Home TRANG CHỦ Thứ 7, ngày 23/03/2019
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Web Sites & Commerce Tin tức - Sự kiện
Web Sites & Commerce Hoạt động hợp tác
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Web Sites & Commerce Chuyên đề
Web Sites & Commerce Tư vấn sức khỏe
Web Sites & Commerce Tạp chí-Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động Đảng & Đoàn thể
Finance & Retail Bạn trẻ
Nhịp sống trẻ
Công nghệ số
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Trung tâm dịch vụ
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
3 6 2 7 4 8 6 8
Số người đang truy cập
1 3 2
 Bạn trẻ Công nghệ số
Phần 4: Công nghệ nano đã và đang được ứng dụng trong y dược học

Tiểu phân nano Dendrimer

Các dendrimer được mong đợi sẽ là một trong những nền tảng thuốc nano hữu ích hơn cho đến nay. Chúng bao gồm các monome lặp đi lặp lại tập trung xung quanh một lõi trung tâm. Cấu hình này cho phép các chất mang hoạt tính dược lý được bọc trong khoang bên trong hoặc được liên kết với bề mặt tiểu phân nano. Có thể kiểm soát chính xác nhiều đặc tính tiểu phân nano quan trọng khi tạo các dendrimer, bao gồm hình dạng, kích thước, tính phí, tính chất bề mặt và thành phần. Các dendrimer cũng có thể bao gồm các tiểu đơn vị chức năng hoạt động như các phương tiện vận chuyển thuốc.

Có rất nhiều thông tin trong các tài liệu tiền lâm sàng để hỗ trợ việc sử dụng các nền tảng dendrimeric trong thuốc nano. Các dendrimer đã được sử dụng thành công cho các dạng công thức thuốc nano dùng ở nhiều đường, bao gồm qua da, tiêm tĩnh mạch, uống, trực tràng, và âm đạo. Nhiều hợp chất thuốc dựa trên dendrimer dự kiến sẽ bước vào giai đoạn thử nghiệm lâm sàng giai đoạn sớm trong vài năm tới. Nhiều đường dùng của các các hạt nano dựa trên dendrimer làm cho nó có khả năng là một trong số các thuốc này sẽ được FDA chấp thuận.

DTXSPL8783, một dendrimer điều trị ung thư, đang được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng; một nghiên cứu pha 1 của thuôc này đang được tiến hành ở bệnh nhân ung thư tiến triển. Một hợp chất kháng virus / kháng sinh dendrimeric Vivagel (Starpharma), đang trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng cho nhiễm khuẩn âm đạo (BV). Thuốc nano này kết hợp nhóm naphthalene disulfonat trên bề mặt của dendrimer. Dữ liệu pha 2 đã chỉ ra tỷ lệ chữa bệnh lâm sàng và bệnh lý cao của BV, được minh chứng lần lượt bằng cải thiện triệu chứng và các kết quả xét nghiệm rõ ràng.


Hình 48

Tuy nhiên, dữ liệu pha 3 đã tập trung, với tỷ lệ cải thiện triệu chứng cao nhưng tỷ lệ chữa bệnh trong phòng thí nghiệm lâm sàng được quan sát thấp hơn. Vivagel cũng đã thể hiện hoạt tính mạnh trong ống nghiệm chống lại virus HIV và virus Herpes simplex. Các nghiên cứu pha 1 đã chỉ ra rằng sử dụng dạng thuốc nano ở âm đạo được dung nạp tốt và hoạt tính kháng virus được giữ lại bằng dịch cổ tử cung ở hầu hết các bệnh nhân lên đến 24 giờ sau khi uống.

Vivagel có sẵn ở Úc là một chất bôi trơn bao cao su.

Thách thức đối với sự phát triển thuốc nano

Các thuốc nano là một trọng tâm chính của nghiên cứu dược phẩm trong thập kỷ qua, tạo ra những thách thức mới cho các nhà khoa học, công nghiệp và quản lý. Dưới đây thảo luận về một số vấn đề khó khăn mà các bên liên quan phải đối mặt như sau:


Hình 49

Tiều phân nano (NP) cần được phân loại thêm

Một thách thức đáng kể cho sự phát triển của các thuốc nano là đặc tính của vật liệu nano mới đối với khía cạnh an toàn và độc tính. Một số lượng lớn dữ liệu đã tích lũy liên quan đến liposom, polyme và micell; Tuy nhiên, rất nhiều khả năng liên quan đến công thức và ứng dụng đòi hỏi độc tính của mỗi sản phẩm mới hoặc sản phẩm phức tạp cần được cụ thể. Để tránh sự phát sinh của các tác dụng phụ không thể đoán trước, các đặc tính của các sản phẩm này cần được hiểu rõ trước khi được đưa ra thị trường. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, nghiên cứu quan trọng vẫn cần phải được tiến hành để có thể hiểu và dự đoán các NP sẽ ảnh hưởng đến các hệ sinh học như thế nào, bao gồm cả việc phát triển các xét nghiệm mới mà sự có mặt của NP không can thiệp vào.

Các nhà nghiên cứu vẫn đang tìm ra các mối quan hệ cấu trúc-chức năng liên quan đến NP và đặc điểm của chúng (ví dụ, chi phí, thành phần, kích thước, hình dạng, lớp phủ bề mặt, kiến trúc phức tạp) ảnh hưởng đến hệ sinh học. Mô tế bào dễ dàng lấy NP qua cơ chế thụ động và hoạt động. Tuy nhiên, các thuốc nano có khả năng tương tác với nhiều loại tế bào, cơ quan và mô trên đường từ vị trí dùng thuốc đến đích. Chúng có thể ảnh hưởng đến hiệu ứng đông máu, hoạt hóa bổ thể, hệ thống miễn dịch tương ứng, kích hoạt thực bào và các đáp ứng không mong muốn khác.


Hình 50

Một số công thức nano cũng có thách thức đối với việc kiểm soát giải giải phóng thuốc và phân phối sinh học. Ngoài ra, mối quan tâm tồn tại liên quan đến các tác động sinh lý của NP đó là không dễ dàng phân hủy sinh học. Do những mối quan tâm này, các thuốc nano cần phải được kiểm tra để chứng minh Tỷ lệ nguy cơ - an toàn và đạt được sự phê chuẩn theo quy định. Ngoài các nghiên cứu độc tính chung, nó có thể hữu ích cho các thành phần NP riêng lẻ, được sử dụng trong xét nghiệm in vitro để đo hoạt tính sinh học và độc tính.

Các nỗ lực đã được thực hiện để vượt qua thách thức về đặc yinhd của các tiểu phân nano bằng cách hoàn thiện các nghiên cứu tiền lâm sàng trong nhiều mô hình sinh học và lựa chọn cẩn thận các chỉ định cho phát triển lâm sàng.


Hình 51

Tuy nhiên, các giao thức cụ thể để mô tả các thuốc nano ở mức sinh hóa và sinh lý/sinh học vẫn còn thiếu. Trên thực tế, đối với một số tác nhân, việc thiếu các giao thức chuẩn để kiểm tra độc tính trong giai đoạn đầu nghiên cứu đã góp phần vào sự thất bại trong các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn cuối. Sự thiếu hụt các giao thức chuẩn đã lamd thất vọng và phức tạp các nỗ lực nghiên cứu để xác định độc tính của các thuốc nano.

Trong khi chờ đợi, các nỗ lực đã được thực hiện để đo lường hoạt tính PD của việc nhắm đích thông qua các nghiên cứu hình ảnh; những nỗ lực như vậy trong các nghiên cứu lâm sàng sớm có thể làm giảm nguy cơ liên quan đến phát triển giai đoạn sau. Các tiêu chuẩn về đặc tính hóa chưa được xác định mặc dù có nhiều nỗ lực.

Cần có sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa các cơ quan quản lý, nhưng những nỗ lực chính đã được thực hiện. Có lẽ đáng chú ý nhất là FDA đã công bố các hướng dẫn về tầm quan trọng của đặc tính vật liệu nano bao gồm các tiêu chuẩn mới cho mục đích này. Những nỗ lực này có thể sẽ dẫn đến sự sẵn có các dữ liệu tốt hơn về độc tính của vật liệu nano.Dữ liệu chứng minh tính chất hóa lý, hiệu quả, và độc tính của một thuốc nano sau đó có thể được biên dịch thành một ứng dụng IND cho FDA xem xét và phê duyệt. 


Hình 52

Phòng thí nghiệm Đặc tính Công nghệ nano (NCL), được thành lập bởi Viện Ung thư Quốc gia, cũng đã công bố tài liệu về các nền tảng sáng tạo cho sự phát triển của các thuốc nano để điều trị ung thư. Các nhà nghiên cứu có thể gửi các vật liệu nano tới NCL để chúng được kiểm tra và xác nhận theo một loạt các protocol mới.

Vấn đề an toàn

Không thể đưa ra một tuyên bố tổng quát về sự an toàn của các thuốc nano vì chúng kết hợp nhiều loại NP và vật liệu. Tuy nhiên, các báo cáo đã được xuất bản về xu hướng của một số NP để biểu thị độc tính. Các ảnh hưởng độc hại đã được quan sát ở cấp độ phân tử, tế bào, hoặc mô. Là một NP di chuyển qua cơ thể, nó có thể được tiếp xúc với các môi trường sinh học khác nhau, bao gồm cả tế bào chất, chất nền ngoại bào, bào quan tế bào và máu. Tùy thuộc vào kích thước và tính chất hóa lý, NPs đã được biết đến hấp thu protein huyết tương và tương tác với các tế bào miễn dịch.

Hoạt tính oxy hóa / gốc tự do của một số NP cũng có thể gây độc tính trên gen. Tương tác trên bề mặt của NP sinh học có thể ảnh hưởng tới chức năng cơ quan. Một số nghiên cứu đã báo cáo tình trạng viêm ở gan, phổi và não do stress oxy hóa do NP gây ra. Một số NP cũng đã được quan sát thấy trong nghiên cứu in vitro và in vivo qua được hàng rào máu não sau khi dùng đường tiêm tĩnh mạch, gây độc trên hệ thần kinh. Các cơ quan bị ảnh hưởng nhiều nhất là các cơ quan có tích lũy nồng độ NP cao nhất. Viêm phổi đã được quan sát thấy sau khi dùng ống nano cacbon thông qua quá trình đặt nội khí quản. 

Các hạt NP lipid tích điện dương trong máu cũng đã được tìm thấy là gây độc cho gan sau khi tiêm tĩnh mạch, điều này được chứng minh dựa trên sự gia tăng nồng độ men gan trong máu. Bằng chứng cũng cho thấy rằng cấu trúc NP có thể có hoạt động điều hòa miễn dịch mạnh. Các NP đã được quan sát gây ra cả hoạt hóa miễn dịch và ức chế miễn dịch. Kiểm soát các đặc tính miễn dịch của NP  là một trong những khía cạnh quan trọng nhất cần thiết cho việc sử dụng an toàn chúng.


Hình 53

Tác dụng độc hại đã được báo cáo thường xuyên hơn đối với một số loại NP so với các loại khác. Ví dụ, các NP có gốc carbon đã chứng minh độc tính trong một số nghiên cứu in vitro và in vivo; tuy nghiên kết quả còn nhiều tranh cãi. Các cơ chế được cho là chịu trách nhiệm về độc tố ống nano cacbon bao gồm stress oxy hóa, phản ứng viêm, xơ hóa kẽ, hình thành u hạt, chuyển hóa ác tính và đột biến DNA (sai sót nhiễm sắc thể và sự gián đoạn của trục chính). Các ống nano cacbon cũng đã được quan sát gây ra u trung biểu mô, một tình trạng liên quan đến amiăng, một chất gây ung thư, chất xơ khoáng chất tự nhiên. Người ta cho rằng tác dụng độc hại của ống nano cacbon có thể là hậu quả của dạng thù hình hơn là vật liệu, chứng minh rằng độc tính NP có thể phụ thuộc vào hình thái tiểu phân.

Khả năng tương thích sinh học cũng đã được tìm thấy phụ thuộc vào kích cỡ NP. NP vàng với đường kính 1,4 nm đã được tìm thấy là độc hại, trong khi đường kính 15 nm là không. Tuy nhiên, các nghiên cứu khác cho thấy Các hạt nano vàng phủ glycol kích thước 10-nm và 60-nm có độc tính cao trong các mô hình động vật (gây ra tăng nồng độ aspartate và alanine transaminase), trong khi những mẫu đo 5 nm và 30 nm được coi là đủ an toàn cho các ứng dụng y khoa.

NP vàng cũng có thể độc hại khi sử dụng liều cao hoặc trong một thời gian dài vì chúng có xu hướng tích tụ trong máu và mô do tỷ lệ giải phóng thấp. NP vàng cũng có thể ảnh hưởng đến chức năng tế bào thông qua ái lực của chúng đối với DNA. Những phơi nhiễm cấp tính và mạn tính với tiểu phân nano vàng cũng làm thay đổi biểu hiện gen.

Các hạt nano kim loại khác cũng biểu hiện độc tính gây độc tế bào, chẳng hạn như hạt nano oxit sắt và  bạc. NP oxit sắt đã chứng minh tác dụng có hại trong ống nghiệm và in vivo do tạo ra các loại oxy phản ứng. Các NP vô cơ, không phân hủy sinh học, chẳng hạn như kim loại hoặc NP từ tính, có thể tồn tại trong môi trường trong thời gian dài, gây tiếp xúc lâu dài cho người và động vật với những vật liệu này với hậu quả không rõ.  Vì chúng được bao gồm trong nhiều sản phẩm làm sạch, Viện Khoa học Y tế Môi trường Quốc gia đang nghiên cứu ảnh hưởng của NP bạc lên đáp ứng miễn dịch, phổi và sự hấp thu của chúng vào máu do những lo ngại về an toàn của người tiêu dùng.


Hình 54

Mặc dù các tính chất độc hại có liên quan đến một số NP, điều này không nhất thiết ngăn cản chúng được sử dụng trong các ứng dụng y khoa. Các tính chất độc hại của NP có thể được khai thác cho các mục đích tích cực, chẳng hạn như sử dụng độc tố mô để loại bỏ mô bệnh hoặc cảm ứng miễn dịch để sử dụng có lợi trong liệu pháp miễn dịch ung thư. Ngoài ra, các tác động có hại của NP thường có thể bị giảm thông qua sửa đổi bề mặt; ví dụ, NP có lớp phủ oxit sắt với một polymer đã được chứng minh để cải thiện khả năng tồn tại của tế bào đáng kể.

Mặc dù các NP có thể giúp giảm thiểu hoặc loại bỏ nhiều thách thức được quan sát với các loại thuốc được xây dựng theo quy ước, chúng có những hạn chế và nguyên nhân riêng. Trên thực tế, sau khi nhận được sự chấp thuận của FDA, một số thuốc nano đã được rút khỏi thị trường do những lo ngại về an toàn (ví dụ, Feruglose và Resovist). Do đó, sau sự chấp thuận của FDA, các nghiên cứu sau khi thương mại hóa pha 4 nên được tiến hành để đánh giá thêm những rủi ro liên quan đến thuốc nano.

Thiếu các hướng dẫn quản lí cụ thể

Môi trường pháp lý cho thuốc nano đã được thử thách vì một số vấn đề chính. Hiện nay, quy trình phê duyệt của FDA đối với thuốc nano về cơ bản giống như đối với bất kỳ loại thuốc hoặc chế phẩm sinh học nào khác. Kiểm tra tiền lâm sàng của thuốc nano thường bao gồm nghiên cứu trên động vật để chứng minh hiệu quả, phạm vi an toàn và liều. Sau khi FDA phê chuẩn IND, các thử nghiệm lâm sàng được bắt đầu để xác định độ an toàn và hiệu quả ở người. Các thử nghiệm này được tách thành pha 1 (liều, độc tính và thải trừ ở các đối tượng khỏe mạnh), pha 2 (an toàn và hiệu quả trong các đối tượng với bệnh mục tiêu), và pha 3 (thử nghiệm ngẫu nhiên, giả dược, đa trung tâm). Một khi các thử nghiệm này được hoàn thành, một thuốc mới có thể được nộp FDA để yêu cầu phê duyệt thuốc nano. Sau khi phê duyệt, các nghiên cứu pha 4 có thể được thực hiện theo yêu cầu của FDA, các chuyên gia chăm sóc sức khỏe, hoặc các tổ chức khác.

Trong tháng 6 năm 2014, FDA đã ban hành bốn tài liệu hướng dẫn (một bản thảo và ba bản chính thức) cho ngành công nghiệp liên quan đến việc sử dụng công nghệ nano trong các sản phẩm do FDA quản lý, bao gồm cả thuốc nano và nano sinh học. Các tài liệu hướng dẫn đã được phát hành khuyến khích các nhà sản xuất tham khảo ý kiến của FDA sớm trong quá trình phát triển sản phẩm liên quan đến quy định cụ thể và các vấn đề khoa học được xem xét liên quan đến sản phẩm công nghệ nano. Tư vấn này cũng được khuyến khích để giải quyết các câu hỏi liên quan đến hiệu quả, an toàn, tác động đến công chúng, và/ hoặc tình trạng pháp lý của sản phẩm. Do đó, trừ khi phát hiện cụ thể đảm bảo xem xét đặc biệt cho một sản phẩm cụ thể, sự phát triển của các thuốc nano tuân theo loại thuốc điển hình Tuy nhiên, cách tiếp cận này để điều chỉnh thuốc nano đã được đặt ra. 


Hình 55

Những người chỉ trích nói rằng thay vì thích nghi và áp dụng các quy định hiện hành, FDA nên thiết lập các hướng dẫn quy định cụ thể áp dụng cho các sản phẩm nano y học, đặc biệt là vì an toàn và độc tính của nhiều vật liệu nano có không được đặc trưng đầy đủ.

Cân nhắc chi phí - hiệu quả

Việc đầu tư và quan tâm đến nano y học trên toàn thế giới đã tăng dần vào đầu những năm 2000 và vẫn đang tiếp tục. Vì những nỗ lực này, những thuốc nano mới đã có sẵn trên thị trường. Các thuốc phức tạp, hiệu quả này được phát triển do sự gia tăng đầu tư tài chính và hợp tác giữa các ngành công nghiệp, khoa học, chính phủ để tích hợp nhiều ngành công nghệ.

Các thuốc nano có giá trị dự kiến sẽ được phát triển vào năm 2019 với ước tính là 178 tỷ đô la. Doanh thu của Abraxane cho một số chỉ định ung thư được ước tính là 967 triệu đô la, làm cho nó trở thành một trong những thuốc nano bán chạy nhất trên thế giới.

Tuy nhiên, dù một số dược phẩm nano thành công, các thách thức về tài chính vẫn cản trở sự phát triển của các thuốc này. Chứng minh hiệu quả và an toàn đầy đủ để được phê duyệt quy định không hề dễ dàng, đặc biệt khi các sản phẩm khác có mặt trên thị trường với những chỉ định tương tự. Trong thực tế, một tính năng phổ biến trong số hầu hết các thuốc nano được phê duyệt (khoảng 77%) là một công thức thông thường của thuốc đã được phê duyệt. Bởi vì hiệu quả và an toàn của các thành phần hoạt chất đã được thành lập, quyết định phát triển các thuốc nano liên quan đến giảm rủi ro tài chính so với một thực thể hóa học mới (NCE).

Xem xét kinh tế phức tạp hơn có liên quan khi phát triển một thuốc nano có chứa NCE, chẳng hạn như mức đầu tư cần thiết để hỗ trợ phát triển và sản xuất hóa chất, sản xuất, kiểm soát phát triển và sản xuất. Thiết bị tùy chỉnh, thiết bị sản xuất và / hoặc cơ sở có thể cản trở chi phí một số công ty hoặc có thể yêu cầu các chiến lược đầu tư từng bước phụ thuộc vào việc đạt được mục tiêu phát triển lâm sàng. Đầu tư cần thiết cho sự phát triển của một thuốc nano liên quan đến NCE cũng phải được đánh giá đối với rủi ro tổng thể so với các cơ hội phát triển thuốc khác. Khoảng 23% các thuốc nano đã được phê duyệt có liên quan đến NCE, công thức nano có thể cần thiết vì các loại thuốc thông thường không thành công do khả năng hòa tan kém trong nước.


Hình 56

Trừ khi một phương thức tạo nano chứng minh sự cải tiến so với các công thức có sẵn với các thành phần hoạt chất tương tự, nó là vấn đề cho dù thuốc sẽ có được phê duyệt. Các công thức nano của các loại thuốc thông thường hiện có không phải luôn luôn đáp ứng các tiêu chí này. Công thức nano liposom cisplatin (Li-PlaCls, lipoplatin , L-NDDP, và SPI-77) ít độc tính hơn cisplatin tự do nhưng không thể chứng minh hiệu quả tăng lên. Bởi vì các platin thay thế khác tồn tại ít độc hơn cisplatin (như carboplatin), sự phát triển tiếp theo của cisplatin liposome là không thể. Một số công thức liposomal của paclitaxel (EndoTAG-1 và LEP-ETU) cũng bị bỏ sau khi các công thức polime và liên kết albumin của paclitaxel được giới thiệu thành công trên thị trường.

Do đó, trong giai đoạn phát triển ban đầu, các lợi ích về hiệu quả và an toàn có thể đạt được bằng một công thức nano cần phải được xem xét cẩn thận. So sánh với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh và phân tích chi phí - lợi ích phải xảy ra để tránh đầu tư các nguồn lực trong việc phát triển một loại thuốc không có khả năng đạt được phê duyệt. Các nghiên cứu về kinh tế dược cần được thực hiện để xác định giá trị kinh tế và xã hội được thêm vào cho các sản phẩm dạng nano.

Các biện pháp như cải thiện các năm tuổi thọ được điều chỉnh chất lượng hoặc giảm chi phí liên quan đến nhập viện liên tiếp trong tương lai cũng phải được đánh giá trước khi phát triển thuốc nano.

Ngoài ra, sự thành công của một thuốc nano có thể bị thách thức bởi thực tế là chi phí liên quan trong việc phát triển và phê duyệt theo quy định có thể không được bù đắp bởi việc bán hạn chế cho các loại thuốc được phê duyệt cho các chỉ định thích hợp. Điều này có thể đặc biệt đúng với các thuốc nano ngày càng phức tạp, có liên quan đến chi phí cao hơn. Việc cấp bằng sáng chế bởi Văn phòng Sáng chế và Nhãn hiệu cho nhiều NP đã gây ra mối quan tâm bổ sung. 


Hình 57

Điều này đã tạo ra sự nhầm lẫn vì lợi ích cạnh tranh không chắc chắn về tính hợp lệ và khả năng thực thi của các bằng sáng chế.

Thiếu sự tham gia nhiệt tình của các chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Thiếu sự tham gia nhiệt tình của các chuyên gia chăm sóc sức khỏe là một thách thức khác mà các nhà phát triển các thuốc nano phải đối mặt. Sự giảm này thường do thực tế là hầu hết các thuốc nano đều đạt được sự an toàn được cải thiện hơn là tăng hiệu quả. Trong khi những cải tiến trong các loại thuốc ung thư có ý nghĩa lâm sàng, dạng nano của hóa trị liệu thay đổi không đáng kể các khối u rắn giai đoạn cuối. Từ quan điểm sinh học, điều này không có gì đáng ngạc nhiên bởi vì cải thiện PK trong một dạng nano hóa trị liệu không đủ để vượt qua sự phát triển đề kháng của khối u. Đối với các thuốc nano, chúng sẽ cần cải thiện hiệu quả đáng kể.

Quan điểm cũng đã được thể hiện trong các tài liệu y khoa rằng số lượng các thuốc nano đã được phê duyệt là không cân xứng so với đầu tư lớn được thực hiện trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, trong quá khứ, phải mất vài thập kỷ trước một thuốc được tìm được thương mại hóa (ví dụ, chế phẩm sinh học). Do thông tin và kiến thức hiện đang được trao đổi nhanh hơn, nên có thể có một khoảng thời gian ngắn hơn; tuy nhiên sự chuyển dịch về nghiên cứu học thuật sang thực hành lâm sàng sẽ vẫn tốn thời gian. Những nỗ lực phối hợp tốt hơn trong việc tài trợ vào các vấn đề quan trọng trong y học nano của Viện Y tế Quốc gia và Quỹ Khoa học Quốc gia cũng có thể giúp đẩy nhanh tiến độ trong lĩnh vực này.

Nhìn chung, sự phát triển thuốc nano đã tăng đáng kể trong thập kỉ qua. Hàng chục thuốc nano đã được FDA phê duyệt và nhiều thuốc đang trong giai đoạn phát triển sớm hoặc trong các thử nghiệm lâm sàng. Hầu hết các loại thuốc nano hiện đang được phê duyệt đều dựa trên các loại thuốc thông thường đã được phê duyệt và các tiểu phân nano đơn giản.

Tuy nhiên, các nền tảng thuốc nano đang được kết hợp với phạm vi mở rộng của các loại hạt và đang trở nên phức tạp hơn. Mặc dù một vài thuốc nano đang trong giai đoạn phát triển sớm sẽ nhận được phê duyệt theo quy định, số lượng công việc đang xảy ra trong lĩnh vực này dự đoán nhiều thuốc nano mới sẽ sẵn sàng cho sử dụng trên lâm sàng. Trong khi sự phát triển của thuốc nano đang đối mặt với nhiều thách thức, nó chỉ có thể là vấn đề thời gian cho đến khi những thuốc này mang lại các giải pháp cho nhu cầu lâm sàng chưa được đáp ứng và thay đổi rất nhiều thực hành lâm sàng.

Công nghệ nano trong phòng và trị HIV/AIDS

Đối với HIV/AIDS, những ứng dụng trị liệu dựa trên nền tảng công nghệ nano đã có những bước tiến quan trọng. Với kích thước rất nhỏ, các hệ thống nano cũng có thể cải thiện hoặc điều chỉnh sự phân bố các thuốc thân nước và kỵ nước vào các mô khác nhau. Ứng dụng này đặc biệt quan trọng đối với sự phân phối thuốc kháng retrovirus (ARV) hướng đích các tế bào nhiễm HIV.

Nhiều hệ thống phân phối thuốc có kích cỡ nano đã được áp dụng đối với ARV bao gồm: Tiểu phân nano polymer, liposome, dendrimer, nhũ tương nano và hỗn dịch nano. Trong một số công bố gần đây dựa trên các hệ thống polymer, các hỗn dịch nano chứa rilpivirine hay indinavir đã được nghiên cứu. Những dạng phân phối thuốc này cho thấy có tác dụng phóng thích thuốc duy trì và phân phối thuốc hiệu quả vào nhiều loại mô khác nhau, bao gồm cả đại thực bào hay não bộ.


Hình 58.
Công nghệ nano có nhiều ứng dụng trong điều trị và phòng ngừa HIV/AIDS.

Một hệ thống phân phối thuốc nano khác chứa stavudine hoặc zidovudine được vi nang hoá dưới dạng liposome có khả năng gắn kết với đường mannose và galactose cũng cho thấy làm tăng độ hấp thu thuốc vào trong tế bào và thuốc đạt được nồng độ cao ở hạch bạch huyết, gan, lách và phổi.

Liệu pháp gene

Liệu pháp gen là một cách tiếp cận với nhiều triển vọng trong điều trị HIV/AIDS. Trong liệu pháp này, một đoạn gen (thường là phân tử siRNA - small interfering RNA) được chèn vào bên trong tế bào để cản trở sự lây nhiễm hoặc nhân lên của virus. Tuy nhiên, việc đưa được những đoạn gene này vào được bên trong các tế bào hoặc mô đặc hiệu lại là thách thức lớn nhất của liệu pháp. Công nghệ nano đã giúp khắc phục được vấn đề này. Ống nano (nanotube) đơn vách và carbosilane dendrimer cho thấy có khả năng đưa được phân tử siRNA vào các tế bào lympho T và tế bào đơn nhân ở máu ngoại vi. Ngoài ra, những phát triển gần đây trong các hệ thống phân phối siRNA dựa trên polymer và liposome có thể được tối ưu hoá để hướng đích các tế bào bị nhiễm HIV.

Liệu pháp miễn dịch

Một cách tiếp cận khác trong điều trị HIV/AIDS là điều hòa đáp ứng miễn dịch của cơ thể chống lại HIV bằng cách sử dụng các tác nhân điều hòa miễn dịch. Tế bào tua gai (dendritic cell - DC) là những tế bào trình diện kháng nguyên quan trọng chịu trách nhiệm khởi động và điều phối sự phát triển đáp ứng miễn dịch tế bào và miễn dịch dịch thể (tạo kháng thể). Nhiều phương pháp mới sử dụng công nghệ nano hướng đích để phân phối các yếu tố điều hòa miễn dịch có liên quan đến DC. Ứng dụng có bước tiến xa nhất trong nghiên cứu lâm sàng sử dụng công nghệ nano cho liệu pháp miễn dịch đối với HIV/AIDS đó là chế phẩm miếng dán DermaVir.

Phòng ngừa HIV/AIDS

Mặc dù quá trình phát triển các loại vaccine HIV/AIDS dựa trên nền tảng công nghệ nano vẫn đang trong giai đoạn phôi thai nhưng đã có những bước tiến đáng kể trong thời gian gần đây. Nhiều hệ thống có bản chất lipid đã được nghiên cứu cho phân phối vaccine. Trong các nghiên cứu trên động vật, các protein hoặc đoạn gene mã hóa đặc hiệu của HIV được đóng gói trong các loại liposome, nhũ tương nano hay các tiểu phân nano polymer cho thấy có khả năng hoạt hóa đáp ứng miễn dịch cao thông qua kháng thể đặc hiệu. Việc phát triển các loại vaccine HIV/AIDS hướng đích tế bào tua gai được phân phối trong các liposome cũng có những thành công nhất định.


Hình 59

Ngoài ra, việc phát triển các chất diệt trùng hiệu quả để phòng ngừa HIV/AIDS là một vấn đề thiết yếu. Các chất diệt trùng này được bôi trực tiếp vào âm đạo để ngăn ngừa lây truyền HIV/AIDS hoặc các bệnh lây lan qua đường tình dục khác. Các tiểu phân nano polymer cũng đang được nghiên cứu để phát triển các chất diệt trùng kháng HIV/AIDS, trong đó chúng được sử dụng để phân phối protein PSC-RANTES (chất ức chế đồng thụ thể CCR5 cần thiết cho HIV gắn kết và thâm nhập vào tế bào CD4+T) và các phân tử siRNA đặc hiệu HIV đóng vai trò là một tác nhân diệt trùng.

Có nên dùng thuốc nano để chữa bệnh?

PGS.TS. Kiều Đình Hùng - Trưởng khoa Ngoại thần kinh, Cột sống và Chấn thương chỉnh hình, BV Đại học Y Hà Nội cho biết, hiện nay có nhiều người bệnh hỏi tư vấn của bác sĩ về các loại thuốc nano để chữa bệnh. Trên thực tế, những thuốc bằng nano có ưu điểm vượt trội là phân tử rất nhỏ, có thể ngấm sâu vào các tổ chức của cơ thể, hiệu quả tốt.PGS. Hùng là người có nhiều năm kinh nghiệm trong điều trị bệnh cơ xương khớp, ung bướu. Ông cho biết, trên thực tế lâm sàng, các sản phẩm nano đem lại hiệu quả chữa bệnh cho người bệnh rất tốt. Hiện nay, các thuốc tây y từ nguồn dược liệu được tổng hợp bằng công nghệ nano có ưu điểm vượt trội là kích thước dược liệu nhỏ, có thể ngấm sâu vào các tổ chức. Ví dụ, với bệnh u não thì thuốc rất khó xuyên vào được vì có hàng rào bảo vệ, đôi khi phải tiêm trực tiếp; nhưng những thuốc bằng nano thì rất dễ dàng vì phân tử rất nhỏ, vào rất tốt.

Hoặc ví dụ như hiện nay người ta dùng một số thuốc thông thường để điều trị trong bệnh xương khớp và nhiều bệnh nhân cho rằng dùng không có tác dụng. Điều này rất dễ hiểu vì khớp, cột sống có các màng khớp bao bọc, màng giữ chất nhờn trong khớp, màng liên kết rất chặt nên thuốc bình thường khó vào; thuốc uống vào rất khó nên thường phải tiêm. Song thuốc nano lại ngấm vào rất tốt, cho nên hiện nay người ta bào chế ra glucosamin dưới dạng nano thì ngấm vào khớp tốt, hiệu quả chữa bệnh cao hơn.

Các sản phẩm dược liệu, dược liệu tổng hợp tự nhiên, bản chất chữa bệnh là hoạt chất. Như chúng ta biết penecilin được chiết xuất từ cây nấm penecilin được coi là cuộc cách mạng về kháng sinh. Nhưng do không đủ nấm để sản xuất nên các nhà khoa học đã dùng nguyên liệu tổng hợp để sản xuất thuốc, sau đó trào lưu sản xuất thuốc bằng tổng hợp rất nhiều. Vì dược liệu tự nhiên không đủ và nhiều nước không có đủ nguồn dược liệu tự nhiên, nhưng sau cùng họ nhận thấy thuốc được bào chế từ dược liệu tự nhiên tốt hơn nên người ta quay lại dược liệu tự nhiên, trong đó phải kể đến là Nhật Bản đi đầu về việc này"- PGS. Hùng nói thêm.

Trong thực tế điều trị bệnh, PGS. Hùng cho biết có nhiều bệnh nhân có mong muốn sử dụng sản phẩm nano hỗ trợ chữa bệnh. Vị chuyên gia này cho rằng, bệnh thì có nhiều loại bệnh nhưng các sản phẩm nano cũng không phải quá nhiều loại và chỉ có một số bệnh nên sử dụng sản phẩm nano như: bệnh xương khớp (nano curcumin, nano gừng); bệnh ung bướu cũng có thể dùng loại hỗn hợp nano tăng sức đề kháng diệt tế bào ung thư. Tuy nhiên, tất cả thuốc và thực phẩm chức năng cần có lời khuyên của thầy thuốc là tốt nhất. Bên cạnh đó bệnh nhân cũng có thể tự tìm hiểu được qua các công dụng ghi trên hộp thuốc hoặc qua các dược sĩ.

Có thể dùng thường xuyên khi bệnh đã ổn định

BS. Nguyễn Ánh Vân - Chủ tịch hội đồng quản trị công ty CP Y Dược Vietlife và cũng là người đầu tiên tại Việt Nam đầu tư hệ thống công nghệ sản xuất dược liệu nano và các sản phẩm nano trên quy mô công nghiệp khuyến cáo, người bệnh cần chú ý, nếu các sản phẩm nano ở dạng thuốc thì cần có chỉ định của bác sĩ như: thuốc chống viêm, giảm đau và đặc biệt không lạm dụng vì có tác dụng phụ.


Hình 60

Còn các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên và không có tác dụng phụ và giải quyết được các vấn đề tác dụng phụ của các thuốc khác - đặc biệt là dạng thực phẩm chức năng, ban đầu, bệnh nhân nên có chỉ định của bác sĩ nhưng về sau bệnh nhân có thể dùng thường xuyên được và dùng theo từng đối tượng, liều cao, liều bình thường tùy vào từng giai đoạn bệnh, thể trạng...

“Trong bệnh cơ xương khớp, đây là bệnh mạn tính và có một thực trạng là nhiều bệnh nhân cơ xương khớp đau mạn tính, viêm mạn tính và sau cùng dùng streroid và corticoid sẽ có tác dụng phụ. Như sản phẩm nano hiện tại chúng tôi đang nghiên cứu có tác dụng giảm viêm chống đau khá tốt dù nó không có tác dụng mạnh như các thuốc tây y khác. Đồng thời các sản phẩm nano đó dùng tốt cho bệnh nhân xương khớp mạn tính, ngoài ra còn tăng cường chất nhờn, bảo vệ sụn khớp. Đó là sản phẩm bệnh nhân xương khớp có thể dùng thường xuyên và dài ngày được”- BS. Vân cho biết thêm.

Công nghệ nano được coi là một trong những công nghệ tiên tiến bậc nhất hiện nay và có rất nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực, trong đó không thể không nhắc đến y dược học - đặc biệt là trong sản xuất thuốc, thực phẩm chức năng và mỹ phẩm. Ưu điểm lớn nhất của công nghệ nano là chuyển hóa tinh chất thành dạng dễ hấp thu hơn mà không bị thay đổi cấu trúc, đảm bảo tính an toàn khi sử dụng. Theo các chuyên gia, hiện nay xu hướng chung của thế giới là quay trở lại với dược liệu tự nhiên. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến công nghệ nano kết hợp với nguồn dược liệu tự nhiên để tìm ra các tinh chất rồi sau đó tinh chế ra sản phẩm với hàm lượng tinh chất lên đến 90-95%, thậm chí có thể lên đến 99% mang lại hiệu quả sử dụng rất cao.

Việt Nam là một trong những quốc gia có nguồn tài nguyên thực vật phong phú, nhất là các loại dược liệu có tác dụng chữa bệnh. Tại Việt Nam, việc ứng dụng công nghệ nano trong nghiên cứu, bào chế và sản xuất các sản phẩm có nguồn gốc từ dược liệu để hỗ trợ, phòng và điều trị hiện có tiềm năng lớn. Nếu biết tận dụng các thế mạnh như nguồn dược liệu sạch phong phú, có chuyên gia giỏi về công nghệ nano... ứng dụng nano có thể trở thành lĩnh vực mũi nhọn trong phát triển y dược học của Việt Nam.

Cách lựa chọn sản phẩm thuốc nano thông minh

Những vật liệu có kích thước nano đang trở thành trào lưu mới trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, y học, đặc biệt là sản xuất thuốc, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm. Vậy trong lĩnh vực dược học, công nghệ nano được ứng dụng như thế nào; có những ưu điểm gì vượt trội và làm thế nào để lựa chọn thuốc nano một cách thông minh…? Theo giáo sư Nguyễn Đức Nghĩa đang làm việc tại Trung tâm Phát triển Công nghệ cao (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) về sự kết hợp giữa trí tuệ của y học cổ truyền với công nghệ nano và y học hiện đại phương Tây lại được gọi là “bình minh của y học tương lai”? GS. Nguyễn Đức Nghĩa cho biết hàng ngàn năm qua, ông cha ta đã có kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc chữa trị bệnh cho con người, đây là đóng góp quý báu nhất cho các thế hệ sau nối tiếp và phát triển. Tuy nhiên, quá trình chế tác thuốc Nam thiếu thực chứng khoa học, thiếu chuẩn xác, có tính tổng quan, tương đối về thành phần hoạt tính nên gây khó khăn cho người bệnh khi sử dụng. Trải qua 3 thế hệ sản xuất thuốc Nam (phương pháp chế tạo thuốc Nam cổ truyền, thuốc Nam được bào chế hiện đại, thuốc Tây sử dụng dược chất thiên nhiên), đến nay là thế hệ thứ tư với công nghệ nano chế tạo thuốc mới đã mở ra hy vọng cho người bệnh được sử dụng thuốc Nam dược có khả năng chữa trị bệnh cao nhất.

Về cơ bản, công nghệ nano đang tràn qua tất cả các lĩnh vực của khoa học, cuộc sống và sẽ làm thay đổi bản chất của hầu hết mọi đối tượng do con người tạo ra trong thế kỷ này. Trong vương quốc của y học, công nghệ nano là sự hứa hẹn lớn mang lại lợi ích cho xã hội và đang hình thành một ngành mới là y học nano. Y học nano được định nghĩa là ngành y học nhằm chữa bệnh, bảo vệ và cải thiện sức khoẻ con người bằng các công cụ có kích thước phân tử và dựa trên các hiểu biết về cơ thể con người ở cấp độ phân tử. Trong đó, nhờ sự lồng ghép với những tiến bộ khoa học trong công nghệ bào chế thuốc, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, mỹ phẩm cũng như các công nghệ mới giúp chẩn đoán và chữa trị bệnh sẽ làm giảm nỗi đau của con người khỏi các bệnh lý nghiêm trọng cũng như mở ra hy vọng cho những bệnh lý vốn được coi là vô phương cứu chữa. Chính vì lẽ đó mà công nghệ chế tạo thuốc mới từ thuyết của y học cổ truyền kết hợp với công nghệ nano và y học hiện đại được coi là bình minh của y học tương lai với dự đoán kéo dài hàng thế kỷ.

Khi được hỏi về ưuđiểm vượt trội của công nghệ nano trong sản xuất dược phẩm là gì? GS. Nguyễn Đức Nghĩa cho biết trong lĩnh vực sản xuất dược phẩm, công nghệ nano đang chứng tỏ ưu thế vượt trội về khả năng hấp thu và hiệu quả điều trị cho các bệnh lý nghiêm trọng như ung thư, đái tháo đường, xương khớp… Trong chế tạo thuốc mới, công nghệ nano đã biến những điều không thể thành có thể. Thực tế lâm sàng đã chứng minh những phân tử thuốc ở kích thước nano đã làm tăng khả năng hấp thu thuốc của cơ thể, từ đó làm tăng hiệu quả điều trị lên gấp hàng trăm, thậm chí hàng ngàn lần so với thuốc thông thường. Cụ thể, những ưu điểm này phải kể đến:

Tác động đích: Dựa trên những hiệu ứng vật lý, hóa học, sinh học, quang học, từ tính…, các nhà sản xuất dược phẩm đã tính toán và hướng các hạt nano chứa thuốc tác động vào trúng đích cần điều trị. Chẳng hạn dựa vào hiệu ứng vật lý của tế bào, các tế bào bệnh thường có nhiệt độ cao hơn tế bào lành (39-40 độ C so với 36,5-37 độ C) nên thuốc không bị tan ở nhiệt độ bình thường nhưng sẽ được giải phóng khi gặp nhiệt độ cao (vị trí tế bào bệnh). Ngoài ra, có thể dựa vào độ nhạy pH, với các thuốc này được thiết kế để khi gặp môi trường của tế bào bệnh, thường có độ pH thấp hơn bình thường, thuốc sẽ được nhả dần ở một tốc độ tối ưu định sẵn. Như vậy, các thuốc nano đều có tác dụng hướng đích, nghĩa là chỉ phát huy tác dụng với những tế bào bệnh dựa trên những đặc điểm khác biệt với tế bào lành về nhiệt độ, độ pH, khe hở tế bào…

Không ảnh hưởng mô lành: Các thuốc nano hiện nay đều đang tập trung hướng đến tiêu diệt tế bào ác tính trong bệnh ung thư - một căn bệnh có tỷ lệ tử vong cao mà vẫn không ngừng tăng lên trên toàn thế giới. Nhiều loại thuốc, nhiều phương pháp điều trị đã được đưa ra nhưng hầu hết hiệu lực của các loại dược liệu thường bị giới hạn bởi tính ít hoà tan, dễ bị thải ra khỏi cơ thể, gây tác dụng phụ và nhất là không phân biệt giữa tế bào bình thường và tế bào bệnh nên thường diệt tế bào ung thư đồng thời phá hủy cả tế bào tốt. Tuy nhiên, với cơ chế tác động đích như đã nói ở trên thì thuốc nano không ảnh hưởng tới mô lành khi chúng được thiết kế ở một kích cỡ tối ưu biết cảm nhận, phân biệt tế bào, biết giữ và nhả thuốc khi ở trong môi trường có nhiệt độ hay độ pH thích hợp.

Ít tác dụng phụ: Với các loại thuốc được sản xuất theo công nghệ hiện nay thường có tác dụng toàn thân, điều trị theo cơ chế “bom rải thảm” không những phải trị liệu với liều thuốc rất cao mà còn đem đến những tác dụng phụ rất tai hại đến cơ thể người bệnh. Tuy nhiên, với các thuốc nano thông minh, chỉ tác động vào tế bào bệnh dựa trên các đặc điểm khác biệt với tế bào lành nên đã hạn chế được nhiều tác dụng không mong muốn của thuốc thông thường. Bên cạnh đó, khoa học đã chứng minh rằng, các thuốc được sản xuất theo công nghệ nano còn khắc phục được nhiều nhược điểm của những thuốc truyền thống như độ hòa tan, khả năng thẩm thấu, đào thải… giúp người bệnh nhận được những hiệu quả chữa bệnh tối ưu mà thuốc đem lại.

Với những ưu điểm này, cách lựa chọn và sử dụng sản phẩm thuốc nano một cách hiệu quả, an toàn được GS. Nguyễn Đức Nghĩa cho biết hiện nay, trên thị trường có rất nhiều sản phẩm nano và cũng có nhiều nhà sản xuất lợi dụng công nghệ nano để quảng cáo sản phẩm với hiệu quả vượt xa thực tế chữa bệnh của thuốc. Việc phân biệt thuốc nano thật - giả thì vô cùng khó khăn và không thể thực hiện được bằng mắt thường mà phải gửi mẫu đến phòng thí nghiệm chuyên biệt nên càng tạo điều kiện cho những loại thuốc gắn mác nano, làm giảm lòng tin của người tiêu dùng, nhất là người bệnh đang cần dùng đúng thuốc.

Do vậy, để lựa chọn và sử dụng đúng các sản phẩm nano, trước tiên người bệnh nên là người tiêu dùng thông minh khi lựa chọn dựa vào uy tín của công ty hay thương hiệu đã được tạo dựng trên thị trường. Thứ hai là lựa chọn theo thông tin sản phẩm về kích thước hạt nano, hàm lượng hoạt chất cũng như các chất bổ sung. Chẳng hạn đối với hàm lượng curcumin trong thuốc thì nên lựa chọn hàm lượng từ 15-18% thì thuốc mới có tác dụng, trên 20% thì rất tốt chứ không nên chọn loại có hàm lượng dưới 10%. Hay với kích thước hạt thì nên lựa chọn sản phẩm có độ lớn càng nhỏ càng tốt vì khả năng xâm nhập vào tế bào bệnh càng sớm, từ đó sẽ phát huy sớm tác dụng chữa bệnh của thuốc. Ngoài ra, độ lớn của hạt càng nhỏ thì diện tích bề mặt càng lớn, hiệu ứng chữa bệnh càng cao.

Bên cạnh đó, khi lựa chọn dược phẩm nano, người bệnh cũng nên chú ý đến các thành phần bổ sung khác vì chúng không chỉ có vai trò phụ trợ mà cũng có khả năng chữa trị bệnh khi khuếch đại sinh khả dụng hay tạo ra khả năng cộng hợp dược lực của thuốc, theo cơ chế như các nhà quân sự thường nói: Binh chủng hợp thành. Ví dụ, một hạt nano chứa nhiều thành phần có khả năng diệt tế bào ung thư như thành phần diệt đường cấp máu đến tế bào, diệt tế bào gốc tự do, diệt bản thân tế bào ung thư thì cộng hợp các lực ấy tạo ra khả năng diệt ung thư cao nhất; hay với hạt nano dành cho người bị bệnh xương khớp thì có thể bao gồm chất chống viêm, glucosamin có tác dụng tốt với sụn khớp.

Tài liệu tham khảo

1.      Bobo D, Robinson KJ, Islam J, et al. Nanoparticle-based medicines: a review of FDA-approved materials and clinical trials to date. Pharm Res. 2016;33(10):2373–2387. [PubMed]

2.      Caster JM, Patel AN, Zhang T, Wang A. Investigational nanomedicines in 2016: a review of nanotherapeutics currently undergoing clinical trials. Wiley Interdiscip Rev Nanomed Nanobiotechnol. 2017;9(1) [PubMed]

3.      Ventola CL. The nanomedicine revolution: part 1: emerging concepts. P T. 2012;37(9):512–525.[PMC free article] [PubMed]

4.      Havel HA. Where are the nanodrugs? An industry perspective o­n development of drug products containing nanomaterials. AAPS J. 2016;18(6):1351–1353. [PubMed]

5.      Havel H, Finch G, Strode P, et al. Nanomedicines: from bench to bedside and beyond. AAPS J. 2016;18(6):1373–1378. [PubMed]

6.      Sainz V, Conniot J, Matos AI, et al. Regulatory aspects o­n nanomedicines. Biochem Biophys Res Commun. 2015;468(3):504–510. [PubMed]

7.      Wolfram J, Zhu M, Yang Y, et al. Safety of nanoparticles in medicine. Curr Drug Targets. 2015;16(14):1671–1681. [PMC free article] [PubMed]

8.      Zhu M, Wang R, Nie G. Applications of nanomaterials as vaccine adjuvants. Hum Vaccin Immunother. 2014;10:2761–2774. [PMC free article] [PubMed]

9.      Gregory AE, Titball R, Williamson D. Vaccine delivery using nanoparticles. Front Cell Infect Microbiol. 2013;3:13. [PMC free article] [PubMed]

10.  Stanberry LR, Simon JK, Johnson C, et al. Safety and immunogenicity of a novel nanoemulsion mucosal adjuvant W805EC combined with approved seasonal influenza antigens. Vaccine. 2012;30:307–316. [PubMed]

11.  Elamanchili P, Diwan M, Cao M, Samuel J. Characterization of poly(D,L-lactic-co-glycolic acid) based nanoparticulate system for enhanced delivery of antigens to dendritic cells. Vaccine. 2004;22:2406–2412.[PubMed]

12.  Ventola CL. The nanomedicine revolution: part 2: current and future clinical applications. P T. 2012;37(10):582–591. [PMC free article] [PubMed]

13.  Centerwatch. 2017 FDA approved drugs. [Accessed October 25, 2017]. Available at: www.center-watch.com/drug-information/fda-approved-drugs.

14.  Food and Drug Administration. Novel drug approvals for 2017. Oct 20, 2017. [Accessed October 25, 2017]. Available at: www.fda.gov/drugs/developmentapprovalprocess/druginnovation/ucm537040.

15.  ClinicalTrials.gov. [Accessed October 25, 2017]. Available at: https://clinicaltrials.gov.

16.  Gabizon A, Catane R, Uziely B, et al. Prolonged circulation time and enhanced accumulation in malignant exudates of doxorubicin encapsulated in polyethyleneglycol-coated liposomes. Cancer Res. 1994;54(4):987–992. [PubMed]

17.  Lancet JE, Cortes JE, Hogge DE, et al. Phase 2 trial of CPX-351, a fixed 5:1 molar ratio of cytarabine/daunorubicin, vs. cytarabine/daunorubicin in older adults with untreated AML. Blood. 2014;123:3239–3246. [PMC free article] [PubMed]

18.  Cortes JE, Goldberg SL, Feldman EJ, et al. Phase II, multicenter, randomized trial of CPX-351 (cytarabine: daunorubicin) liposome injection versus intensive salvage therapy in adults with first relapse AML. Cancer. 2015;121:234–242. [PMC free article] [PubMed]

19.  Clancy JP, Dupont L, Konstan MW, et al. Phase II studies of nebulised Arikace in CF patients with Pseudomonas aeruginosainfection. Thorax. 2013;68:818–825. [PMC free article] [PubMed]

20.  Geho WB, Geho HC, Lau JR, Gana TJ. Hepatic directed vesicle insulin: a review of formulation development and preclinical evaluation. J Diabetes Sci Technol. 2009;3:1451–1459. [PMC free article][PubMed]

21.  Geho WB, Rosenberg LN, Schwartz SL, et al. A single-blind, placebo-controlled, dose ranging trial of oral hepatic-directed vesicle insulin add-on to oral antidiabetic treatment in patients with type 2 diabetes mellitus. J Diabetes Sci Technol. 2014;8:551–559. [PMC free article] [PubMed]

22.  Hu X, Miller L, Richman S, et al. A novel PEGylated interferon beta-1a for multiple sclerosis: safety, pharmacology, and biology. J Clin Pharmacol. 2012;52(6):798–808. [PubMed]

23.  Flexion Therapeutics, Inc. Our product: Zilretta (triamcinolone acetonide extended release formulation)[Accessed October 25, 2017]. Available at: https://flexiontherapeutics.com/our-product.

24.  Verschraegen CF, Skubitz K, Daud A, et al. A phase 1 and pharmacokinetic study of paclitaxel poliglumex and cisplatin in patients with advanced solid tumors. Cancer Chemother Pharmacol. 2009;63:903–910. [PubMed]

25.  Morgan MA, Darcy KM, Rose PG, et al. Paclitaxel poliglumex and carboplatin as first-line therapy in ovarian, peritoneal, or fallopian tube cancer: a phase 1 and feasibility trial of the Gynecologic o­ncology Group. Gynecol o­ncol. 2008;110:329–335. [PMC free article] [PubMed]

26.  Sabbatini P, Sill MW, O’Malley D, et al. A phase II trial of paclitaxel poliglumex in recurrent or persistent ovarian or primary peritoneal cancer (EOC): a Gynecologic o­ncology Group Study. Gynecol o­ncol. 2008;111(3):455–460. [PubMed]

27.  Awada A, Garcia AA, Chan S, et al. Two schedules of etirinotecan pegol (NKTR-102) in patients with previously treated metastatic breast cancer: a randomised phase 2 study. Lancet o­ncol. 2013;14(12):1216–1225. [PubMed]

28.  Dipetrillo T, Milas L, Evans D, et al. Paclitaxel poliglumex (PPXXyotax) and concurrent radiation for esophageal and gastric cancer: a phase 1 study. Am J Clin o­ncol. 2006;29:376–379. [PubMed]

29.  Dipetrillo T, Suntharalingam M, Ng T, et al. Neoadjuvant paclitaxel poliglumex, cisplatin, and radiation for esophageal cancer: a phase 2 trial. Am J Clin o­ncol. 2012;35:64–67. [PubMed]

30.  Jeyapalan S, Boxerman J, Donahue J, et al. Paclitaxel poliglumex, temozolomide, and radiation for newly diagnosed high-grade glioma: a Brown University o­ncology Group Study. Am J Clin o­ncol. 2014;37:444–449. [PubMed]

31.  Weiss GJ, Chao J, Neidhart JD, et al. First-in-human phase 1/2a trial of CRLX101, a cyclodextrin-containing polymercamptothecin nanopharmaceutical in patients with advanced solid tumor malignancies. Invest New Drugs. 2013;31:986–1000. [PMC free article] [PubMed]

32.  Ortega A, Farah S, Tranque P, et al. Antimicrobial evaluation of quaternary ammonium polyethyleneimine nanoparticles against clinical isolates of pathogenic bacteria. IET Nanobiotechnol. 2015;9:342–348. [PubMed]

33.  Valle JW, Armstrong A, Newman C, et al. A phase 2 study of SP1049C, doxorubicin in P-glycoprotein-targeting pluronics, in patients with advanced adenocarcinoma of the esophagus and gastroesophageal junction. Invest New Drugs. 2011;29:1029–1037. [PubMed]

34.  Kim TY, Kim DW, Chung JY, et al. Phase I and pharmacokinetic study of Genexol-PM, a cremophor-free, polymeric micelle-formulated paclitaxel, in patients with advanced malignancies. Clin Cancer Res. 2004;10:3708–3716. [PubMed]

35.  Lee KS, Chung HC, Im SA, et al. Multicenter phase II trial of Genexol-PM, a Cremophor-free, polymeric micelle formulation of paclitaxel, in patients with metastatic breast cancer. Breast Cancer Res Treat. 2008;108:241–250. [PubMed]

36.  Kim DW, Kim SY, Kim HK, et al. Multicenter phase II trial of Genexol-PM, a novel Cremophor-free, polymeric micelle formulation of paclitaxel, with cisplatin in patients with advanced non–small-cell lung cancer. Ann o­ncol. 2007;18:2009–2014. [PubMed]

37.  Ahn HK, Jung M, Sym SJ, et al. A phase II trial of Cremorphor EL-free paclitaxel (Genexol-PM) and gemcitabine in patients with advanced non–small-cell lung cancer. Cancer Chemother Pharmacol. 2014;74:277–282. [PMC free article] [PubMed]

38.  Bansal S, Bansal M, Kumria R. Nanocrystals: current strategies and trends. Int J Res Pharm Biomed Sci. 2012;3:406–419.

39.  Gao L, Liu G, Ma J, et al. Application of drug nanocrystal technologies o­n oral drug delivery of poorly soluble drugs. Pharm Res. 2013;30:307–324. [PubMed]

40.  Bruchez M, Jr, Moronne M, Gin P, et al. Semiconductor nanocrystals as fluorescent biological labels. Science. 1998;281:2013–2016. [PubMed]

41.  Maier-Hauff K, Ulrich F, Nestler D, et al. Efficacy and safety of intratumoral thermotherapy using magnetic iron-oxide nanoparticles combined with external beam radiotherapy o­n patients with recurrent glioblastoma multiforme. J Neuro-Oncol. 2011;103(2):317–324. [PMC free article] [PubMed]

42.  Libutti SK, Paciotti GF, Byrnes AA, et al. Phase I and pharmacokinetic studies of CYT-6091, a novel PEGylated colloidal gold-rhTNF nanomedicine. Clin Cancer Res. 2010;16:6139–6149. [PMC free article][PubMed]

43.  Fleischman T. Cancer killers: C dots show ability to induce cell death in tumors. Cornell Chronicle. Sep 26, 2016. [Accessed August 9, 2017]. Available at: http://news.cornell.edu/stories/2016/09/cancer-killers-c-dots-show-ability-induce-cell-death-tumors.

44.  Weissig V, Pettinger TK, Murdock N. Nanopharmaceuticals (part 1): products o­n the market. Int J Nanomedicine. 2015;10:1245–1257. [PMC free article] [PubMed]

45.  Desai N, Trieu V, Yao ZW, et al. Increased antitumor activity, intratumor paclitaxel concentrations, and endothelial cell transport of Cremophor-free, albumin-bound paclitaxel, ABI-007, compared with Cremophor-based paclitaxel. Clin Cancer Res. 2006;12(4):1317–1324. [PubMed]

46.  Fuentes AC, Szwed E, Spears CD, et al. Denileukin diftitox (Ontak) as maintenance therapy for peripheral T-cell lymphomas: three cases with sustained remission. Case Pep o­ncol Med. 2015;2015:123756. doi: 10.1155/2015/123756. [PMC free article] [PubMed] [Cross Ref]

47.  Foss FM, Sjak-Shie N, Goy A, et al. A multicenter phase II trial to determine the safety and efficacy of combination therapy with denileukin diftitox and cyclophosphamide, doxorubicin, vincristine, and prednisone in untreated peripheral T-cell lymphoma: the CONCEPT study. Leuk Lymphoma. 2013;54(7):1373–1379. [PubMed]

48.  Foss F. Clinical experience with denileukin diftitox (Ontak) Semin o­ncol. 2006;33(1 suppl 3):S11–S16.[PubMed]

49.  Glenn GM, Fries LF, Smith G, et al. Modeling maternal fetal RSV F vaccine induced antibody transfer in guinea pigs. Vaccine. 2015;33:6488–6492. [PubMed]

50.  Svenson S, Tomalia DA. Dendrimers in biomedical applications— reflections o­n the field. Adv Drug Deliv Rev. 2005;57:2106–2129. [PubMed]

51.  O’Loughlin J, Millwood IY, McDonald HM, et al. Safety, tolerability, and pharmacokinetics of SPL7013 gel (VivaGel): a dose ranging, phase 1 study. Sex Transm Dis. 2010;37:100–104. [PubMed]

52.  Price CF, Tyssen D, Sonza S, et al. SPL7013 Gel (VivaGel) retains potent HIV-1 and HSV-2 inhibitory activity following vaginal administration in humans. PLoS o­ne. 2011;6(9):e24095. [PMC free article][PubMed]

53.  Cohen CR, Brown J, Moscicki AB, et al. A phase 1 randomized placebo controlled trial of the safety of 3% SPL7013 Gel (VivaGel) in healthy young women administered twice daily for 14 days. PLoS o­ne. 2011;6(1):e16258. [PMC free article] [PubMed]

54.  Ventola CL. The nanomedicine revolution: part 3: regulatory and safety challenges. P T. 2012;37(11):631–639. [PMC free article] [PubMed]

55.  Elsaesser A, Howard CV. Toxicology of nanoparticles. Adv Drug Deliv Rev. 2012;64:129–137.[PubMed]

56.  Dick CA, Brown DM, Donaldson K, Stone V. The role of free radicals in the toxic and inflammatory effects of four different ultrafine particle types. Inhal Toxicol. 2003;15:39–52. [PubMed]

57.  Stone V, Brown DM, Watt N, et al. Ultrafine particle-mediated activation of macrophages: intracellular calcium signaling and oxidative stress. Inhal Toxicol. 2001;12:345–351. [PubMed]

58.  Knaapen AM, Borm PJ, Albrecht C, Schins RP. Inhaled particles and lung cancer. Part A: mechanisms. Int J Cancer. 2004;109:799–809. [PubMed]

59.  Sharma HS, Sharma A. Nanoparticles aggravate heat stress induced cognitive deficits, blood–brain barrier disruption, edema formation, and brain pathology. Prog Brain Res. 2007;162:245–273. [PubMed]

60.  Di Gioacchino M, Petrarca C, Lazzarin F, et al. Immunotoxicity of nanoparticles. Int J Immunopathol Pharmacol. 2011;24(1 suppl):S65–S71. [PubMed]

61.  Kolosnjaj J, Szwarc H, Moussa F. Toxicity studies of carbon nanotubes. Adv Exp Med Biol. 2007;620:181-204. [PubMed]

62.  Liu Y, Zhao Y, Sun B, Chen C. Understanding the toxicity of carbon nanotubes. Acc Chem Res. 2013;46:702-713. [PubMed]

63.  Zhang XD, Wu D, Shen X, et al. Size-dependent in vivotoxicity of PEG-coated gold nanoparticles. Int J Nanomedicine. 2011;6:2071-2081. [PMC free article] [PubMed]

64.  Zhang X. Gold nanoparticles: recent advances in the biomedical applications. Cell Biochem Biophys. 2015;7:771-775. [PubMed]

65.  Radomska A, Leszczyszyn J, Radomski MW. The nanopharmacology and nanotoxicology of nanomaterials: new opportunities and challenges. Adv Clin Exp Med. 2016;25(1):151–162. [PubMed]

66.  Weissig V, Guzman-Villanueva D. Nanopharmaceuticals: Products in the pipeline. Int J Nanomedicine. 2015;10:1245-1257.

Ngày 20/02/2019
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang
(Biên dịch và tổng hợp)
 

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên khoa của Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn về các bệnh ký sinh trùng và các bệnh do véc tơ truyền, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng mới nổi như sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ, giun lươn, giun đũa chó và các bệnh thông thường khác; khám và xét nghiệm chẩn đoán bệnh bằng các phương tiện kỹ thuật cao như sinh hóa, huyết học, miễn dịch (ELISA), sinh học phân tử và chẩn đoán hình ảnh bằng nội soi tiêu hóa, siêu âm màu…

   Trung tâm Dịch vụ khoa học kỹ thuật của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế chuyên sản xuất mua bán hóa chất, vật tư, chế phẩm diệt côn trùng; dịch vụ diệt côn trùng gây bệnh, côn trùng gia dụng như muỗi, ruồi, gián, kiến…; dịch vụ phòng diệt mối mọt và xét nghiệm phát hiện tôm bằng các kỹ thuật hiện đại.


 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 CHUYÊN ĐỀ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: Khu vực 8-Phường Nhơn Phú-Thành phố Quy Nhơn- Tỉnh Bình Định.
Tel: (84) 0256.3547492 - Fax: (84) 0256.3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng ban biên tập: TTND.PGS.TS. Nguyễn Văn Chương - Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích