Home TRANG CHỦ Thứ 3, ngày 11/12/2018
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Finance & Retail Tin tức - Sự kiện
Trong nước
Quốc tế
Tin hoạt động của Viện
Tin vắn đáng chú ý
Điểm tin y tế
Ngày Sốt rét thế giới 25 tháng 4 (World Malaria Day)
Web Sites & Commerce Hoạt động hợp tác
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Web Sites & Commerce Chuyên đề
Web Sites & Commerce Tư vấn sức khỏe
Web Sites & Commerce Tạp chí-Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động Đảng & Đoàn thể
Web Sites & Commerce Bạn trẻ
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Trung tâm dịch vụ
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
3 5 5 2 0 6 4 3
Số người đang truy cập
1 1 0
 Tin tức - Sự kiện Trong nước
Xét nghiệm lam máu phát hiện ký sinh trùng sốt rét trong phòng chống và loại trừ bệnh (ảnh NVH)
Khó khăn, thách thức và lộ trình loại trừ sốt rét

Hiện nay theo chỉ đạo của Bộ Y tế, các địa phương trong cả nước đang triển khai lộ trình tiến tới loại trừ bệnh sốt rét vào năm 2025 và định hướng đến năm 2030. Những khó khăn, thách thức của chiến lược phòng chống sốt rét trước đây cũng chính là những khó khăn, thách thức của chiến lược loại trừ sốt rét đang triển khai. Vì vậy cần phải khắc phục vấn đề này mới có thể thực hiện lộ trình loại trừ sốt rét có kết quả.

Sốt rét được xác định là một bệnh xã hội, vì vậy vấn đề kinh tế xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến việc triển khai chiến lược phòng chống sốt rét trước đây và loại trừ sốt rét hiện nay. Ngoài ra, sự khó khăn về nguồn lực để thực hiện biện pháp cũng làm hạn chế việc thực hiện các biện pháp của chiến lược đạt hiệu quả.

Khó khăn, thách thức về kinh tế xã hội

Qua phân tích tình hình thực tiễn, tại nước ta người dân sống trong vùng sốt rét lưu hành còn cao, chủ yếu là người nghèo; người đồng bào dân tộc thiểu số sống ở các vùng rừng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc, khu vực biên giới... Đồng thời sự gia tăng tình trạng giao lưu, đi lại của người dân qua biên giới ở giữa các quốc gia, đặc biệt với Lào và Campuchia là nơi có tỷ lệ mắc bệnh sốt rét vẫn còn cao và có ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc; cũng có thể là người lao động từ một số nước châu Phi trở về... đã làm tăng nguy cơ lan truyền sốt rét, gây dịch sốt rét. Sự gia tăng di biến động dân giữa các địa phương theo mùa vụ nông lâm nghiệp từ vùng không còn sốt rét vào vùng sốt rét lưu hành để làm kinh tế sẽ làm tăng nguy cơ mắc là lan rộng sốt rét cho cả nơi có dân đi và nơi có dân đến. Tập quán của người dân đi làm rừng, làm nương rẫy và ngủ lại qua đêm thường có tỷ lệ sử dụng màn chống muỗi và các biện pháp bảo vệ cá nhân khác còn thấp nên có nguy cơ mắc bệnh cao. Chất lượng chẩn đoán và điều trị sốt rét tại tuyến y tế cơ sở của nhiều địa phương còn thấp nên việc phát hiện và điều trị cho bệnh nhân sốt rét thường muộn, ảnh hưởng đến kết quả điều trị và phòng chống dịch. Ngoài ra, tình hình ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum kháng thuốc Artemisinin và dẫn xuất đã được phát hiện tại 5 tỉnh Bình Phước, Đăk Nông, Gia Lai, Quảng Nam và Khánh Hòa có nguy cơ lan rộng tới những địa phương khác trên toàn quốc sẽ làm hạn chế kết quả điều trị nếu không có những biện pháp khống chế kịp thời và hiệu quả. Muỗi truyền bệnh Anopheles minimus Anopheles dirus gây ra sự lây nhiễm sốt rét thay đổi tập tính thường trú đậu và đốt người ở ngoài nhà nên đã gặp nhiều khó khăn trong công tác phòng chống bằng biện pháp phun hóa chất tồn lưu diệt muỗi và tẩm màn ngủ với hóa chất diệt muỗi; sự xuất hiện của muỗi Anopheles epiroticus kháng lại với hóa chất diệt muỗi nhóm pyrethroide tổng hợp thường hay sử dụng cũng là một khó khăn gặp phải.

Khó khăn, thách thức về nguồn lực

Trong chiến lược phòng chống và loại trừ sốt rét, nguồn lực là yêu cầu quan trọng để bảo đảm việc thực hiện các biện pháp triển khai. Tuy vậy, nguồn kinh phí được cấp từ nhà nước còn hạn chế và không ổn định; trong khi đó nguồn kinh phí viện trợ của các tổ chức quốc tế và nước ngoài có xu hướng giảm nên các hoạt động phòng chống và loại trừ sốt rét gặp nhiều khó khăn. Đồng thời tổ chức mạng lưới y tế làm công tác phòng chống và loại trừ sốt rét tại tuyến cơ sở của nhiều địa phương chưa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi, đặc biệt là tại các vùng sâu, vùng xa...; vì vậy cần được củng cố và bổ sung nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu. Ngoài ra, một số vùng có số người mắc sốt rét giảm thấp hoặc không ghi nhận có trường hợp bệnh nhân sốt rét trong nhiều năm liền dẫn đến tình trạng chủ quan, không chú ý đến công tác phòng chống và loại trừ sốt rét nên không có sự quan tâm, đầu tư đúng mức về nguồn lực con người lẫn kinh phí.

Lộ trình loại trừ sốt rét

Để tiến tới loại trừ bệnh sốt rét ra khỏi cộng đồng tại nước ta trong thời gian đến với những khó khăn, thách thức về kinh tế xã hội và nguồn lực đã được nêu ở trên; mục đích yêu cầu là phải xác định lộ trình thực hiện loại trừ bệnh sốt rét của các tỉnh, thành phố phù hợp với tình hình sốt rét hiện tại và khả năng thực hiện để triển khai việc loại trừ sốt rét do nhiễm ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum vào năm 2025 và loại trừ sốt rét do nhiễm tất cả các chủng loại ký sinh trùng sốt rét trên phạm vi toàn quốc vào năm 2030.

Bộ Y tế xác định chiến lược phòng chống và loại trừ sốt rét tại nước ta thực hiện gồm 3 giai đoạn: giai đoạn phòng chống sốt rét, giai đoạn loại trừ sốt rét và giai đoạn đề phòng sốt rét quay trở lại. Các giai đoạn phòng chống và loại trừ sốt rét này được xây dựng dựa trên hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Trên cơ sở đó, lộ trình loại trừ sốt rét tại các tỉnh, thành phố được xác định căn cứ vào các yếu tố gồm: Tỷ lệ ký sinh trùng sốt rét trên 1.000 dân số vùng sốt rét lưu hành của từng huyện được tính bằng số trường hợp ký sinh trùng sốt rét trong 5 năm liền từ năm 2011 đến năm 2015. Khả năng thực hiện việc giám sát trường hợp bệnh sốt rét bao gồm phát hiện, chẩn đoán bệnh; thực hiện điều tra bệnh sốt rét trong vòng 3 ngày sau khi phát hiện; giám sát ký sinh trùng sốt rét; giám sát muỗi truyền bệnh sốt rét. Khả năng thực hiện báo cáo trường hợp bệnh cho tuyến trên trong vòng 24 giờ từ hệ thống y tế công lập và y tế tư nhân. Khả năng thực hiện giám sát ổ bệnh sốt rét như điều tra, phân loại, xử lý ổ bệnh. Khả năng đáp ứng nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ của địa phương và các nguồn hỗ trợ khác về nhân lực, kinh phí. Có sự cam kết và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ công tác loại trừ bệnh sốt rét tại địa phương theo quy định.

Với lộ trình đã xác định ở trên, trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước đến năm 2020 sẽ còn 9 địa phương ở giai đoạn phòng chống sốt rét, 26 địa phương ở giai đoạn loại trừ sốt rét và 28 địa phương ở giai đoạn đề phòng sốt rét quay trở lại; đến năm 2025 không còn địa phương nào còn ở giai đoạn phòng chống sốt rét, 8 địa phương ở giai đoạn loại trừ sốt rét và 55 địa phương ở giai đoạn đề phòng sốt rét quay trở lại. Đối với 713 quận, huyện, thị xã, thành phố của cả nước đến năm 2020 sẽ còn 32 đơn vị ở giai đoạn phòng chống sốt rét, 192 đơn vị ở giai đoạn loại trừ sốt rét và 489 đơn vị ở giai đoạn đề phòng sốt rét quay trở lại; đến năm 2025 không còn đơn vị nào ở giai đoạn phòng chống sốt rét, 26 đơn vị ở giai đoạn loại trừ sốt rét và 687 đơn vị ở giai đoạn đề phòng sốt rét quay trở lại.

Theo lộ trình này, tất cả các tỉnh, thành phố sẽ loại trừ sốt rét do nhiễm ký sinh trùng Plasmodium falciparum vào năm 2025. Một số tỉnh, thành phố còn tồn tại các chủng loại ký sinh trùng sốt rét khác như Plasmodium vivax, Plasmodium malariae, Plasmodium ovalePlasmodium knowlesi sẽ tập trung thực hiện các biện pháp phòng chống để đạt mục tiêu loại trừ hoàn toàn sốt rét tại Việt Nam vào năm 2030.

Ngày 05/12/2018
BS. NGUYỄN VÕ HINH  

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên khoa của Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn về các bệnh ký sinh trùng và các bệnh do véc tơ truyền, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng mới nổi như sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ, giun lươn, giun đũa chó và các bệnh thông thường khác; khám và xét nghiệm chẩn đoán bệnh bằng các phương tiện kỹ thuật cao như sinh hóa, huyết học, miễn dịch (ELISA), sinh học phân tử và chẩn đoán hình ảnh bằng nội soi tiêu hóa, siêu âm màu…

   Trung tâm Dịch vụ khoa học kỹ thuật của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế chuyên sản xuất mua bán hóa chất, vật tư, chế phẩm diệt côn trùng; dịch vụ diệt côn trùng gây bệnh, côn trùng gia dụng như muỗi, ruồi, gián, kiến…; dịch vụ phòng diệt mối mọt và xét nghiệm phát hiện tôm bằng các kỹ thuật hiện đại.


Tin đáng chú ý
Thông điệp về Ngày Sốt rét thế giới 25-4 (World Malaria Day)
Ngày Sốt rét thế giới-Ngày Chăm sóc sức khỏe toàn cầu (World malaria day – A day to make the world care)
 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 CHUYÊN ĐỀ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: Khu vực 8-Phường Nhơn Phú-Thành phố Quy Nhơn- Tỉnh Bình Định.
Tel: (84) 0256.3547492 - Fax: (84) 0256.3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng ban biên tập: TTND.PGS.TS. Nguyễn Văn Chương - Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích