Home TRANG CHỦ Thứ 2, ngày 19/08/2019
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Finance & Retail Tin tức - Sự kiện
Trong nước
Quốc tế
Tin hoạt động của Viện
Tin vắn đáng chú ý
Điểm tin y tế
Ngày Sốt rét thế giới 25 tháng 4 (World Malaria Day)
Web Sites & Commerce Hoạt động hợp tác
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Web Sites & Commerce Chuyên đề
Web Sites & Commerce Tư vấn sức khỏe
Web Sites & Commerce Tạp chí-Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động Đảng & Đoàn thể
Web Sites & Commerce Bạn trẻ
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Trung tâm dịch vụ
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
3 8 0 9 3 1 1 6
Số người đang truy cập
1 0 1
 Tin tức - Sự kiện Trong nước
Cập nhật về thông tin sốt rét trên thế giới năm 2017-2019

Sốt rét là « Vua của các bệnh truyền nhiễm » - Với ý niệm này vốn không ngoa chút nào bởi sự tổng hòa các triệu chứng ở căn bệnh sốt rét dường như đã tồn tại từ rất lâu trên các ca bệnh và loại bệnh truyền nhiễm khác nhau. Bệnh sót rét do nhiễm ký sinh trùng Plasmodium spp., lây lan sang người qua vết đốt của muỗi sốt rét Anopheles cái bị nhiễm thoa trùng hay còn gọi là vectơ đặc hiệu sốt rét.

Đến nay, trên thế giới, các nhà khoa học công bố có ít nhất 5 loài ký sinh trùng gây bệnh sốt rét (P. falciparum, P. vivax, P. malariae, P. ovale, P. knowlesi) ở người và 2 trong số đó, loài P. falciparumP. vivax là mối đe dọa lớn nhất bởi sự tập trung với tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu ký sinh trùng tại nhiều quốc gia có bệnh lưu hành trên thế giới và Việt Nam. Năm 2017, loài P. falciparum chiếm 99,7% các ca sốt rét ước tính ở khu vực châu Phi, cũng như trong phần lớn các ca ở khu vực Đông Nam Á của TCYTTG (62,8%), Đông Địa Trung Hải (69%) và Tây Thái Bình Dương (71,9%).P. vivax là ký sinh trùng chiếm ưu thế ở khu vực châu Mỹ của TCYTTG, chiếm 74,1% các trường hợp sốt rét.


Điểm qua một số nét chính về tình hình sốt rét trên thế giới (WMR, 2018) gần đây cho thấy sốt rét là một căn bệnh đe dọa đến tính mạng do KSTSR lây truyền sang người qua vết cắn của muỗi Anophele cái bị nhiễm bệnh. Bệnh có thể phòng ngừa và chữa được. Trong năm 2017, ước tính có khoảng 219 triệu ca sốt rét ở 87 quốc gia. Số tử vong do SR ước tính ở mức 435 000 trong năm 2017.

Khu vực châu Phi của TCYTTG mang một tỷ lệ cao không cân xứng trong gánh nặng sốt rét toàn cầu. Năm 2017, khu vực này chiếm tới 92% trường hợp mắc SR và 93% trường hợp tử vong do SR. Tổng kinh phí cho Phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét (LTSR) ước tính 3,1 tỷ đô la Mỹ trong năm 2017. Đóng góp từ các chính phủ của các quốc gia và vùng lãnh thổ có bệnh lưu hành lên tới 900 triệu USD, chiếm 28% tổng kinh phí đầu tư.


Sốt rét thường là một căn bệnh có sốt cấp tính. Ở một người không hay chưa có miễn dịch, các triệu chứng sốt rét thường xuất hiện 10 -15 ngày sau khi bị muỗi nhiễm bệnh đốt và tương đối điển hình. Các triệu chứng đầu tiên gồm sốt, nhức đầu và ớn lạnh, có thể nhẹ và khó để nhận biết là sốt rét. Nếu không được điều trị trong vòng 24 giờ, sốt rét do loài P. falciparum có thể tiến triển thành bệnh nặng, thường dẫn đến tử vong (ngay cả loài P. vivaxP. knowlesi cũng có nguy cơ gây sốt rét ác tính và tử vong nếu không lưu ý đến bệnh nhân). Trẻ em bị sốt rét nặng thường phát triển một hoặc nhiều triệu chứng như thiếu máu nặng, suy hô hấp cấp liên quan đến nhiễm toan chuyển hóa hoặc sốt rét ác tính thể não (SRATTN).

Ở người lớn, suy đa tạng cũng thường xuyên xảy ra. Ở vùng sốt rét lưu hành (SRLH), người ta có thể miễn dịch một phần nào đó, cho phép nhiễm bệnh nhưng không có triệu chứng xảy ra hay các triệu chứng diễn ra thường không điển hình.

Năm 2017, gần một nửa dân số thế giới có nguy cơ mắc bệnh sốt rét. Hầu hết các trường hợp sốt rét và tử vong xảy ra ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khu vực cận sa mạc Sahara, châu Phi.


Tuy nhiên, các khu vực ở Đông Nam Á, Đông Địa Trung Hải, Tây Thái Bình Dương và châu Mỹ cũng có nguy cơ cao và có sự biến động trong 3 năm gần đây (2016-2018). Riêng trong năm 2017, tổng số 87 quốc gia, vùng lãnh thổ và khu vực có sự lan truyền bệnh sốt rét đang diễn ra. Một số nhóm quần thể có nguy cơ mắc sốt rét cao hơn đáng kể và phát triển bệnh nặng hơn những nhóm khác. Những người này bao gồm cả trẻ sơ sinh, trẻ em dưới 5 tuổi, phụ nữ mang thai (PNMT) và bệnh nhân suy giảm miễn dịch nhiễm HIV/AIDS, cũng như người di cư không miễn dịch, các quần thể dân cư di biến động và khách du lịch. Các chương trình phòng chống sốt rét quốc gia cần thực hiện các biện pháp đặc biệt để bảo vệ các nhóm quần thể dễ nhạy cảm này khỏi bị sốt rét.

Gánh nặng bệnh tật do sốt rét gây ra trên toàn cầu

Theo báo cáo SR thế giới mới nhất được phát hành vào năm 2018, có 219 triệu ca bệnh SR trong năm 2017, tăng từ 217 triệu ca trong năm 2016. Số ca tử vong do SR ước tính là ở mức 435.000 vào năm 2017. Khu vực châu Phi tiếp tục có một tỷ lệ cao không cân xứng trong gánh nặng SR toàn cầu. Năm 2017, khu vực này chiếm tới 92% số ca bệnh SR và 93% ca tử vong SR. Năm 2017, năm nước chiếm gần một nửa số ca SR trên toàn cầu gồm Nigeria (25%), Congo (11%), Mozambique (5%), Ấn Độ (4%) và Uganda (4%). Trẻ em dưới 5 tuổi là nhóm dễ bị ảnh hưởng nhất bởi SR và trong năm 2017, trẻ em chiếm 61% (266.000 ca) trong tất cả các ca tử vong do sốt rét trên toàn thế giới.

Trong hầu hết các trường hợp, bệnh sốt rét được truyền qua vết cắn của muỗi Anopheles cái. Có hơn 400 loài muỗi Anopheles khác nhau và khoảng 30 vector sốt rét có tầm quan trọng lớn. Các vector chính đốt vào thời điểm giữa hoàng hôn và bình minh. Cường độ lây truyền phụ thuộc vào các yếu tố liên quan đến KSTSR, vector, vật chủ người và môi trường.


Muỗi Anopheles đẻ trứng trong nước, nở thành ấu trùng, cuối cùng thành muỗi trưởng thành. Muỗi cái hút máu để nuôi dưỡng trứng. Mỗi loài muỗi Anopheles có tập tính sống ở nước ưa thích riêng, một số loài muỗi thích các nơi nước ngọt nhỏ, nông, như vũng nước và móng chân động vật và điều này là rất đa dạng trong mùa mưa ở các nước nhiệt đới. Sự lây truyền mạnh hơn ở những nơi mà tuổi thọ của muỗi dài hơn (KSTSR có thời gian hoàn thành sự phát triển bên trong cơ thể muỗi) và nơi nó thích cắn người hơn là các động vật khác. Tuổi thọ dài và thói quen đốt người mạnh của các loài vectơ châu Phi là lý do chính tại sao khoảng 90% các ca SR trên thế giới xuất hiện ở châu Phi.

Sự lây truyền cũng phụ thuộc vào điều kiện khí hậu có thể ảnh hưởng đến số lượng và tỷ lệ sống sót của muỗi, chẳng hạn như mô hình mưa, nhiệt độ và độ ẩm. Ở nhiều nơi, sự lan truyền là theo mùa với cao điểm trong và ngay sau mùa mưa. Dịch bệnh SR có thể xảy ra khi khí hậu và các điều kiện khác đột nhiên thuận lợi cho việc lây truyền ở những khu vực mà mọi người có ít hoặc không có khả năng miễn dịch với bệnh SR. Dịch bệnh SR cũng có thể xảy ra khi những người có miễn dịch thấp di chuyển vào các khu vực có sự lan truyền SR cao nhưlàm việc hoặc là nhóm người dân tị nạn.

Khả năng miễn dịch của con người là một yếu tố quan trọng khác, đặc biệt là ở những người trưởng thành trong các khu vực có điều kiện lây truyền vừa hoặc mạnh. Miễn dịch một phần được phát triển qua nhiều năm do phơi nhiễm với SR và trong khi nó không bao giờ cung cấp sự bảo vệ hoàn toàn, nó làm giảm nguy cơ nhiễm SR sẽ gây bệnh nặng. Do đó, các trường hợp TVSR ở châu Phi xảy ra ở trẻ em nhỏ, trong khi ở những khu vực ít lây truyền và khả năng miễn dịch thấp, tất cả các nhóm tuổi đều có nguy cơ mắc bệnh.


Phòng chống vector là cách chính để ngăn ngừa và giảm lây truyền SR. Nếu độ bao phủ của các can thiệp phòng chống vector trong một khu vực cụ thể đủ cao, thì biện pháp bảo vệ sẽ được dành cho cộng đồng. TCYTTG khuyến cáo bảo vệ cho tất cả người có nguy cơ mắc bằng cách kiểm soát vector hiệu quả. Hai hình thức kiểm soát vector, cung cấp màn tẩm hóa chất và phun hóa chất tồn lưu trong nhà có hiệu quả trong nhiều trường hợp. Nếu cộng đồng ngủ trong một màn tẩm hóa chất diệt có thể làm giảm sự tiếp xúc giữa muỗi và người bằng cách cung cấp cả hàng rào vật lý và tác dụng diệt côn trùng. Bảo vệ toàn bộ quần thể có thể dẫn đến việc tiêu diệt muỗi trên quy mô lớn, nơi có khả năng tiếp cận và sử dụng cao màn chống muỗi như vậy trong một cộng đồng.

Trong năm 2017, khoảng một nửa số người có nguy cơ mắc bệnh SR ở châu Phi đã được bảo vệ bởi một màn tẩm hóa chất, so với 29% trong năm 2010. Tuy nhiên, độ bao phủ của màn tẩm chỉ tăng nhẹ trong giai đoạn 2015-2017. Trên toàn cầu, bảo vệ cá nhân và cộng đồng bằng phương thức phun tồn lưu trong nhà đã giảm từ mức cao nhất 5% trong năm 2010 xuống còn 3% vào năm 2017, với mức giảm được thấy ở tất cả các khu vực Sự giảm độ bao phủ của phun tồn lưu trong nhà đang xảy ra khi các quốc gia chuyển từ hóa chất pyrethroid sang các lựa chọn thay thế đắt tiền hơn để giảm thiểu khả năng muỗi kháng đối với hoác chất pyrethroid.

Phun hóa chất tồn lưu trong nhà là một biện pháp hiệu quả khác để giảm nhanh việc truyền bệnh SR. Nó liên quan đến việc phun bên trong các cấu trúc nhà ở bằng hóa chất diệt côn trùng, thường là một hoặc hai lần mỗi năm. Để có được sự bảo vệ cộng đồng đáng kể, các đợt phun hóa chất nên được thực hiện ở mức độ bao phủ cao.

Thuốc sốt rét và kháng thuốc lan rộng hiện nay

Thuốc SR cũng có thể được sử dụng để ngăn ngừa bệnh SR. Đối với các khách du lịch, bệnh SR có thể được ngăn ngừa thông qua điều trị dự phòng, vì thuốc giúp ức chế giai đoạn nhiễm KSTSR trong máu, do đó ngăn ngừa bệnh SR. Đối với các PNMT sống ở các khu vực lây truyền từ vừa đến cao, TCYTTG khuyến cáo điều trị dự phòng từng đợt bằng thuốc sulfadoxine-pyrimethamine tại mỗi lần khám thai theo lịch ​​sau ba tháng đầu (lồng ghép với các chương trình khác). Tương tự, đối với trẻ em nhỏ sống ở các khu vực lan truyền cao tại châu Phi, nên sử dụng 3 liều điều trị dự phòng cách quãng bằng sulfadoxine-pyrimethamine lồng ghép với lịch tiêm chủng định kỳ.

Từ năm 2012, TCYTTG đã khuyến cáo PCSR theo mùa như là một chiến lược PCSR bổ sung cho các khu vực thuộc tiểu vùng Sahel của Châu Phi. Chiến lược này bao gồm việc sử dụng liệu trình amodiaquine plus sulfadoxine-pyrimethamine hàng tháng cho tất cả trẻ em dưới 5 tuổi trong mùa lan truyền cao.


Hóa chất và kháng hóa chất diệt côn trùng

Từ năm 2000, nhiều tiến bộ trong kiểm soát sốt rét đã có kết quả chủ yếu từ việc mở rộng việc tiếp cận tới các can thiệp kiểm soát véc tơ, đặc biệt là ở các quốc gia cận sa mạc Sahara, châu Phi. Tuy nhiên, những thành tựu này đang bị đe dọa bởi sự kháng hóa chất mới đối với hóa chất phun diệt ở muỗi Anopheles.

Theo báo cáo sốt rét thế giới mới nhất (WMR, 2018), 68 quốc gia và vùng lãnh thổ đã báo cáo khả năng kháng của muỗi ít nhất tới 1 trong 5 nhóm hóa chất thường được dùng trong giai đoạn 2010-2017 và tại các quốc gia này, 57 báo cáo đề kháng với 2 loại hóa chất trở lên.


Bất chấp sự xuất hiện và lan truyền của muỗi kháng với pyrethroid - loại hóa chất duy nhất được sử dụng trong màn ngủ, nhưng các màn tẩm vẫn tiếp tục cung cấp mức độ bảo vệ đáng kể tại hầu hết các nơi. Điều này đã được chứng minh trong một nghiên cứu lớn gồm 5 quốc gia do TCYTTG điều phối giữa năm 2011 và 2016.

Trong khi những phát hiện của nghiên cứu này rất đáng khích lệ, TCYTTG tiếp tục nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết về các công cụ mới và cải tiến trong ứng phó toàn cầu với bệnh sốt rét. Để ngăn chặn sự sụt giảm từ tác động của các công cụ kiểm soát véc tơ cốt lõi, tcyttg cũng nhấn mạnh đến nhu cầu quan trọng đối với tất cả các quốc gia có sự lan truyền sốt rét đang diễn ra để phát triển và áp dụng các chiến lược xử lý kháng thuốc trừ sâu hiệu quả.


Chẩn đoán, Điều trị và Quản lý ca bệnh

Chẩn đoán và điều trị sớm bệnh sốt rét sẽ làm giảm gánh nặng bệnh tật và ngăn ngừa các biến chứng cũng như tử vong. Nó cũng góp phần làm giảm lây truyền bệnh sốt rét. Thuốc điều trị tốt nhất sẵn có, đặc biệt đối với sốt rét do P. falciparum có liệu pháp phối hợp có thành phần artemisinin (ACTs). TCYTTG khuyến cáo tất cả trường hợp nghi ngờ mắc bệnh sốt rét phải được xác định bằng cách sử dụng xét nghiệm chẩn đoán dựa vào ký sinh trùng (hoặc bằng lam máu soi dưới kính hiển vi hoặc test chẩn đoán nhanh) trước khi tiến hành điều trị.


Kết quả xác định ký sinh trùng có thể có sẵn trong 30 phút hoặc ít hơn nếu dùng RDTs. Điều trị, chỉ dựa trên các triệu chứng chỉ nên được xem xét khi không thể chẩn đoán ký sinh trùng. Các khuyến nghị chi tiết hơn có sẵn trong "Hướng dẫn điều trị sốt rét của TCYTTG", phiên bản ba, được xuất bản vào năm 2015.

Kháng chống sốt rét là một vấn đề đang diễn ra. Sự kháng thuốc của ký sinh trùng P. falciparum đối với các thế hệ thuốc trước đây như chloroquine (CQ) và sulfadoxine-pyrimethamine (S/P), đã trở nên phổ biến trong những năm 1950 và 1960, làm suy yếu các nỗ lực kiểm soát sốt rét và đảo ngược những thành tựu về sự sống còn của trẻ em.


Bảo vệ hiệu quả các loại thuốc sốt rét là rất quan trọng để phòng chống và loại trừ sốt rét. Theo dõi thường xuyên hiệu quả của thuốc là cần thiết để thông tin về các chính sách điều trị ở các quốc gia có lưu hành sốt rét và để đảm bảo phát hiện sớm và đáp ứng với tình trạng kháng thuốc.

Vào năm 2013, TCYTTG đã phát động chiến lược ứng phó khẩn cấp đối với tình trạng kháng artemisinin (Emergency response to artemisinin resistance-ERAR) tại Tiểu vùng sông Mê Kông (GMS), một kế hoạch tấn công cấp cao nhằm ngăn chặn sự lây lan của ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc và cung cấp các công cụ cứu sống cho mọi người dân có nguy cơ mắc bệnh sốt rét. Tuy nhiên, ngay cả khi công việc này đang được tiến hành, các nhóm thuốc chống kháng bổ sung đã xuất hiện độc lập trong các khu vực địa lý mới của tiểu vùng. Song song, đã có báo cáo về việc tăng sức đề kháng với thuốc đi cùng trong viên ACTs (partner drugs) trong một số nơi. Một cách tiếp cận mới là cần thiết để theo kịp với bối cảnh sốt rét đang thay đổi.


Tại cuộc họp Đại Hội đồng Y tế thế giới vào tháng 5/2015, TCYTTG đã đưa ra Chiến lược loại trừ bệnh sốt rét ở tiểu vùng sông Mêkong (2015-2030) được tất cả các quốc gia trong tiểu vùng đồng thuận. Thúc đẩy hành động ngay lập tức, chiến lược kêu gọi loại trừ tất cả các chủng sốt rét ở người trong khu vực vào năm 2030, với hành động ưu tiên nhắm vào các khu vực nơi bệnh sốt rét đa kháng thuốc đã lan rộng nghiêm trọng.

Với hướng dẫn kỹ thuật từ TCYTTG, tất cả quốc gia trong khu vực đã phát triển các kế hoạch loại trừ sốt rét cấp quốc gia. Cùng với các đối tác, TCYTTG đang cung cấp hỗ trợ liên tục cho các nỗ lực loại trừ quốc gia thông qua chương trình Loại trừ sốt rét trong khu vực GMS Mêkong, một sáng kiến ​​phát triển từ ERAR.


Giám sát đòi hỏi phải theo dõi bệnh sốt rét và các đáp ứng theo chương trình cũng như thực hiện hành động dựa trên dữ liệu nhận được. Hiện nay, nhiều quốc gia có gánh nặng bệnh sốt rét cao có hệ thống giám sát yếu và không có khả năng đánh giá phân bố và xu hướng dịch bệnh, gây khó khăn cho việc tối ưu hóa các đáp ứng và ứng phó với dịch bệnh. Giám sát hiệu quả là cần thiết tại tất cả thời điểm trên lộ trình loại trừ bệnh sốt rét. Các hệ thống giám sát sốt rét mạnh hơn là cần thiết để cho phép ứng phó với sốt rét kịp thời và hiệu quả ở các vùng lưu hành sốt rét, để ngăn chặn dịch bệnh và sự tái diễn, theo dõi tiến bộ và giúp chính phủ và cộng đồng sốt rét toàn cầu có trách nhiệm. Vào tháng 3/2018, TCYTTG đã phát hành một tài liệu tham khảo về giám sát sốt rét, theo dõi và đánh giá bệnh sốt rét. Hướng dẫn cung cấp thông tin về các tiêu chuẩn giám sát toàn cầu và hướng dẫn các quốc gia trong nỗ lực tăng cường hệ thống giám sát.


Loại trừ sốt rét được định nghĩa là sự gián đoạn lây truyền bệnh tại chỗ của một loài ký sinh trùng sốt rét, đặc biệt trong một khu vực địa lý xác định như là kết quả của các hoạt động có chủ ý. Các biện pháp tiếp tục được đòi hỏi để ngăn chặn việc tái lan truyền bệnh. Thanh toán sốt rét được định nghĩa là giảm vĩnh viễn xuống zero tỷ lệ nhiễm mắc mới sốt rét trên toàn thế giới do ký sinh trùng sốt rét ở người gây ra như là một kết quả của các hoạt động có chủ ý. Can thiệp không còn cần thiết một khi đã đạt được thanh toán bệnh.

Các quốc gia đã đạt được ít nhất 3 năm liên tiếp không có trường hợp mắc bệnh sốt rét tại chỗ đủ điều kiện để xin chứng nhận loại trừ sốt rét của TCYTTG. Trong những năm gần đây, 9 quốc gia đã được Tổng Giám đốc TCYTTG chứng nhận đạt được loại trừ bệnh sốt rét: Ả Rập (2007), Morocco (2010), Turkmenistan (2010), Armenia (2011), Maldives (2015), Sri Lanka ( 2016), Kyrgyzstan (2016), Paraguay (2018) và Uzbekistan (2018). Khung loại trừ sốt rét của TCYTTG (2017) cung cấp một bộ công cụ chi tiết và chiến lược để đạt được và duy trì loại trừ.


Về vaccine phòng bệnh sốt rét, loại vaccine RTS, S / AS01 (RTS, S) là loại đầu tiên và cho đến nay - là loại vaccine duy nhất cho thấy sự bảo vệ một phần chống lại bệnh sốt rét ở trẻ em nhỏ. Nó hoạt động chống lại loài P. falciparum - ký sinh trùng sốt rét nguy hiểm nhất toàn cầu và phổ biến nhất ở châu Phi. Ở những trẻ em nhận được 4 liều vaccine trong các thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn, vaccine đã ngăn ngừa khoảng 4 trong 10 trường hợp mắc bệnh sốt rét trong thời gian 4 năm. Với tiềm năng sức khỏe công cộng, các cơ quan tư vấn hàng đầu của TCYTTG về bệnh sốt rét và tiêm chủng đã cùng nhau đề xuất giới thiệu vaccine theo giai đoạn tại các khu vực được lựa chọn ở vùng cận sa mạc Sahara, châu Phi.

Vaccine đang được sử dụng tại 3 quốc gia thí điểm - Ghana, Kenya và Malawi vào năm 2019. Chương trình thí điểm sẽ giải quyết một số câu hỏi quan trọng liên quan đến việc dùng vaccine trong môi trường thực tế. Sẽ rất quan trọng để hiểu cách tốt nhất để cung cấp bốn liều vaccine RTS, S cần thiết. Vai trò tiềm năng của vaccine trong việc giảm tử vong ở trẻ em và sự an toàn của nó trong bối cảnh sử dụng thường xuyên.


Chương trình phối hợp với TCYTTG này là một nỗ lực hợp tác với các Bộ Y tế ở Ghana, Kenya và Malawi và một loạt các đối tác trong nước và quốc tế, bao gồm tổ chức PATH, một tổ chức phi lợi nhuận và GSK, nhà phát triển và sản xuất vaccine.

Một số hành động đáp ứng của TCYTTG

Chiến lược Kỹ thuật toàn cầu của TCYTTG về sốt rét giai đoạn (2016-2030) được Đại Hội đồng Y tế thế giới thông qua vào tháng 5/2015 cung cấp một khung kỹ thuật cho tất cả các quốc gia có lưu hành sốt rét. Nó được sử dụng để hướng dẫn và hỗ trợ các chương trình khu vực và quốc gia khi chúng hoạt động theo hướng phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét.


Chiến lược này đặt ra các mục tiêu toàn cầu với tham vọng nhưng có thể đạt được, bao gồm:

-Giảm tỷ lệ mắc bệnh sốt rét ít nhất 90% vào năm 2030;

-Giảm tỷ lệ tử vong do sốt rét ít nhất 90% vào năm 2030;

-Loại trừ bệnh sốt rét ở ít nhất 35 quốc gia và vũng lãnh thổ vào năm 2030;

-Ngăn chặn bệnh sốt rét quay trở lại ở tất cả quốc gia không còn bệnh sốt rét.

Chiến lược này là kết quả của một quá trình tư vấn rộng rãi kéo dài 2 năm và có sự tham gia của hơn 400 chuyên gia kỹ thuật từ 70 quốc gia thành viên. Chương trình Sốt rét toàn cầu của TCYTTG (WHO/GMP) điều phối các nỗ lực toàn cầu của TCYTTG về phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét bằng cách:

·Thiết lập, truyền đạt và thúc đẩy việc áp dụng các quy tắc tiêu chuẩn, chính sách, chiến lược kỹ thuật và hướng dẫn dựa trên bằng chứng;

·Giữ điểm số độc lập về tiến bộ toàn cầu;

·Phát triển các phương pháp xây dựng năng lực, củng cố hệ thống và giám sát;

·Xác định các mối đe dọa đối với việc phòng chống và loại trừ sốt rét cũng như các lĩnh vực mới để hành động.

Chương trình này được hỗ trợ và tư vấn bởi Ủy ban Tư vấn Chính sách sốt rét (Malaria Policy Advisory Committee_MPAC), một nhóm các chuyên gia sốt rét toàn cầu được chỉ định sau một quy trình đề cử mở. Nhiệm vụ của MPAC là cung cấp tư vấn chiến lược và đầu vào kỹ thuật và mở rộng ra tất cả khía cạnh phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét, như là một phần của quy trình thiết lập chính sách minh bạch, đáp ứng và đáng tin cậy. Tại Kỳ họp của Đại Hội đồng Y tế thế giới vào tháng 5/2018, Tổng Giám đốc TCYTTG, Tiến sĩ Tedros Adhanom Ghebreyesus đã kêu gọi một cách tiếp cận mới tích cực để thu được tiến bộ nhảy vọt trong cuộc chiến chống lại sốt rét. Một đáp ứng mới do quốc gia dẫn đầu-“gánh nặng cao dẫn đến tác động cao” đã được đưa ra tại Mozambique vào tháng 11/2018.


Cách tiếp cận sẽ được thúc đẩy bởi 11 quốc gia mang gánh nặng bệnh tật cao nhất, gồm Burkina Faso, Cameroon, Congo, Ghana, Ấn Độ, Mali, Mozambique, Niger, Nigeria, Uganda và Tanzania). Các yếu tố chính bao gồm: 

1. Ý chí và cam kết chính trị sẽ làm giảm số người mắc bệnh sốt rét;

2. Thông tin chiến lược giúp thúc đẩy tác động;

3. Hướng dẫn, chính sách và chiến lược tốt hơn;

4. Một đáp ứng sốt rét quốc gia phối hợp.

Được xúc tác bởi TCYTTG và Đối tác Đẩy lùi sốt rét (Roll Back Malaria_RBM) để chấm dứt bệnh sốt rét, “ gánh nặng cao dẫn tới tác động cao”, xây dựng theo nguyên tắc không ai phải chết vì một căn bệnh có thể phòng ngừa và chẩn đoán, và căn bệnh sốt rét hoàn toàn có thể chữa được bằng các thuốc điều trị có sẵn.

TCYTTG ra mắt Hướng dẫn mới về Phòng chống vector trong bệnh sốt rét

TCYTTGấn bản một bộ Hướng dẫn toàn diện về phòng chống vector sốt rét dựa trên bằng chứng, cung cấp "một cách tiếp cận thuận lợi" (one- stop shop) cho các quốc gia và đối tác làm việc để thực hiện các biện pháp phòng chống vector sốt rét hiệu quả.


Tài liệu mới tập hợp tất cả các hướng dẫn hiện hành và cập nhật của WHO về phòng chống véc tơ sốt rét thành một dạng thân thiện với người dùng nhằm hỗ trợ mỗi quốc gia lựa chọn và thực hiện các biện pháp can thiệp hiệu quả nhất phù hợp với bối cảnh sốt rét của từng quốc gia.

Các hướng dẫn bao gồm hai công cụ phòng chống vector sốt rét quan trọg là màn tẩm hóa chất diệt (ITNs) và phun tồn lưu trong nhà (IRS) cũng như các biện pháp can thiệp bổ sung, cụ thể là triển khai các loại thuốc diệt ấu trùng bằng hóa chất hoặc sinh học và các biện pháp bảo vệ cá nhân, như dùng kem xua côn trùng và quần áo được tẩm hóa chất.

TS. Kolaczinski, Điều phối viên của Đơn vị về Côn trùng học và Phòng chống Vector của Chương trình WHO/GMP cho biết rằng những hướng dẫn này tạo ra sự thuận lợi hơn với các chương trình PCSR quy mô và các đối tác thực hiện không chỉ để phát triển các chiến lược và chính sách phòng chống vector dựa trên bằng chứng mà còn giúp hiểu rõ bằng cách nào các công cụ đặc biệt được áp dụng tùy thuộc bối cảnh cụ thể.

Các hướng dẫn mới hợp nhất hơn 20 bộ khuyến nghị của TCYTTG và các tuyên bố về thực hành tốt (GCPs) trong một tài liệu, cho phép các quốc gia lưu hành bệnh sốt rét và các đối tác phát triển biết được những gì nên thực hiện và cách thực hiện điều đó sao cho tốt. Các khuyến nghị thường dựa trên các đánh giá có hệ thống về bằng chứng được tạo ra bởi các thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên và các nghiên cứu khác, trong khi các tuyên bố thực hành tốt dựa trên ý kiến ​​chuyên gia và kinh nghiệm thực địa. TS. Kolaczinski Kolaczinski tin rằng các hướng dẫn mới cũng sẽ hỗ trợ kiểm soát sốt rét bằng cách tăng mức độ minh bạch xung quanh bằng chứng củng cố các khuyến nghị phòng chống vector của TCYTTG. Thông qua tính minh bạch cao hơn, chúng tôi hy vọng rằng các nhà sáng tạo và các đối tác nghiên cứu sẽ hiểu lý do tại sao các công cụ và can thiệp mới cần được đánh giá đầy đủ. Chúng tôi thực sự muốn tất cả các bên liên quan đến bệnh sốt rét nhận ra lợi ích của việc tiến hành nghiên cứu vững chắc, mà nhờ đó tạo ra một cơ sở bằng chứng để TCYTTG có thể phát triển các khuyến nghị. Quá trình đánh giá chuyên sâu cơ sở bằng chứng về các hướng dẫn cho phép TCYTTG xác định nơi tồn tại những khoảng trống, điều rất quan trọng để tinh chỉnh chương trình nghiên cứu cho sự phát triển liên tục của hướng dẫn.


Hướng dẫn “Guidelines for malaria vector control” của TCYTTG kêu gọi tất cả bên liên quan đến bệnh sốt rét sử dụng hướng dẫn này để cung cấp sự phản hồi liên tục, với quan điểm cải tiến và cập nhật. TS Kolaczinski lưu ý rằng những hướng dẫn này là một công việc có nhiều tiến bộ. Họ sẽ liên tục tính đến các công cụ mới, bằng chứng mới và hướng dẫn mới. Các hướng dẫn mới được phát triển bởi Chương trình WHO/GMP và được tài trợ thông qua một thỏa thuận với nguồn tài trợ chính từ Quỹ Bill & Melinda Gates.

Hướng dẫn toàn cầu dựa trên bằng chứng là cốt lõi của các chức năng thiết lập dựa trên tiêu chuẩn và quy tắc của TCYTTG cho thấy rằng bất kỳ sản phẩm thông tin nào do TCYTTG phát triển có chứa các khuyến nghị dành cho thực hành lâm sàng hoặc chính sách y tế công cộng. Các khuyến cáo của TCYTTG được thiết kế để giúp người dùng đưa ra quyết định sáng suốt về việc khi nào và làm thế nào để thực hiện các hành động cụ thể nhằm đạt được kết quả sức khỏe cá nhân hoặc tập thể tốt nhất có thể. Hướng dẫn của TCYTTG phải được xuất bản bằng các phương pháp được phê duyệt. Các hướng dẫn phải tuân theo một quy trình đảm bảo chất lượng nghiêm ngặt để đảm bảo rằng mỗi hướng dẫn được công bố đều có tác động và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế cao nhất.

Ngày 21/05/2019
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang  

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên khoa của Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn về các bệnh ký sinh trùng và các bệnh do véc tơ truyền, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng mới nổi như sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ, giun lươn, giun đũa chó và các bệnh thông thường khác; khám và xét nghiệm chẩn đoán bệnh bằng các phương tiện kỹ thuật cao như sinh hóa, huyết học, miễn dịch (ELISA), sinh học phân tử và chẩn đoán hình ảnh bằng nội soi tiêu hóa, siêu âm màu…

   Trung tâm Dịch vụ khoa học kỹ thuật của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế chuyên sản xuất mua bán hóa chất, vật tư, chế phẩm diệt côn trùng; dịch vụ diệt côn trùng gây bệnh, côn trùng gia dụng như muỗi, ruồi, gián, kiến…; dịch vụ phòng diệt mối mọt và xét nghiệm phát hiện tôm bằng các kỹ thuật hiện đại.


Tin đáng chú ý
Thông điệp về Ngày Sốt rét thế giới 25-4 (World Malaria Day)
Ngày Sốt rét thế giới-Ngày Chăm sóc sức khỏe toàn cầu (World malaria day – A day to make the world care)
 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 CHUYÊN ĐỀ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: Khu vực 8-Phường Nhơn Phú-Thành phố Quy Nhơn-Tỉnh Bình Định.
Tel: (84) 0256.3547492 - Fax: (84) 0256.3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng Ban biên tập: TTND.PGS.TS. Hồ Văn Hoàng-Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích