Home TRANG CHỦ Thứ 6, ngày 19/08/2022
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Web Sites & Commerce Tin tức - Sự kiện
Web Sites & Commerce Hoạt động hợp tác
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Web Sites & Commerce Chuyên đề
Finance & Retail Tư vấn sức khỏe
Hỏi-Đáp
Y học thường thức
Kiến thức phổ thông
Web Sites & Commerce Tạp chí-Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động Đảng & Đoàn thể
Web Sites & Commerce Bạn trẻ
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Trung tâm dịch vụ
Web Sites & Commerce Thông báo-Công khai
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
4 7 4 3 1 9 6 0
Số người đang truy cập
1 1 3
 Tư vấn sức khỏe Y học thường thức
Bệnh amíp gan thường xảy ra ở những bệnh nhân có tiền sử mắc bệnh ly amíp (ảnh minh họa)
Phòng ngừa bệnh amíp gan

Bệnh amíp gan còn được gọi là bệnh áp xe gan do amíp thực tế thường gặp ở những bệnh nhân có tiền sử bị mắc bệnh lỵ amíp. Bệnh có thể xuất hiện sau nhiều tháng bị mắc bệnh lỵ amíp nhân lúc cơ thể bị mệt mỏi quá sức và ăn uống quá mức, bệnh thấy nhiều ở nam giới trong độ tuổi từ 20 đến 50, hiếm gặp ở trẻ em dưới 2 tuổi. Hiện nay môi trường sống chưa bảo đảm an toàn, việc vệ sinh ăn uống còn có nhiều hạn chế nên vấn đề phòng bệnh amíp gan từ bệnh lỵ amíp cần được quan tâm phòng ngừa.

Các thể lâm sàng của bệnh amíp gan và biến chứng

Bệnh amíp gan trên thực tế có thể gặp các thể bệnh khác nhau như thể cấp tính, thể bán cấp tính, thể mạn tính giả u gan, thể tối cấp tính và thể vàng da.

Thể cấp tính: Chiếm tỷ lệ khoảng 60 - 70% các trường hợp. Bệnh khởi đầu với triệu chứng sốt đột ngột hoặc từ từ, sốt kéo dài khoảng 3 - 4 ngày và sốt cao có thể tới 39 - 40oC; rét run, nhức đầu, mệt mỏi, đau dữ dội rồi đau âm ỉ ở vùng hạ sườn phải, đau lan tỏa có khi đến tới mỏm xương bả vai phải; buồn nôn, nôn, đầy bụng; thời gian này kéo dài khoảng 5 - 6 ngày tới vài tuần. Tiếp theo là giai đoạn toàn phát với tam chứng gan đau, sưng to và sốt: gan tự nhiên bị đau tức, đau tăng lên khi rung gan, đau nhói khi ấn kẽ liên sườn đối xứng; gan to xuống dưới bờ sườn phải khoảng 1 - 2 khoát tay hoặc hơn; sốt cao trên 38,5oC chiếm tỷ lệ khoảng 70% các trường hợp và mang tính liên tục hoặc dao động làm ảnh hưởng đến sức khỏe toàn thân, cơ thể bị gầy sút. Ngoài ra còn có các biểu hiện triệu chứng khác như bạch cầu tăng cao khoảng 15.000 - 20.000/mm3 máu, chủ yếu là bạch cầu đa nhân trung tính; tốc độ lắng màu tăng, trung bình 50 mm giờ đầu. Bệnh có thể diễn biến nặng khi áp xe gan thông lên màng phổi, lên phổi hoặc vỡ vào trong ổ bụng.

Thể bán cấp tính: Chiếm tỷ lệ khoảng 15 - 20%. Khởi bệnh bắt đầu như thể cấp tính nhưng diễn biến kéo dài trong thời gian nhiều tuần hoặc nhiều tháng, dấu hiệu các đợt giảm sốt, giảm đau tức ở gan xen kẽ với các đợt tiến triển của bệnh. Bệnh có thể đột ngột chuyển thành thể cấp tính.

Thể mạn tính giả u gan: Thể bệnh này ít gặp, chiến tỷ lệ khoảng 3 - 10%. Bệnh có thể xảy ra tiếp theo sau thể bán cấp tính với triệu chứng gan to, không đau, nhẵn, chắc. Chọc thăm dò thấy ra mủ. Nhiệt độ cơ thể tăng giảm bất thường, có dấu hiệu thiếu máu, gầy, da sạm khô, bóng, có vảy, công thức bạch cầu và tốc độ lắng máu bình thường.

Thể tối cấp tính: Đây là một thể bệnh không điển hình, chiếm tỷ lệ khoảng 1 - 3%, thường gặp ở bệnh nhân có sức đề kháng giảm, kiệt sức, phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 2 tuổi. Triệu chứng tại chỗ và toàn thân rất nặng với biểu hiện sốt cao, rét run hoặc nhiệt độ hạ, vã mồ hôi, đi tiểu ít, có khi vàng da, đau dữ dội ở vùng hông phải, nôn không kìm hãm được, bụng đầy, đau lan khắp bụng, có phản ứng thành bụng; tiếp theo đó toàn thân bị suy sụp nhanh chóng, kiệt sức, mạch nhanh và nhỏ; bệnh nhân có thể tử vong sau 2 tuần.

Thể vàng da: Cũng là một thể bệnh không điển hình. Bệnh nhân có nhiều ổ áp xe nhỏ được hình thành ở trong gan.

Biến chứng của bệnh amíp gan là có thể di căn lên trên cơ hoành để tạo nên áp xe phổi, áp xe màng phổi, viêm màng ngoài tim; đồng thời có thể di căn xuống dưới cơ hoành gây viêm màng bụng, viêm thận. Đôi khi có thể có biến chứng chảy máu ồ ạt, hoại tử gây nguy cơ tử vong.

 

Về lâm sàng, bệnh nhân có triệu chứng đau tức gan, đau có thể lan lên bả vai phải
(ảnh minh họa)
 

Chẩn đoán bệnh amíp gan

Về lâm sàng, bệnh nhân có triệu chứng đau tức gan, đau có thể lan lên bả vai phải; gan sưng to toàn bộ hoặc một thùy phải hay trái; sốt cao và dao động, kéo dài. Về cận lâm sàng thấy bạch cầu tăng, tốc độ lắng máu tăng; ngoài ra có thể thấy qua X quang phần phổi ở vòm hoành phải cao, vận động cơ hoành phải hạn chế, có dấu hiệu đầy xoang màng phổi phải; nếu siêu âm, chụp lấp lánh phát hiện vị trí khoang lỏng của áp xe gan; làm xét nghiệm có thể thấy amíp trong phân và trong mủ, chọc hút ít khi cho kết quả amíp dương tính với tỷ lệ thấp khoảng 5 - 10%. Về huyết thanh, với phương pháp ngưng kết latex, khuếch tán trên thạch, điện di đối pha nhất là ngưng kết hồng cầu thụ động, miễn dịch huỳnh quang gián tiếp, men miễn dịch Elisa nhạy sẽ cho kết quả dương tính cao. Ngoài ra, việc điều trị thử bằng thuốc đặc hiệu cho kết quả tốt cũng cho phép chẩn đoán xác định bệnh dương tính.

Lưu ý cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác để tránh nhầm lẫn như: Áp xe gan đường mật với triệu chứng bắt đầu đột ngột, sốt cao, hay gặp vàng da, bilirubin trong máu tăng, có nhiều ổ áp xe, chọc hút mủ hôi thối, cấy tìm được vi khuẩn gây mủ. Ung thư gan thường có tiền sử viêm gan, xơ gan, gan to nhanh, sức khỏe bị ảnh hưởng xấu; ngoài ra việc soi ổ bụng và dùng phương pháp sinh thiết cũng giúp thêm cho việc chẩn đoán.

Điều trị và phòng bệnh

Về điều trị nội khoa, nên sử dụng các loại thuốc đặc hiệu điều trị amíp ký sinh tại mô tế bào gan bao gồm emetine chlorhydrate, dehydroemetine, chloroquine diphosphate, metronidazole, secnidazole, tinidazole... Đối với bệnh amíp gan, các nhà khoa học khuyến cáo nên sử dụng sớm thuốc điều trị đặc hiệu ngay từ khi viêm gan amíp chớm hình thành áp xe, có thể dùng metronidazole phối hợp với chloroquine hoặc phối hợp với emetine hay dehydroemetine. Hiện nay việc chỉ định can thiệp bệnh amíp gan bằng ngoại khoa rất hạn chế, chỉ thực hiện trong các trường hợp chọc hút mủ hoặc phẫu thuật khi áp xe lớn, đe dọa vỡ hoặc đã có biến chứng như vỡ, xuất huyết vào ổ bụng, màng phổi và phổi.

Về dự phòng, cần có biện pháp điều trị hiệu quả bệnh nhân mắc bệnh lỵ amíp, điều trị người lành mang ký sinh trùng amíp. Những trường hợp xảy ra bệnh lỵ, bệnh tiêu chảy ở một nơi nào đó cần phải có chẩn đoán sớm về xét nghiệm cận lâm sàng, đồng thời điều tra nguồn bệnh, phương thức lây truyền... để sớm xử lý biện pháp phòng chống bệnh. Tiến hành các biện pháp vệ sinh phòng bệnh như bảo vệ nguồn nước uống công cộng, chống ô nhiễm phân, nước và rác; phái ăn uống hợp vệ sinh, bảo vệ thức ăn, chống ô nhiễm từ ruồi nhặng lây lan mầm bệnh, truyền thông giáo dục sức khỏe giữ gìn vệ sinh tập thể và cá nhân, chỗ ở và nhà cửa phải sạch sẽ...

 

  (ảnh minh họa) 

Lời khuyên của thầy thuốc

Như trên đã nêu, bệnh amíp gan còn được gọi là bệnh áp xe gan do amíp thực tế thường gặp ở những bệnh nhân có tiền sử bị mắc bệnh lỵ amíp. Có thể nói hiện nay bệnh amíp là một bệnh ký sinh trùng vẫn còn có khả năng lưu hành phổ biến tại nước ta gây ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng người dân, trong đó có cả bệnh lỵ amíp và bệnh amíp gan. Vì vậy khi phát hiện người bệnh bị mắc bệnh lỵ amíp phải điều trị tích cực bằng các loại thuốc chống amíp đặc hiệu để hạn chế những di chứng và biến chứng cho bệnh nhân, chủ động ngăn ngừa bệnh amíp gan được hình thành từ bệnh lỵ amíp.

Ngày 20/10/2017
TTƯT.BS. NGUYỄN VÕ HINH  

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên khoa của Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn khám bệnh tất cả các ngày trong tuần (kể cả thứ 7 và chủ nhật)

   THÔNG BÁO: Phòng khám chuyên khoa Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn xin trân trọng thông báo thời gian mở cửa hoạt động trở lại vào ngày 20/10/2021.


 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 CHUYÊN ĐỀ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: Khu vực 8-Phường Nhơn Phú-Thành phố Quy Nhơn-Tỉnh Bình Định.
Tel: (84) 0256.3547492 - Fax: (84) 0256.3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng Ban biên tập: TTND.PGS.TS. Hồ Văn Hoàng-Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích