Home TRANG CHỦ Thứ 3, ngày 18/06/2019
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Finance & Retail Tin tức - Sự kiện
Trong nước
Quốc tế
Tin hoạt động của Viện
Tin vắn đáng chú ý
Điểm tin y tế
Ngày Sốt rét thế giới 25 tháng 4 (World Malaria Day)
Web Sites & Commerce Hoạt động hợp tác
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Web Sites & Commerce Chuyên đề
Web Sites & Commerce Tư vấn sức khỏe
Web Sites & Commerce Tạp chí-Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động Đảng & Đoàn thể
Web Sites & Commerce Bạn trẻ
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Trung tâm dịch vụ
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
3 7 3 3 8 4 4 6
Số người đang truy cập
2 0 9
 Tin tức - Sự kiện Trong nước
Tuân thủ đủ liệu trình điều trị thuốc sốt rét: thành công trong tiến tới loại trừ sốt rét tại Việt Nam

Các quốc gia trong khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông (Greater Mekong Subregion_GMS) đang thúc đẩy tiến trình chia sẻ mục tiêu tiến tới loại trừ sốt rét vào năm 2030. Trong 6 quốc gia khu vực GMS là Campuchia, Trung Quốc, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam đã đạt được nhiều thành cong đáng kể. Giữa năm 2012-2014 số ca mắc sót rét báo cáo đã giảm đi 75%, số ca tử vong giảm 93% so với với cùng kỳ. Mặc dù năm 2017 cho thấy tổng thể giảm toàn bộ số ca sốt rét trên các nước tiểu vùng sông Mê Kông, song một số vùng có số ca tăng.

Điều đáng lo ngại là ước tính trong 6 tháng đầu năm 2018 cho thấy tổng số ca trong khu vực GMS tăng lên 32% so với cùng kỳ năm ngoái. Ước tính số ca tăng chủ yếu ở một vài tỉnh của Campuchia, Việt Nam và phần lớn các ca đó là số ca do P. vivax.

Do đó, cần có tăng cường các hoạt động để tiếp tục thành quả tong khu vực. Sự gia tăng các ca bệnh gần đây có thể bị quy kết do một số yếu tố, bao gồm hết thuốc sốt rét (stock-outs of antimalarial drugs), chậm điều trị ca bệnh do thuốc điều trị P. vivax, lượng màn tẩm hóa chất không bao phủ về sử dụng và tăng các quần theerr dân di biến động đến các vùng đang có lan truyền mạnh. Các yếu tố khác như tăng độ bao phủ về xét nghiệm và thu thập đầy đủ số liệu cũng tác động lên số ca báo cáo đầy đủ nhất. Hầu hết các ca đã được báo cáo từ vùng sâu vùng xa, vùng rừng núi, nơi khó tiếp cận và nhóm người có nguy cơ dễ mắc sốt rét.

 
Hình 1. Bản đồ phấn bố ca mắc mới trên 1000 dân theo từng tỉnh của các quốc gia Tiểu vùng sông Mê Kông (WHO, 2018)

Thể ngủ (hypnozoites form) của KSTSR P. vivax, là những giai đoạn ký sinh trùng không hoạt động ở gan gây ra các đợt tái phát sau nhiều năm sau, bệnh lặp đi lặp lại gây ra bệnh thiếu máu mãn tính, có thể gây suy nhược và đôi khi đe dọa tính mạng, đặc biệt là ở trẻ em nhỏ. Sốt rét do P. vivax tái phát là trở ngại hay các thách thức kỹ thuật quan trọng đối với sự phát triển của quần thể bệnh nhân và phát triển kinh tế ở những người bị ảnh hưởng. Ở những nơi có sốt rét do P. falciparum và P. vivax cùng tồn tại, việc áp dụng các biện pháp can thệp, kiểm soát sốt rét thường có tác dụng tốt hơn đối với P. falciparum, nhưng P. vivax can thiệp thiệp ít có hiệu quả hơn.

Thuốc primaquin phosphate (PQ) là một loại thuốc được cấp phép thông dụng được biết là có hoạt tính chống lại thể ngủ của loài P. vivax . Nó cực kỳ quan trọng để ngăn ngừa tái phát và do đó làm giảm gánh nặng toàn cầu của sốt rét do P. vivax. Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) khuyến cáo tổng liều 3,5-7mg/kg PQ chia cho trong 14 ngày điều trị sốt rét do P. vivax ở những người không thiếu men glucose-6-phosphate dehydrogenase (G6PD), nhưng một liệu trình dài ngày (14 ngày) thật sự khó kiểm soát sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân, nên sẽ khó loại trừ về điều trị tiệt căn.


Hình 2

Sự cần thiết primaquine (PQ) 14 ngày điều trị thể ngủ P. vivax

Sự cần thiết của việc điều trị thể ngủ triệt để tối ưu và mạnh mẽ được tăng cường,vì hầu hết các trường hợp sốt rét cấp tính của P. vivax đều bắt nguồn từ nhiễm trùng thứ cấp, tức là từ hypnozoites chứ không phải là sporozoites. PQ vẫn là liệu pháp thuốc được Cơ Quan Quản lý Thực Phẩm và Dược Phẩm Mỹ (FDA), Bộ Y tế Việt Nam phê duyệt cho việc sử dụng trên lâm sàng.  Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một thế tiến thoái lưỡng nan về thời gian chuẩn của phác đồ PQ và mối quan hệ của nó với kết quả điều trị cũng như liều lượng PQ tích lũy hợp lý.  Một liều thuốc PQ chuẩn 15 mg/ ngày trong 14 ngày (210 mg) đã được chứng minh là có hiệu quả bảo vệ tốt hơn tới 30% so với các phương pháp điều trị PQ trong 7 ngày (105 mg) hoặc 3 ngày (45 mg). 


Hình 3

Tác giả Galappaththy GN và cộng sự (2013), tổng hợp các thử nghiệm lâm sàng trên thư viện bệnh truyền nhiễm Cochrane đến tháng 8 năm 2013, bao gồm 15 thử nghiệm lâm sàng PQ có đối chứng, có 4.377 người lớn và trẻ em tham gia. Hầu hết các thử nghiệm đều loại trừ những người bị thiếu men G6PD.

Các thử nghiệm so sánh các phác đồ khác nhau của thuốc primaquine với phác đồ PQ chuẩn, hoặc với giả dược hoặc không điều trị. Tất cả các thử nghiệm đều điều trị với liệu pháp chloroquine ngay từ đầu, các phác đồ PQ thay thế so với phác đồ 14 ngày.


Hình 4

Tỷ lệ tái phát theo dõi trong sáu tháng, phác đồ PQ 5 ngày so với phác đồ PQ 14 ngày chuẩn (RR 10,05, CI 95%, 2,82-35,86; hai thử nghiệm, 186 người tham gia, bằng chứng chất lượng trung bình), tương tự, tái phát trong vòng 6 tháng phác đồ 3 ngày cao hơn so với phác đồ 14 ngày chuẩn (RR = 3,18, CI95% , 2,1-4,81; hai thử nghiệm, 262 người tham gia, bằng chứng chất lượng vừa phải) và với PQ trong 7 ngày tiếp theo dõi hai tháng, tỷ lệ tái phát cao hơn so với primaquin 14 ngày (RR 2,24, CI95%, 1,24-4,03; mỗi thử nghiệm, 126 người tham gia, bằng chứng chất lượng thấp), trong một nghiên cứu nhỏ có đối chứng mỗi nhóm 129 người tham gia sử dụng PQ một lần trên tuần sử dụng liên tiếp trong 8 tuần so sánh với PQ trong 14 ngày, theo dõi trong 9 tháng, tỷ lệ tái phát (RR = 2,97, CI95%, 0,34-25,87, bằng chứng thấp).

Việc quan trọng hiện nay là thuốc PQ liệu trình 14 ngày vẫn là liều khuyến cáo có hiệu dụng để diệt thể ngủ (hypnozoites form) diệt thể ẩn, hay thể ngủ ngăn ngừa tái phát xa (relapse attack), đồng thời diệt cả giao bào chống lây lan trong cộng đồng. Hơn nữa, trong giai đoạn hiện nay là các nước vẫn còn tình trạng sốt rét lưu hành đang trong tiến trình tiến tới loại trừ sốt rét, nên vấn đề chỉ định và sử dụng đúng, đủ liệu trình thuốc sốt rét PQ là cần thiết và cần có sự tuân thủ của các bệnh nhân nhiễm sốt rét do P. vivax hoặc phối hợp có P. vivax. Trên thực tế cho thấy, qua nghiên cứu pilot các bệnh nhân nhiễm P. vivax được theo dõi uống phác đồ PQ 14 ngày (tổng liều 28 viên người lớn) không bao giờ dùng đủ ngày, tỷ lệ bệnh nhân dùng đủ ngày chỉ đạt 23,6-26,8%, số còn lại chỉ dùng khoảng 2-7 ngày nên không đủ để đảm bảo liệu người đó có tránh được các cơn tái phát xa hay không! 


Hình
5. Tình trạng P. falciparum kháng artemisinin lan rộngNguồn: WHO, 2018

Tương lai của primaquine phosphate: Bao lâu nó có khả năng đứng một mình?

Primaquine [8-(4-amino-1-methylbutylamino)-6-methoxyquinoline] vẫn là phương pháp điều trị duy nhất để điều trị tiệt căn P. vivax tại Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới . Tuy nhiên, đã có một số kết quả hứa hẹn cho một ứng cử viên thay thế PQ trong điều trị thể ngủ P. vivax, đó là Tafenoquine (TQ), một 8-aminoquinoline, là tương lai hứa hẹn nhất thay thế cho PQ. Thuốc TQ lần đầu tiên được tổng hợp bởi các nhà khoa học tại Viện Nghiên cứu của quân đội Walter Reed năm 1978.

Trong một nghiên cứu gần đây ở đa trung tâm ấn bản trên Tạp chí The Lancetcho biết liều duy nhất 300mg tafenoquine làm giảm nguy cơ tái xuất hiện ký sinh trùng trong vòng 6 tháng sau điều trị đến 10% so với 60% ở trên nhóm chỉ dùng đơn thuần chloroquin. Các nghiên cứu tiếp theo giờ đây đang điều tra thêm về vai trò của thuốc TQ độ an toàn và hiệu quả của thuốc như PQ.

Nó đã suy giảm trong quá trình phát triển 20 năm qua, nhưng gần đây quay trở lại với các ưu thế trong hợp chất vì nó có tiềm năng điều trị thể ngủ của P. vivax với liều duy nhất. TQ có thời gian bán hủy kéo dài từ 2 đến 3 tuần có thể dẫn đến việc chữa trị triệt để bằng một liều duy nhất, loại bỏ nhược điểm của sự không tuân thủ của bệnh nhân. Giống như thuốc PQ, thuốc TQ cũng gây ra tán huyết ở những người thiếu enzyme G6PD. Xem xét các sự kiện này, thuốc PQ sẽ không được thay thế hoàn toàn, hoặc đột ngột trên toàn cầu trong tương lai gần. 


Hình 6

Mặc dù, thuốc TQ đã được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã phê duyệt, theo đánh giá ưu tiên, Krintafel (tafenoquine) dùng một liều để điều trị triệt để (phòng ngừa tái phát) bệnh sốt rét Plasmodium vivax ở bệnh nhân trên 16 tuổi.

Một số yiếu tố đảm bảo sự tuân thủ điều trị primaquine 14 ngày cho P. vivax

Việc tuân thủ điều trị đảm bảo sự khỏi bệnh toàn của bệnh nhân và ngăn ngừa sự xuất hiện của kháng ký sinh trùng. Có một số yếu tố quyết định tuân thủ điều trị bệnh sốt rét, chẳng hạn như nhận thức về bệnh, độ phức tạp của liệu trình, chất lượng toa thuốc, hoặc cải thiện lâm sàng của bệnh nhân, ước tính việc không tuân thủ điều trị sốt rét cho là khoảng 2-40%, nhưng một nghiên cứu vùng Brazilian Amazon tỉ lệ tuân thủ điều trị phác đồ điều trị sốt rét P. vivax dưới 13,5%.

Một số phương pháp đã được dùng để đo lường sự tuân thủ điều trị từ bệnh nhân

Một số biện pháp đã được sử dụng để ước tính tuân thủ, như đếm thuốc, sử dụng thiết bị giám sát điện tử, phỏng vấn bệnh nhân trước và sau khi điều trị về liều, ngày và tần số và đo nồng độ của thuốc hoặc chất chuyển hóa trong máu. Phương pháp tự báo cáo của bệnh nhân đã được sử dụng rộng rãi và khi được cấu trúc và áp dụng đúng cách có thể cung cấp một ước tính chính xác hợp lý về tuân thủ dùng thuốc PQ.

Morisky và cộng sự đề xuất một bảng câu hỏi có cấu trúc bốn mục tự báo cáo về mẫu bệnh nhân tăng huyết áp để đánh giá sự tuân thủ của thuốc, xem xét các lỗi hoặc thiếu sót của thuốc có thể xảy ra ở bất kỳ hoặc tất cả cách khác nhau: quên, bất cẩn, ngừng thuốc khi cảm thấy tốt hơn hoặc bắt đầu dùng thuốc khi cảm thấy tồi tệ hơn. 

Kể từ đó, một số cải tiến đã được thực hiện để tăng độ tin cậy của bộ câu hỏi Morisky, cũng như đánh giá tuân thủ uống thuốc SR trên bênh nhân sốt rét.


Hình 7

Một số nghiên cứusự tuân thủ điều trị của bệnh nhân sốt rét do P. vivax

Sự thất bại của CQ và PQ trong điều trị sốt rét bởi Plasmodium vivax gần đây đã gia tăng trên toàn thế giới, sự hồi sinh ký sinh sau khi kết thúc điều trị thường liên quan đến tính kháng của các chủng P. vivax chống lại các thuốc chống sốt rét, tái phát thể ngủ ở gan, tái nhiễm hoặc thuốc có chất lượng thấp, liều lượng không đúng, tương tác thuốc, nôn mửa hoặc rối loạn tiêu hóa khác, và không tuân thủ phác đồ quy định. Nó còn là một thách thức đối với việc kiểm soát và tiêu diệt bệnh sốt rét, bởi vì việc phơi nhiễm ký sinh trùng với nồng độ thuốc trị sốt rét dưới ngưỡng điều trị có thể dẫn đến nhiễm trùng tái phát và chọn lọc các chủng kháng thuốc.


Hình 8

Không tuân thủ điều trị PQ liên quan nhân khẩu học và hành vi, như trình độ học vấn, giới tính, tuổi tác, mức độ hiểu biết về bệnh và phòng ngừa, tác dụng phụ, tương tác kém giữa bệnh nhân và người cung cấp thuốc, mất thuốc, nhận thức không hiệu quả. Một nghiên tiến cứu được tiến hành nghiên cứu về không tuân thủ điều trị sốt rét vivax trong cộng đồng nông thôn từ lưu vực sông Amazon của Brazil, Một bộ 5 câu hỏinhân khẩu học, báo cáo về việc không tuân thủ đã được phỏng vấn, bởi 135 bệnh nhân sau khi điều trị Plasmodium vivax. Nghiên cứu hiện tại nhằm đánh giá mối liên hệ giữa yếu tố không tuân thủ và nhân khẩu học và hành vi và ước tính nguy cơ tái phát ký sinh ở bệnh nhân không tuân thủ trong thời gian theo dõi.

Thời gian từ năm 2012 đến 2016, tại Cơ sở y tế cơ bản ở Anajas, bang Pará, một đô thị nông thôn trên đảo Marajo (0º59'21 "S và 49º56'24" W), nơi lây nhiễm sốt rét dữ dội, với một số biến động theo mùa trong suốt cả năm. Các nhà nghiên cứu đã tuyển chọn ngẫu nhiên người lớn bị nhiễm ký sinh trùng do P. vivax xác nhận trong số những người tự nguyện tìm kiếm sự chăm sóc tại các cơ sở y tế.


Hình 9

Bệnh nhân sốt rét phối hợp hoặc dấu hiệu và triệu chứng của sốt rét nặng, thiếu hụt glucose-6-phospate dehydrogenase (G6PD), hoặc điều trị trước đó với thuốc chống sốt rét trong 4 tuần trước đó đã được loại trừ. Mỗi đối tượng được dùng nhiều liều CQ uống (10mg/kg vào ngày 0 và 7,5mg/kg vào ngày 1 và 2) phối hợp với primaquine (0,50 mg/kg/ngày trong 7 ngày, như viên primaquine phosphate 13,2 mg).

Liều thuốc PQ được điều chỉnh theo trọng lượng cơ thể. Nhân viên y tế cộng đồng chịu trách nhiệm kê đơn và phân phối thuốc điều trị sốt rét dưới sự giám sát của nhân viên y tế. Bệnh nhân nhận được hướng dẫn cụ thể về liều điều trị hàng ngày và được khuyên nên hoàn thành quá trình điều trị. Trong nghiên cứu hiện tại, sự tuân thủ được định nghĩa là tuân theo liều lượng khuyến cáo và thời gian dùng thuốc chống sốt rét và được ước tính từ các câu trả lời (có/ không) cho bảng câu hỏi 5 nội dung:

1. Bạn đã bao giờ quên thuốc? chiếm 29,6%;

2. Bạn có bao giờ bất cẩn khi uống thuốc không? Chiếm 32,6%;

3. Bạn có bao giờ bỏ lỡ thuốc khi bạn cảm thấy khỏe hơn không? Chiếm 72,6%;

4. Bạn đã bao giờ bỏ lỡ bất kỳ loại thuốc nào của bạn bởi vì bạn cảm thấy bị nguy hiểm? Chiếm %4,8%

5. Bạn đã uống nhiều hơn 1 liều khi bạn cảm thấy bị nguyhiểm? Chiếm 20,7%.

Bệnh nhân được theo dõi bằng cách giám sát thụ động tại cơ sở y tế trong khoảng thời gian 180 ngày, và bất kỳ đợt sốt rét nào khác được xác nhận bằng kính hiển vi và trải qua quá trình điều trị tương tự như khi ghi danh.

Có sự liên quan đáng kể giữa hành vi không tuân thủ và gián đoạn điều trị khi bệnh nhân cảm thấy tốt hơn hoặc tệ hơn do thuốc. Tỷ lệ không tuân thủ cao hơn 5,16 lần đối với những bệnh nhân bỏ điều trị khi họ cảm thấy tốt hơn so với những bệnh nhân bỏ điều trị khi họ cảm thấy tồi tệ hơn do thuốc. Ngoài ra, xác suất của bệnh nhân trở nên không tuân thủ do gián đoạn điều trị cải thiện ký sinh trùng, xảy ra 48-72 sau khi bắt đầu điều trị cho các chủng P. vivax của Brazil, được đi kèm với việc ngừng các dấu hiệu và triệu chứng bệnh tật.

Sau giai đoạn này, bệnh nhân cảm thấy khỏe hơn và không tự coi mình là bệnh, thường đi kèm với sự trở lại nhanh chóng của công việc và từ bỏ việc điều trị. Hành vi này có thể được coi là yếu tố quyết định chính cho việc không tuân thủ trong đô thị này. Mặc dù các tác dụng phụ với việc sử dụng thuốc chống sốt rét có thể thúc đẩy sự không hài lòng với việc điều trị, xác suất của bệnh nhân trở nên không tuân thủ vì chúng trở nên tồi tệ hơn sau khi sử dụng thuốc chống sốt rét thấp, vì tác dụng phụ với liều điều trị CQ và PQ là nhẹ và thường có liên quan với hệ tiêu hóa, bao gồm nôn mửa và buồn nôn.


Hình 10

Một nghiên cứu hồi cứu tại, tỉnh Mae Hong Son nằm trên biên giới Thái-Myanmar ở miền bắc Thái Lan. Tiến hành hồi cứu số liệu bao gồm tất cả bệnh án của 379 bệnh nhân sốt rét vivax đã được điều trị tại 3 phòng khám ở huyện Muang và 2 phòng khám ở huyện Mae Sa Riang trong thời gian từ ngày 1 tháng 1 năm 2005 đến ngày 31 tháng 7 năm 2006. Có 206 người đủ điều kiện được đưa vào nghiên cứu. 133 (64,5%) là nam giới và 155 (75,2%) không phải người Thái bao gồm Karen (34,0%), Thái Yai (27,7%) và những người khác (3,4%); 76,2% bệnh nhân sốt rét vivax không hoàn thành đủ liệu trình uống thuốc, trong khi đó chỉ 23,8% tuân thủ phát đồ

Không tìm thấy mốiliên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân sốt rét vivax và tuân thủ thuốc, tỉnh Mae Hong Son, miền bắc Thái Lan, 2006, nhưng có sự khác biệt đáng kể trong kiến thức về bệnh sốt rét giữa nhóm tuân thủ và không tuân thủ, những người tham gia tuân thủ điều trị sốt rét của họ có nhiều khả năng hơn những người tham gia không tuân thủ điều trị để trả lời chính xác rằng muỗi đốt là nguyên nhân dẫn đến sốt rét (p = 0,015), người ta không thể mắc sốt rét bằng cách uống nước từ một dòng suối trong rừng mà các vec tơ sốt rét sinh ra trong dòng chảy chậm (p = 0,001) và hố nước đọng do dấu chân động vật trong rừng (p = 0,008) và ngủ trong màn chống muỗi (p = 0,001) và sử dụng thuốc chống muỗi (p = 0,040) có thể ngăn ngừa sốt rét.


Hình 11

Cả hai nhóm tuân thủ và không tuân thủ đều nhận ra rằng đau đầu, sốt và run rẩy là những dấu hiệu và triệu chứng phổ biến của bệnh sốt rét. Điểm nhận thức trung bình tổng thể có sự khác nhau đáng kể giữa bệnh nhân tuân thủ và không tuân thủ (p = 0,011). Những người có nhận thức tốt là 2,2 lần (95% CI 1,1-4,9) nhiều khả năng tuân thủ các thuốc điều trị sốt rét hơn những người có nhận thức kém.

Sau khi phân tầng các kết quả thành các nhóm nhận thức, nhận thức thấp và nhận thức mức độ nghiêm trọng của bệnh sốt rét không liên quan đến tuân thủ. Tuy nhiên, những người nhận biết có lợi điều trịthuốc chống sốt rét là 3,3 lần (95% CI 1,6-6,7) nhiều khả năng tuân thủ các loại thuốc hơn so với những người không nhận biết lợi ích của việc điều trị thuốc SR . Tương tự, những người có rào cản nhận thức tốt đối với thuốc điều trị sốt rét là 1,91 lần (95% CI 1,0-3,9) nhiều khả năng tuân thủ điều trị hơn so với những người có rào cản kém nhận thức.

Trong bộ câu hỏi, mô tả quyền tiếp cận thông tin của thuốc sốt rét của bệnh nhân sốt rét vivax sau khi đến phòng khám sốt rét, phân tầng theo loại tuân thủ. Chúng tôi hỏi liệu bệnh nhân có thể nhớ lại và giải thích các loại thuốc nhận được từ các nhân viên sốt rét hay không. Tỷ lệ 75,5% bệnh nhân tuân thủ (n = 37) cao hơn 55,4% bệnh nhân không tuân thủ (n = 87) cho biết dùng CQ và PQ trong 14 ngày đầy đủ (p = 0,01), có thể nhớ màu của thuốc viên (83,7% so với 52,2%, p = 0,000) và có thể hiểu rõ và nhớ nhãn và hướng dẫn (81,6% so với 57,3%; p = 0,002).Đối với các câu hỏi khác về tiếp cận thông tin, tỷ lệ này tương tự về mặt thống kê. Phân tích sâu hơn về dữ liệu cho thấy những người có khả năng tiếp cận thông tin cao về điểm thuốc sốt rét là 5,6 lần (95% CI 2,0-18,9) nhiều khả năng tuân thủ điều trị hơn những người có điểm truy cập thấp.

Sau khi điều chỉnh các yếu tố nhân khẩu học, điểm hiểu biết , điểm nhận thức và tiếp cận thông tin về điểm thuốc sốt rét, sự tuân thủ của bệnh nhân có liên quan đáng kể với điểm hiểu biết về bệnh sốt rét (OR = 2,2,CI 95% 1,1-4,5) và điểm tiếp cận thông tin về thuốc sốt rét (AOR = 5.6, CI 95%, 2.1-15.3). Bệnh nhân có số điểm nhận thức ≥38, cao hơn 1,91 lần (AOR = 1,9,CI 95% 0,9-3,8) nhiều khả năng tuân thủ hơn so với những điểm < 38 điểm nhận thức; những kết quả này không có ý nghĩa thống kê.

Tài liệu tham khảo

[1]

Kumar Rishikesh1,2 and Kavitha Saravu, "Primaquine treatment and relapse in Plasmodium vivax malaria," pathogens and global health, vol. 1, no. [10.1080/20477724.2015.1133033], p. 110, 2016.

[2]

Galappaththy GN1, Tharyan P, Kirubakaran R., "Primaquine for preventing relapse in people with Plasmodium vivax malaria treated with chloroquine," pubmed, vol. CD004389., 2013.

[3]

Huỳnh Hồng Quang. Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn, ngày 26/6/2017. Available: http://www.impe-qn.org.vn/impeqn/vn.

[4]

C. D. Schumann, "WWARN," 20 july 2018. http://www.wwarn.org/news/news-articles/krintafel-tafenoquine-approved-p-vivax-malaria.

[5]

Eduardo D Almeida, Luiz Carlos S Rodrigues, José Luiz F Vieira (2014). Estimates of adherence to treatment of vivax malaria. PMC, no. PMC4141083.

[6]

Pereira EA, Ishikawa EA, Fontes CJ (2011). Adherence to Plasmodium vivax malaria treatment in the Brazilian Amazon Region. Malar J. 2011 Dec 13; 10:355. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/

[7]

Nardlada Khantikul, Piyarat Butraporn, Somjai Leemingsawat, Sandra B. Tempongko, Wannapa Suwonkerd (2009). Adherence to Antimalarial Drug Therapy among vivax malaria patients in Northern Thailand. NCBI, 2009. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/

 

Ngày 23/01/2019
Ths.Bs. Nguyễn Đức Hồng & TS.BS. Huỳnh Hồng Quang  

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên khoa của Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn về các bệnh ký sinh trùng và các bệnh do véc tơ truyền, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng mới nổi như sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ, giun lươn, giun đũa chó và các bệnh thông thường khác; khám và xét nghiệm chẩn đoán bệnh bằng các phương tiện kỹ thuật cao như sinh hóa, huyết học, miễn dịch (ELISA), sinh học phân tử và chẩn đoán hình ảnh bằng nội soi tiêu hóa, siêu âm màu…

   Trung tâm Dịch vụ khoa học kỹ thuật của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế chuyên sản xuất mua bán hóa chất, vật tư, chế phẩm diệt côn trùng; dịch vụ diệt côn trùng gây bệnh, côn trùng gia dụng như muỗi, ruồi, gián, kiến…; dịch vụ phòng diệt mối mọt và xét nghiệm phát hiện tôm bằng các kỹ thuật hiện đại.


Tin đáng chú ý
Thông điệp về Ngày Sốt rét thế giới 25-4 (World Malaria Day)
Ngày Sốt rét thế giới-Ngày Chăm sóc sức khỏe toàn cầu (World malaria day – A day to make the world care)
 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 CHUYÊN ĐỀ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: Khu vực 8-Phường Nhơn Phú-Thành phố Quy Nhơn- Tỉnh Bình Định.
Tel: (84) 0256.3547492 - Fax: (84) 0256.3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng ban biên tập: TTND.PGS.TS. Nguyễn Văn Chương - Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích