đáp ứng kém với điều trị với thuốc chống nấm thông thường. Khám lâm sàng và qua nội soi tai thấy hình thái nấm rất đa dạng. Các loài nấm thường gặp gây bệnh do Aspergillus spp. gồm A. niger, A. flavus, A. fumigatus, một số ít khác là Candida albicans. Việc chẩn đoán chính xác và phân loại đúng chủng nấm gây bệnh ở ống tai ngoài sẽ rất có giá trị và giúp cho bác sĩ lâm sàng có thể nhận định và điều trị kịp thời.


Hình 4

Nhóm tác giả Phạm Thị Bích Đào, Phạm Ngọc Minh đang công tác tại Bộ môn Tai mũi họng Đại học Y Hà Nội và Bộ môn Ký sinh trùng Đại học Y Hà Nội cho biết nấm ống tai ngoài là bệnh lý viêm ống tai ngoài do nấm, phổ biến ở các nước nhiệt đới, kể cả Việt Nam. Bệnh gây ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống do gây ù tai, nghe kém. Việc điều trị nấm ống tai ngoài không khó, nhưng bệnh hay tái phát, đồng thời phụ thuộc vào chủng nấm gây viêm. Nghiên cứu được tiến hành trên 215 bệnh nhân được chẩn đoán xác định là viêm ống tai ngoài do nấm thông qua được nuôi cấy và xác định chủng nấm gây bệnh. Kết quả cho thấy trong số 215 ca, có 78,1% là nam giới, tuổi hay gặp trong nhóm 16-45 (61,2%), triệu chứng lâm sàng chủ yếu gặp ngứa tai (89,3%), đầy tai (67,7%), đau tai (54,6%), nghe kém (25,9%), chảy dịch ở tai (35,8%). Hình dạng tổn thương dạng mảng chiếm đa số 79,6%, màu sắc khối nấm màu trắng chiếm 49,2%, trắng chấm đen là 27,7%. Tính chất khối nấm thường là ẩm (86,1%). Tình trạng da ống tai ngoài chủ yếu là da viêm đỏ chiếm 68,3%, màng nhĩ thường không thủng (82,5%). Có hai nhóm nấm ống tai ngoài gặp là Aspergillus spp. (80,3%), Candida spp. (19,7%). Khi định danh các chủng vi nấm gây bệnh cho kết quả Aspergillus terreus, Aspergillus niger, Aspergillus flavus, Aspergillus tamarii, Candida albicans, Candida parapsilosis.

Qua 215 đối tượng nghiên cứu đã được chẩn đoán viêm ống tai ngoài do nấm đã được ghi nhận các đặc điểm trên đối tượng nghiên cứu gồm nam giới chiếm 78,1% ưu thế, phần lớn có thể do khi đi cắt tóc và xin lấy ráy tai hoặc đề nghị thợ cắt tóc làm sạch tai và số liệu này tương tự như nghiên cứu của Lê Chí Thông và cộng sự và Abou-Halawa AS cũng đưa ra kết quả tỷ lệ về giới nam/nữ là 3/1. Nhóm tuổi hay gặp nhất bị nấm ống tai là từ 16-45 tuổi (61,2%). Ở nhóm tuổi trên 45, tổ chức dưới da ống tai ngoài thường teo đét, da thường khô nên vì thế có thể ít khi nhiễm nấm, ở nhóm tuổi dưới 16 thường ít ra ngoài hiệu cắt tóc lấy dáy tai nên ít bị hơn mà thường viêm ống tai ngoài do bố mẹ ngoáy tai hoặc tự ngoáy. Các triệu chứng thường gặp trong viêm ống tai ngoài do nấm là ngứa tai, tỷ lệ ngứa tai này tương tự như một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam, nhưng đều trên 50% như tác giả Ho T và cộng sự cho tỷ lệ ngứa tai là 100% hay của Abou-Halawa AS và cộng sự với ngứa tai 79,8%, Vennewald I và cộng sự có ngứa tai là 91,3% và Lê Chí Thông là 78%, còn nghiên cứu này gặp ngứa tai là triệu chứng thường gặp nhất với 89,3%. Như vậy, triệu chứng ngứa tai có thể xem là một trong những đặc trưng của nấm ống tai ngoài.

Cảm giác đầy tai trong nghiên cứu này gặp 67,7%, nguyên nhân có thể do khối nấm cản trở luồng không khí đi vào. Số liệu này tương tự như của tác giả Ho T và cộng sự có cảm giác đầy tai 92,4%, Abou-Halawa AS và cộng sự là 81,5%, Vennewald I và cộng sự là 90,6%, hay của Lê Chí Thông và cộng sự là 48%. Triệu chứng này tuy tỷ lệ gặp nhiều hơn cả ngứa tai nhưng chỉ đặc trưng cho viêm ống tai ngoài nói chung vì khi ống tai ngoài bị cản trở do bất kỳ nguyên nhân nào cùng làm cho người bệnh cảm giác đầy tai.

Đau tai cũng là dấu hiệu thường gặp với tần xuất 54,6%, song cũng như triệu chứng đầy ống tai thì nó lại đặc trưng chung của mọi trường hợp viêm ống tai, đau tai cũng chỉ gặp trong bệnh nấm ống tai do người bệnh ngứa mà ngoáy nhiều gây tổn thương da ống tai ngoài. Biểu hiện nghe kém gặp ở đây alf 25,9% và là nghe kém dẫn truyền theo như ghi nhận của tác giả Afolabi AO cũng cho rằng kể cả dạng nấm xâm nhập thì đặc trưng của nấm ống tai cũng chỉ là điếc dẫn truyền, trừ trường hợp nấm ống tai kèm theo bệnh lý của tai trước đó mới gây ra điếc hỗn hợp và điếc tiếp nhận. Chảy dịch ở tai gặp 35,8%, thường kèm theo biểu hiện đau tai, những trường hợp này do ống tai ngoài bị bội nhiễm khuẩn kèm theo gây tình trạng viêm cấp ống tai ngoài, nhiều khi chảy dịch tai đi cùng viêm tấy lan tỏa ra tới tận cửa tai và vùng tuyến mang tai.


Hình 5

Qua soi tai cho thấy da ống tai ngoài thường biểu hiện đỏ, gặp 68,1% số trường hợp, ống tai ngoài bị chít hẹp gặp 39,8% số ca, ống tai ngoài vừa đỏ vừa chít hẹp gặp 26,9% và thấy tổ chức bẩn trong ống tai ngoài chiếm 100%. Các triệu chứng này thường kèm theo đau tai, có thể hậu quả do viêm nhiễm. Nấm ống tai ngoài và biểu hiện thủng màng nhĩ thường không có mối liên quan, một số trường hợp do cảm giác đầy tức tai do khối nấm bít tắc, người bệnh hay tự ngoáy tai có khả năng gây thủng màng nhĩ, hoặc có thể viêm tai giữa mạn tính đi kèm. Những bệnh nhân nấm ống tai ngoài thường không thủng màng nhĩ chiếm 82,5%. Tác giả Lê Chí Thông và cộng sự cũng có nhận xét tượng tự trong nghiên cứu 112 bệnh nhân nấm ống tai ngoài. Hình dạng tổn thương dạng mảng chiếm đa số với 79,6%, tỷ lệ nấm thành mảng trắng gặp nhiều nhất (49,2%), tiếp đến là màu trắng chấm đen gặp 31,2%, các biểu hiện màu khác chiếm tỷ lệ thấp hơn và dưới 10%.

Qua soi tươi, nhóm nghiên cứu thu được kết quả với nấm Aspergillus spp. chiếm 80,5%, do Candida spp. chiếm 19,5%, số liệu này trùng hợp với nghiên cứu của Celebi Erdivanli O cũng đưa ra kết quả viêm ống tai ngoài do nấm là Aspergillus spp. chiếm 71,2%. Khi định danh các loài nấm, số liệu đã cho thấy các chủng nấm Aspergillus spp. lần lượt gặp theo tỷ lệ từ cao đến thấp là Aspergillus terreus (43,3%), Aspergillus niger (19,5%), Aspergillus flavus (9,8%), Aspergillus tamarii (7,9%), Candida albicans (13,5%), Candida parapsilosis (6%). Kết quả này tương tự như số liệu một số nghiên cứu trong và ngoài nước. Nấm ống tai ngoài gây triệu chứng cơ năng chính là ngứa tai, nấm hay gặp dưới dạng mảng trắng và có hai loại nấm gây bệnh viêm ống tai ngoài chính là Aspergillus spp. và Candida spp. Trong đó, Aspergillus spp. chiếm đa số và chủng lần lượt Aspergillus sterreus, Aspergillus niger, Aspergillus flavus, Aspergillus tamarii, Candida albicans, Candida parapsilosis.

Viêm ống tai ngoài do vi nấm tại khoa tai mũi họng, BV Nguyễn Trãi TP. Hồ Chí Minh

Bệnh viêm ống tai ngoài là tình trạng viêm da của ống tai, Tác nhân gây bệnh thường gặp là vi khuẩn và vi nấm. Theo Bojrab DI và cộng sự, tác nhân vi nấm chiếm khoảng 10% các caviêm ống tai ngoài, trong đó vi nấm Aspergillus spp. chiếm khoảng 90%, còn lại 10% là nấm Candida spp. Yếu tố thuận lợi gây viêm ống tai ngoài là khí hậu nóng ẩm, lấy ráy tai thường xuyên, hoặc do bơi lội bị nước vào tai buộc phải dùng tăm bông ngoáy tai thường xuyên.


Hình 6

Việt Nam là nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, ý thức vệ sinh cá nhân chưa cao, do đó bệnh nhân viêm ống tai ngoài đến khám tại chuyên khoa tai mũi họng khá nhiều. Tuy nhiên, việc phân lập tác nhân vi nấm gây bệnh tại các bệnh viện của TP. Hồ Chí Minh chưa được triển khai một cách hệ thống và thường qui, nên dễ chẩn đoán nhầm với các bệnh và tác nhân khác (như viêm tai do chàm, do tăng bài tiết, do vi khuẩn). Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá tỷ lệ và loại vi nấm gây viêm ống tai ngoài trên bệnh nhân đến khám tại khoa Tai Mũi Họng, qua đó đánh giá được tỷ lệ nhiễm vi nấm, tác nhân vi nấm, từ đó cải thiện phác đồ chẩn đoán và điều trị viêm ống tai ngoài tại bệnh viện. Một nghiên cứu do nhóm tác giả Trần Thị Tường Vân, Trần Phủ Mạnh Siêu đang công tác tại ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh, BV Nguyễn Trãi TP Hồ Chí Minh cho thấy viêm ống tai ngoài rất phổ biến ở Việt Nam do yếu tố khí hậu nóng ẩm và ý thức vệ sinh bệnh nhân chưa cao.

Tuy nhiên, đa số các khoa tai mũi họng, bệnh nhân chỉ được khám và điều trị mà thiếu kết quả phân lập vi nấm. Điều này làm cho việc điều trị không hiệu quả, thời gian mắc bệnh kéo dài. Nghiên cứu tiến cứu phân tích, đánh giá 177 ca viêm ống tai ngoài điển hình đến khám tại bệnh viện Nguyễn Trãi, bệnh nhân được lấy phết tai ngoài để phân lập vi nấm. Kết quảcho thấy có 63/177 (35,6%) ca nhiễm vi nấm.

Phân tích các yếu tố giới tính: nam 42,1%, nữ 32,5%. Độ tuổi 25-60 tuổi chiếm tỷ lệ 42,2%. Phân tích bệnh sử cho thấy tình trạng nhiễm vi nấm có liên quan đến thói quen hay lấy ráy tai và bệnh lý viêm ống tai trước đó. Kết quả định danh vi nấm cho thấy Candida albicans 1 ca (1,6%), Aspergillus fumigatus 2 ca (3,2%), Aspergillus niger 28 ca (42,9%), Aspergillus flavus 20 ca (31,8%), Aspergillus terreus 13ca (20,5%). Số liệu trên cho thấy sự phân bố về tỷ lệ các chủng vi nấm không giống nhau, đây là thông tin rất cần thiết cho các bác sĩ lâm sàng để có hướng chẩn đoán và điều trị đặc hiệu cho bệnh nhân.


Hình 7

Trong số 63 ca viêm ống tai ngoài do vi nấm có 36% bệnh nhân sinh sống tại nội thành và 33,3% sinh sống ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh. Tỷ lệ nhiễm theo giới cho thấy viêm ống tai ngoài do vi nấm của nam giới cao hơn nữ giới (nam: 42,1%, nữ: 32,5%), điều này có thể nam giới gặp phải nguyên nhân chủ quan, khách quan nhiều hơn so với nữ giới như thường có thói quen đi lấy ráy tai thường xuyên, hay đi bơi lội. Nhóm tuổi nhiều nhất gặp nhiễm vi nấm là nhóm tuổi 25-60 chiếm 42,2%, số còn lại phân bố đều cho các nhóm tuổi khác. Theo tác giả Bojrab DI và cộng sự (1996), bệnh viêm ống tai ngoài do vi nấm có thể xảy ra ở bất kỳ nhóm tuổi nào, tuy nhiên trong mẫu nghiên cứu tại bệnh viện, có lẽ đây là nhóm tuổi khám bảo hiểm y tế thường gặp nhất đi khám, nên cơ hội nhóm bệnh nhân này gặp nhiều hơn.

Liên quan đến nghề nghiệp, số bệnh nhân thuộc nhóm nghề công nhân chiếm tỷ lệ cao nhất (40,7%), tiếp theo là nhóm nông dân với 40%, kế tiếp là viên chức (36,8%) và học sinh sinh viên (36,4%), cuối cùng là nghề nghiệp khác như hưu trí, nội trợ, buôn bán chiếm 31,8%. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Võ Văn Nghị và cộng sự (2012), trong đó nhóm cán bộ công nhân viên chiếm tỷ lệ cao nhất là 53,27%. Có 72,1% bệnh nhân bị viêm ống tai do nấm có tiền sử bị tái phát hai hay nhiều lần. Điều này cho thấy việc điều trị chưa hiệu quả do trước đây có thể các bác sĩ lâm sàng chưa chú ý đến phân lập tác nhân gây bệnh để sử dụng phác đồ thuốc cho phù hợp. Về tiền sử dùng thuốc điều trị trước khi đến nhập viện và khám đưa vào nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ nhiễm vi nấm ống tai ngoài giữa nhóm có dùng thuốc và nhóm không dùng thuốc.


Hình 8

Đối chiếu một số nghiên cứu trên y văn cho biết việc dùng thuốc nhỏ tai thường xuyên hoặc thuốc ức chế miễn dịch có thể làm tăng nguy cơ bị nhiễm nấm tai ngoài. Trong nghiên cứu này, do số lượng mẫu nhỏ, chưa phản ánh được hết đặc điểm của bệnh lý nghiên cứu và mối liên quan. Liên quan đến nguyên nhân gây viêm ống tai ngoài do nấm và thói quen lấy ráy tai có sự khác biệt giữa nhóm có thói quen lấy ráy tai và nhóm không có thói quen lấy ráy tai bị nhiễm vi nấm (p < 0,001) có ý nghĩa, điều này cho thấy thói quen lấy ráy tai là yếu tố thuận lợi cho việc lây nhiễm nấm tai trong các bệnh nhân nhiễm vi nấm ống tai ngoài.

Kết quả này phù hợp với nghiên cứuAdoubryn KD và cộng sự (2014) khi khảo sát trên 88 bệnh nhân bị viêm ống tai ngoài do vi nấm tại bệnh viện đại học Yopougon cho thấy yếu tố nguy cơ của những bệnh nhân này gồm thường xuyên ngoáy tai. Về tiền sử bệnh lý ống tai, tuy sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê giữa nhóm có bệnh lý ống tai và nhóm không có bệnh lý ống tai nhưng một số tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho rằng bệnh lý ống tai ngoài là tiền đề cho tác nhân vi nấm xâm nhập, có thể do nghiên cứu này với cỡ mẫu quá nhỏ nên chưa phản ánh được.

Kết quả soi tươi có 63/177 (35,6%) mẫu bệnh phẩm phân lập được vi nấm dương tính, trong đó có cả nấm men (1,6%) và nấm sợi (98,4%), tỷ lệ này khá cao so với một số nghiên cứu ấn bản trên y văn. Theo tác giả Bojrab DI và cộng sự (1996) cho thấy tỷ lệ nhiễm vi nấm thường chiếm khoảng 10% tổng số bệnh nhân bị viêm ống tai ngoài, trong đó nấm sợi chiếm 90%, nấm hạt men khoảng 10%. Theo Martin TJ và cộng sự năm 2005, khảo sát trên 160 bệnh nhi bị viêm ống tai ngoài tại khoa tai mũi họng của bệnh viện nhi Wincosin (Mỹ) có tỷ lệ vi nấm phân lập được là 25%; theo Enoz M và cộng sự (2009) khi nghiên cứu trên 362 mẫu phết tai ngoài của các bệnh nhântại bệnh viện Erzurum (Thổ Nhĩ Kỳ), có 82/362 mẫu dương tính với vi nấm, chiếm 30,7%. Như vậy, có lẽ do môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh nóng, ẩm, lại có nhiều yếu tố nguy cơ như ráy tai ngoài tiệm cắt tóc, đi bơi để nước vào tai, ý thức vệ sinh kém nên tỷ lệ nhiễm nấm tai có phần cao hơn các tác giả khác.


Hình 9

Kết quả định danh chủng nấm sợi cho thấy chủng A. fumigatus là 3,2%, A. niger 42,9%, A. flavus 31,8%, A. terreus 20,5%. Theo Kiakojuri K và cộng sự (2015), khảo sát 56 bệnh nhân bị viêm ống tai ngoài, có 11 bệnh nhân có vi nấm (19,64%), trong đó có cả Aspergillus spp.Candida spp. Theo Adoubryn KD và cộng sự (2014) khảo sát trên 110 bệnh nhân bị viêm ống tai ngoài tại bệnh viện đại học Yopougon, có 88 bệnh nhân có vi nấm, trong đó chủ yếu là vi nấm Aspergillus spp.Candida spp. trong đó chủng A. flavus (28,4%), C. guiliermondi (19,3%), C. parapsilosis (18,2%). Theo Martin TJ và cộng sự (2005) khảo sát 160 bệnh nhi bị viêm ống tai ngoài tại khoa tai mũi họng của bệnh viện nhi Wincosin (Mỹ) tỷ lệ vi nấm phân lập được gồm C. albicans (43%), C. parapsilosis (24%), A. fugimatus (13%). Như vậy, tỷ lệ nhiễm vi nấm và chủng loại vi nấm có sự khác nhau giữa các quốc gia, đây cũng là điều phù hợp với đặc điểm bệnh học của vi nấm, chúng phân bố tùy thuộc vào điều kiện môi trường gây bệnh.

Khảo sát các chủng vi nấm phân lập được ở xoang tại khoa tai mũi họng

Viêm xoang là một tình trạng thường gặp do niêm mạc các xoang xung quanh mũi bị viêm. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra viêm xoang như u bướu, dị ứng, chấn thương vùng hàm mặt, do vi khuẩn, vi rút, vi nấm. Viêm mũi xoang do vi nấm ngày càng báo cáo nhiều hơn ở chuyên khoa Tai Mũi Họng trên thế giới, nhất là vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm/ Việt Nam cũng là một nước nhiệt đới, tuy nhiên tình hình nhiễm vi nấm trên những bệnh nhân viêm xoang ít được quan tâm. Bệnh viêm xoang do nấm thường kéo dài, có thể chuyển từ thể viêm xoang không xâm lấn do nấm sang thể bệnh viêm xoang xâm lấn nấm gây tử vong cao từ 50-80%.


Hình 10

Nhóm tác giả Nguyễn Nhật Minh Thư, Trần Phủ Mạnh Siêu đang công tác ĐH Y dược TP. Hồ Chí Minh, BV Nguyễn Trãi TP. Hồ Chí Minh thực hiện nghiên cứu cho thấy bệnh viêm xoang là bệnh phổ biến trên thế giới, trong đó có viêm xoang do vi nấm. Tuy nhiên, tại Việt Nam bệnh vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Nghiên cứu tiến cứu mô tả kết hợp với phương pháp phòng thí nghiệm đánh giá trên 123 bệnh nhân có triệu chứng viêm xoang, phân lập tác nhân vi nấm bằng phương pháp soi tươi, cấy phân lập và định danh. Số liệu phân tích cho thấy có 14 ca (11,4%) dương tính với vi nấm, trong đó vi nấm xâm lấn mô là 28,6%, vi nấm không xâm lấn mô là 71,4%. Tác nhân vi nấm phân lập được gồm nấm Aspergillus spp. 78,6% (Aspergillus fumigatus 4 ca (28,6%), Aspergillus flavus 4 ca (28,6%), Aspergillus niger 3 ca (21,4%); nấm Candida albicans 2 ca (14,3%). Về đặc điểm lâm sàng, bệnh nhân biểu hiện viêm mũi xoang 64,3%, viêm mũi xoang mạn tính 28,6%, viêm mũi xoang cấp 7,1%, polype mũi 66,7%, ho kéo dài 100%, khàn tiếng 100%, nghẹt mũi 7,1%, chảy máu mũi 12,5%. Đây là các số liệu có ý nghĩa dựa trên y học chứng cứ, giúp các bác sĩ lâm sàng có thêm dữ liệu về chẩn đoán và điều trị hiệu quả cho bệnh nhân viêm xoang do vi nấm.‎

Trong thời gian thực hiện nghiên cứu đã phát hiện 14 ca cấy nấm dương tính trong số 123 ca viêm mũi xoang (11,4%). Kết quả nghiên cứu tương đồng với kết quả của các tác giả nước ngoài, như nghiên cứu của Granville L và cộng sự (2004) có 47/384 ca viêmxoangdo nấm (12%), hay của Nguyễn Ngọc Minh và cộng sự (2014) là 11,3%.

Tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm nấm trong nghiên cứu này có phần thấp hơn so với một số nghiên cứu khác ở nước ngoài, như kết quả nghiên cứu của Chakrabarti A và cộng sự (1998) thực hiện ở Ấn Độ với tỷ lệ nấm xoang là 42%, nghiên cứu của Midhat Amin và cộng sự (2012) cho tỷ lệ nhiễm nấm xoang 35,06%, hay nghiên cứu của Goh BS và cộng sự (2005) thực hiện ở Malaysia trên 30 ca viêm mũi xoang thì có 26,7% viêm xoang do nấm, hoặc nghiên cứu của Collins MM và cộng sự (2003) cho tỷ lệ nhiễm nấm xoang là 26,6%. Sở dĩ, có sự chênh lệch về tỷ lệ nấm xoang ở nghiên cứu này với các nghiên cứu trong và ngoài nước ở trên, có thể là do sự khác biệt về đặc điểm về địa lý, khí hậu, tập quán sinh hoạt cũng như thời gian nghiên cứu và cỡ mẫu khảo sát nghiên cứu và hệ thống y tế tại các điểm nghiên cứu đó.

Nghiên cứu đã thu thập 99 mẫu mủ xoang (80,5%) và 24 mẫu mô sinh thiết xoang (19,5%). Liên quan đến nhiễm vi nấm xâm lấn mô, vi nấm không xâm lấn mô cho thấy trong số 123 mẫu bệnh phẩm thu thập được, số mẫu cấy nấm dương tính là 14 mẫu, chiếm tỷ lệ 11,4%. Tỷ lệ nấm không xâm lấn mô là 71,4% và tỷ lệ nấm xâm lấn mô là 28,6%. Trong nghiên cứu này, không có ca nào nhiễm vi nấm thể xâm lấn và không xâm lấn trên cùng một ca. Theo Toyama Carlos, viêm xoang do nấm xâm lấn cấp tính thường gặp ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch, đái tháo đường. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ nấm không xâm lấn mô chiếm đa số vì đối tượng có hệ miễn dịch khỏe mạnh. Cũng có một số tác giả đã báo cáo tỷ lệ nấm không xâm lấn mô chiếm đa số trong các đối tượng nghiên cứu như Lê Minh Tâm với viêm xoang do nấm thể không xâm lấn chiếm đa số (95%), viêm xoang do nấm xâm lấn chiếm (5%), Kathleen T và cộng sựvới tỷ lệ nấm không xâm lấn là 87,25% và tỷ lệ nấm xâm lấn là 12,75%. Ngược lại, với những nghiên cứu trên, nghiên cứu của Goh B.S và cộng sự cho biết nấm xâm lấn mô chiếm ưu thế với tỷ lệ 68,75%, nấm không xâm lấn mô chiếm tỷ lệ 31,25%.


Hình 11

Tỷ lệ các chủng vi nấm phân lập được trong nghiên cứu gồm Aspergillus spp. chiếm đa số (11/14 ca (78,6%), A. fumigatusA. flavus có số ca bằng nhau với tỷ lệ là 28,6% mỗi loại và A. niger có 3 ca chiếm tỷ lệ 21,4%, nấm Candida albicans có 2/14 ca với tỷ lệ 14,3% và cuối cùng là Penicillium sp 1/14 ca (7,1%). Tỷ lệ các chủng vi nấm trong nghiên cứu ở đây có sự tương đồng với các nghiên cứu của các tác giả khác. Vi nấm tìm thấy ở vùng mũi xoang chủ yếu là nấm sợi Aspergillus spp. chiếm ưu thế. Điều này là phù hợp với các nghiên cứu trong nước cũng như các nghiên cứu thực hiện ở châu Á như Lê Minh Tâm và cộng sự (tỷ lệ Aspergillus spp. chiếm 95%, hay nghiên cứu của Rupa và cộng sự cho tỷ lệ Aspergillus spp. chiếm 95,8%. Trong nghiên cứu của Midhat Amin và cộng sự, tỷ lệ Aspergillus spp. có thấp hơn so với các nghiên cứu khác, nhưng vẫn chiếm đa số các trường hợp cấy nấm dương tính (Aspergillus spp. chiếm 58,82%), tương tự với nghiên cứu của Goh B.S.

Vi nấm Candida spp. trong nghiên cứu này phân lập được 2 ca, sau định danh cho kết quả Candida albicans chiếm tỷ lệ 14,3%. Tỷ lệ này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Minh và cộng sự (Candida spp. chiếm tỷ lệ 14,3%). Trong nghiên cứu của các tác giả nước ngoài thì vi nấm Candida spp. có tỷ lệ cao hơn, Sandeep Suresh và cộng sự báo cáo Candida spp. chiếm tỷ lệ 26,6% các chủng vi nấm phân lập được trên đối tượng nghiên cứu. Do đó, dù là nghiên cứu trong hay ngoài nước thì nấm sợi vẫn chiếm ưu thế trong bệnh viêm xoang do nấm, tùy theo điều kiện khí hậu mà tỷ lệ nấm men và nấm sợi sẽ có sự thay đổi nhiều hay ít.

Về đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan đến viêm mũi xoang do vi nấm, trong 123 ca viêm mũi xoang, có 77 (62,6%) bệnh nhân được chẩn đoán lâm sàng là viêm mũi xoang, 32 ca (26%) bệnh nhân được chẩn đoán là viêm mũi xoang mạn, 6 (4,9%) bệnh nhân được chẩn đoán là viêm mũi xoang cấp, 4 (3,3%) bệnh nhân được chẩn đoán là viêm mũi xoang bội nhiễm, 2 (1,6%) bệnh nhân được chẩn đoán là viêm đa xoang, 1 ca viêm xoang (0,8%) và 1 ca (0,8%) viêm mũi xuất tiết. Các mẫu cấy nấm dương tính thuộc về những ca có chẩn đoán lâm sàng là viêm mũi xoang, viêm mũi xoang mạn tính, viêm mũi xoang cấp tính.


Hình 12

Trong 14 ca viêm xoang do nấm thì có 9 ca (64,3%) được chẩn đoán lâm sàng là viêm mũi xoang, 4 ca (28,6%) ca là viêm mũi xoang mạn tính và 1 ca (7,1%) là viêm mũi xoang cấp tính. Trong nghiên cứu của Naghibzadeh B và à cộng sự được thực hiện tại Thổ Nhĩ Kỳ và Iran thì tỷ lệ những ca viêm xoang mạn tính do nấm lần lượt là 13% và 7,3%, nghiên cứu của Karthikeyan và cộng sự thì tỷ lệ này là 9,5% và nghiên cứu của Midhat và cộng sự ghi nhận 4 ca (5,19%) cấy nấm dương tính trên bệnh nhân được chẩn đoán lâm sàng là viêm xoang cấp tính. Do một phần chẩn đoán lâm sàng trong nghiên cứu này là viêm mũi xoang, chưa phân biệt rõ ràng là viêm xoang cấp tính hay mạn nên gây khó so sánh với nghiên cứu khác.

Tỷ lệ các chủng vi nấm phân lập được phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, nghiên cứu của Midhat và cộng sự đã phân lập được 2 ca C. albicans trong tổng số 4 ca viêm xoang cấp tính.

Trong nghiên cứu này, tỷ lệ phân bố nam và nữ là nam chiếm 45,5%, nữ chiếm 54,5%, tỷ số nhiễm nấm của nam/nữ là 1/1. So với các tác giả khác, cho thấy rằng tỷ lệ viêm xoang do nấm ở nam và nữ là như nhau, như nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Minhtỷ số nhiễm nấm nam/nữ là 1,3/1; Midhat Amin và cộng sự cho biết tỷ số nhiễm nấm của nam/nữ là 1,08/1; Kathleen T. và cộng sự nghiên cứu tại Mỹ thì tỷ số nhiễm nấm của nam/nữ là 1,2/1. Song, nghiên cứu của chúng tôi trái ngược với nghiên cứu Chakrabarti A. và cộng sự với tỷ số nam/nữ là 2,8/1.

Liên quan đến nhóm tuổi, với các đối tượng tham gia vào cứu này, bệnh viêm mũi xoang gặp hầu hết ở mọi lứa tuổi, độ tuổi trung bình là 44,18, tuổi nhỏ nhất là 16 tuổi và cao nhất là 74 tuổi. So với nghiên cứu của Lê Minh Tâm, tuổi trung bình của ca bệnh nghiên cứu là 48,4 tuổi, độ tuổi của các đối tượng từ 28 tuổi đến 75 tuổi, hay nghiên cứu của Kathleen T và cộng sự, tuổi trung bình của các đối tượng tham gia nghiên cứu là 50 tuổi, tuổi nhỏ nhất là 18 tuổi và cao nhất là 90 tuổi, còn nghiên cứu của Midhat Aminvà cộng sự, độ tuổi của các đối tượng tham gia nghiên cứu rộng hơn, từ 9-65 tuổi, độ tuổi trung bình của các đối tượng tham gia nghiên cứu là 38,7 tuổi.


Hình 13

Nhóm tuổi có tỷ lệ nhiễm nấm vùng mũi xoang nhiều nhất trong nghiên cứu này là 25-60 tuổi (71,4%).

Yếu tố polype mũi, Naghibzadeh và cộng sự cũng báo cáo rằng có 12,1% bệnh nhân có polype mũi bị nhiễm nấm, tỷ lệ nhiễm nấm ở bệnh nhân có polype mũi thấp. Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Minh và cộng sự có tỷ lệ nhiễm nấm trên bệnh nhân có yếu tố polype mũi, có 100% ca có polype mũi dương tính với nấm. Một số nghiên cứu nước ngoài cũng có kết quả tương tựm như nghiên cứu của Jain và cộng sự có tỷ lệ nấm dương tính ở bệnh nhân có polype mũi là 83,9%.

Đồng thời, mối liên quan giữa yếu tố nền polype mũi và tỷ lệ cấy nấm dương tính có tỷ số nguy cơ là 6,7. Như vậy, những bệnh nhân có polype mũi có nguy cơ bị viêm mũi xoang do nấm gấp 6,7 lần so với bệnh nhân không có polype mũi.


Hình 14

Tỷ số nguy cơ này đã khẳng định polype mũi là yếu tố nguy cơ cao góp phần tạo ra tình trạng nhiễm nấm vùng mũi xoang. Trong một số nghiên cứu nước ngoài có ghi nhận tỷ lệ nhiễm nấm xoang ở đối tượng ho kéo dài rất thấp. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ nhiễm nấm ở bệnh nhân có triệu chứng ho kéo dài là 100% và mối liên quan giữa yếu tố này với tỷ lệ nhiễm nấm xoang không có ý nghĩa thống kê. Khàn tiếng cũng là triệu chứng có giá trị tham khảo cho lâm sàng rất cao (100%). Chảy máu mũi với viêm mũi xoang do nấm, tỷ lệ cấy nấm dương tính ở ca có triệu chứng chảy máu mũi là 12,5%, còn trong nghiên cứu Nguyễn Ngọc Minh thì tỷ lệ này là 14,3%.

Mối liên quan giữa yếu tố chảy máu mũi và nhiễm nấm xoang không có ý nghĩa thống kê y học. Trong số 13 ca có triệu chứng nghẹt mũi, tỷ lệ cấy nấm dương tính là 7,1%. Tỷ lệ này trong nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Minh là 100%. Có sự khác biệt này chủ yếu do hai nghiên cứu cắt ngang thực hiện ở hai thời điểm khác nhau, cỡ mẫu chưa đủ lớn để tìm được điểm tương đồng về yếu tố này trong nghiên cứu.

          Có lẽ với các nghiên cứu trên, vẫn còn nhiều hạn chế vì bản thân tác nhân vi nấm gây nhiễm trùng trên nhiều cơ quan như thần kinh trung ương, tiêu hóa, hô hấp, gan thận, chứ không nhất thiết ở khâu tai mũi họng và đường tiêu hóa mà thôi. Do vậy, các thông tin trên có thể giúp chúng ta tiếp tục định hướng nghiên cứu thêm về lĩnh vực vi nấm này trên các cơ quan khác mà có thể đó là các khoảng trống trong nghiên cứu còn bỏ ngõ.

 

Ngày 10/04/2017
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang  

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên ngành của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế về các bệnh ký sinh trùng và các bệnh do véc tơ truyền, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng mới nổi như sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ, giun lươn, giun đũa chó và các bệnh thông thường khác; khám bảo hiểm y tế và xét nghiệm chẩn đoán bệnh bằng các phương tiện kỹ thuật cao như sinh hóa, huyết học, miễn dịch (ELISA), sinh học phân tử và chẩn đoán hình ảnh bằng nội soi tiêu hóa, siêu âm màu…

   Trung tâm Dịch vụ khoa học kỹ thuật của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế chuyên sản xuất mua bán hóa chất, vật tư, chế phẩm diệt côn trùng; dịch vụ diệt côn trùng gây bệnh, côn trùng gia dụng như muỗi, ruồi, gián, kiến…; dịch vụ phòng diệt mối mọt và xét nghiệm phát hiện tôm bằng các kỹ thuật hiện đại.


 KẾT QUẢ TUYỂN SINH
 CHUYÊN ĐỀ
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: Khu vực 8-Phường Nhơn Phú-Tp. Quy Nhơn- Tỉnh Bình Định.
Tel: (84) 056 3547492 - Fax: (84) 056 3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng ban biên tập: TTND.PGS.TS. Nguyễn Văn Chương - Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích