Home TRANG CHỦ Thứ 5, ngày 17/01/2019
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Web Sites & Commerce Tin tức - Sự kiện
Web Sites & Commerce Hoạt động hợp tác
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Web Sites & Commerce Chuyên đề
Finance & Retail Tư vấn sức khỏe
Hỏi-Đáp
Y học thường thức
Kiến thức phổ thông
Web Sites & Commerce Tạp chí-Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động Đảng & Đoàn thể
Web Sites & Commerce Bạn trẻ
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Trung tâm dịch vụ
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
3 5 7 7 2 4 9 0
Số người đang truy cập
4 7
 Tư vấn sức khỏe Hỏi-Đáp
Siêu ký sinh trùng sốt rét lây lan mạnh ở Đông Nam Á, các nhà khoa học cảnh báo
Sốt rét kháng thuốc ở Tiểu vùng sông Mêkông: Chúng ta nên quan tâm đến vấn đề này như thế nào?

Dưới đây là chương trình hỏi đáp với Tiến sĩ Pedro Alonso - Giám đốc Chương trình sốt rét toàn cầu (Global Malaria Programme) mới nhất ngày 29/9/2017. Một bài báo gần đây được công bố trên tạp chí The Lancet Infectious Diseases đưa tin về sự hiện diện của một chủng ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) kháng thuốc ở miền nam Việt Nam dẫn đến tỷ lệ thất bại đáng báo động từ thuốc phối hợp dihydroartemisinin-piperaquin - một loại thuốc sốt rét điều trị ưu tiên.

Chủng này, đầu tiên được xác định tại Campuchia vào năm 2008, bây giờ đã trở thành chủng chủ đạo trong một số nơi của khu vực tiểu vùng song Mê Kông. Bài báo này dựa trên số liệu được công bố vào đầu năm. Sau khi công bố bài báo này, một số cơ quan truyền thông đưa tin về sự lây lan nhanh chóng của một chủng ký sinh trùng sốt rét "nguy hiểm" không thể bị diệt bởi các loại thuốc sốt rét chủ yếu - một ký sinh trùng mà họ mô tả là "siêu ký sinh trùng sốt rét".

WHO quan tâm như thế nào về cái gọi là "siêu ký sinh trùng sốt rét" ở Đông Nam Á?

Trước hết, hãy để tôi nhấn mạnh rằng thuật ngữ "siêu ký sinh trùng sốt rét" chưa được định nghĩa đầy đủ. Ccộng đồng khoa học và y tế công cộng không công nhận thuật ngữ này. Vấn đề kháng đa thuốc trong Tiểu vùng Mê Kông (Greater Mekong Subregion -GMS), trong đó có Việt Nam đã được Tổ chức Y tế thế giới biết đến trong một số năm. Trong năm 2014-2015, có 4 nghiên cứu được thực hiện bởi Chương trình Phòng chống sốt rét quốc gia của Việt Nam (National Malaria Control Programme -NMCP), phối hợp với TCYTTG cho thấy tỷ lệ thất bại điều trị cao với dihydroartemisinin-piperaquine (DP) dao động từ khoảng 26% tới 46%. Bài báo trong tạp chí Lancet khẳng định dữ liệu được công bố hồi đầu năm nay bởi NMCP Việt Nam và TCYTTG và cho chúng ta một bức tranh rõ ràng hơn về gen của ký sinh trùng chịu trách nhiệm đối với tỷ lệ thất bại điều trị cao này.

Trong khi rõ ràng chúng ta đang quan tâm đến tình trạng đa kháng thuốc tại Việt Nam, chúng tôi rất hoan nghênh 2 phát triển gần đây. Đầu tiên, vào tháng 9 năm 2016, NMCP của Việt Nam thay đổi chính sách của mình đối với thuốc điều trị ưu tiên với bệnh sốt rét, thay thế DP (ở các tỉnh nơi DP thất bại) bằng artesunate-mefloquin, một thuốc điều trị hiệu quả chống lại chủng ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc được báo cáo trongbài báo trên tạp chí Lancet. Thứ hai, NMCP, dưới sự hỗ trợ của TCYTTTG đã và đang thử nghiệm một liệu pháp thuốc phối hợp dựa vào gốc artemisinin (ACTs) mới là artesunate-pyronaridine (biệt dược Pyramax). Dữ liệu ban đầu cho thấy thuốc có tỷ lệ hiệu lực và hiệu quả rất cao, ngay cả trong các khu vực tại Việt Nam có chủng P. falciparum kháng thuốc.

Hơn nữa, điều quan trọng cần lưu ý là từ năm 2008, khi kháng artemisinin lần đầu tiên được phát hiện tại khu vực GMS, đã có một sự giảm quan trọng về tỷ lệ mắc bệnh sốt rét và tử vong. Theo ước tính của TCYTTG, tỷ lệ mắc mới sốt rét ở các nước trong khu vực GMS đã giảm 54% trong giai đoạn 2012-2015. Tỷ lệ tử vong sốt rét giảm 84% so với cùng kỳ. Năm ngoái, có khoảng 200 ca tử vong do sốt rét và chưa đến 300.000 ca được báo cáo ở 5 nước trong GMS. Tiếp cận không đầy đủ đến chẩn đoán sớm và điều trị (và không kháng thuốc) vẫn còn là yếu tố nguy cơ chính cho các ca tử vong do sốt rét ở tiểu vùng này. Cuối cùng, ký sinh trùng kháng với các thuốc sốt rét là một vấn đề nghiêm trọng, nhưng chúng ta không nên tạo ra một cảnh báo không cần thiết. Cung cấp việc tiếp cận kịp thời vào phòng chống sốt rét, chẩn đoán và điều trị phải là trọng tâm chính của chúng ta. Một số báo cáo mới cho rằng chủng ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc được phát hiện tại Việt Nam không thể bị giết chết bởi các loại thuốc sốt rét hiện dùng. Điều này có chính xác không?

Không, loại thuốc mới được xem là thuốc điều trị ưu tiên tại Việt Nam, artesunate-mefloquine, vẫn còn hiệu quả cao chống lại chủng này cũng như ACT mới là artesunate-pyronaridine. Cho đến nay, chúng tôi đã có những lựa chọn thuốc điều trị hiệu quả cho tất cả các ký sinh trùng sốt rét đã được phát hiện trên toàn cầu.

Liệu KSTSR kháng thuốc có khả năng lan từ GMS sang Ấn Độ và Châu Phi không?

Vào tháng 12 năm 2016, theo yêu cầu của Ủy ban tư vấn chính sách về sốt rét (Malaria Policy Advisory Committee -MPAC), Ủy ban tư vấn hàng đầu về sốt rét của TCYTTG, một nhóm xem xét bằng chứng (Evidence Review Group -ERG) đã phân tích một loạt các bằng chứng về sự xuất hiện và lây lan của chủng P. falciparum kháng đa thuốc tại GMS trong thập kỷ qua. Một báo cáo đầy đủvề cuộc họp ERG này hiện có sẵn trên trang web của TCYTTG cũng như sự ủng hộ sau đó về báo cáo bởi MPAC trong tháng 3 năm 2017.

Trong khi nhóm này ghi nhận rằng nguy cơ sốt rét kháng thuốc lan rộng đến Ấn Độ và châu Phi không thể đánh giá thấp thì sự đồng thuận rộng rãi là ký sinh trùng kháng thuốc có nhiều khả năng xuất hiện một cách độc lập tại các nơi khác của thế giới hơn là lây lan trực tiếp từ GMS. Tuy nhiên, rất khó để ước tính nguy cơ này với bất kỳ mức độ chính xác nào. Trong một số trường hợp, sự đề kháng với thuốc sốt rét (như chloroquin) đã lan đến các vùng khác. Trong những trường hợp khác (như với mefloquin) là không có.

KSTSR kháng thuốc ACTs này tại khu vực GMS như đã từng xảy ra với CQ vài thập niên qua không?

Một lần nữa, rất khó để có thể tiên đoán với bất kỳ mức độ tin cậy cao nào. Tuy nhiên, có một số cân nhắc quan trọng phải ghi nhớ. Thứ nhất, khi kháng chloroquin xuất hiện ở châu Phi vào những năm 1980, công tác phòng chống sốt rét trên khắp lục địa này rất hạn chế. Ví dụ, tỷ lệ dân số ngủ trong màn chưa đến 1%. May thay, kể từ đó bức tranh sốt rét đã thay đổi đáng kể, với việc triển khai trên diện rộng biện pháp phòng chống muỗi hiệu quả, cải thiện việc xử lý ca bệnh thông qua công cụ chẩn đoán và liệu pháp kết hợp, cải thiện hệ thống y tế, tăng cường giám sát hiệu lực thuốc và hướng dẫn rõ ràng về các chính sách thay đổi, hậu quả của sốt rét kháng thuốc- nếu lan đến Ấn độ hay châu Phi thì sẽ ít nghiêm trọng hơn vào hôm nay so với những hậu quả được nhìn thấy với choloroquine vào những năm 1980s.

Thứ hai, chúng tôi hy vọng rằng - với việc đầu tư vào nghiên cứu và phát triển các công cụ mới, bao gồm các loại thuốc mới, sẽ cho phép chúng ta vượt qua những thách thức đa kháng thuốc trong tiểu vùng Mê Kông.

TCYTTG có xem xét mối đe dọa của kháng thuốc sốt rét như là một tình trạng khẩn cấp về y tế công cộng cần có sự quan tâm quốc tế hay không?

Không phải vào lúc này. Một trường hợp khẩn cấp y tế cộng đồng cần có sự quan tâm quốc tế (public health emergency of international concern - PHEIC), được định nghĩa trong Điều lệ kiểm dịch Y tế quốc tế (International Health Regulations -IHR) là một "sự kiện bất thường." Các quy định này được thiết kế để giải quyết một tình trạng y tế công cộng cấp bách (trái ngược với điều thường diễn ra lâu dài). Cộng đồng y tế công cộng đã được biết đến sự xuất hiện và lây lan của kháng đa tthuốc trong tiểu vùng này trong nhiều năm và đang giải quyết nó thông qua hoạt động của chương trình phòng chống và loại trừ sốt rét quốc gia.

Các cuộc họp trong cả hai năm 2012 và 2014, nhóm chuyên gia kỹ thuật về kháng thuốc và ngăn chặn kết luận rằng kháng artemisinin không cấu thành một PHEIC vì các điều kiện cho PHEIC không được đáp ứng. Những kết luận này đã được MPAC thông qua.

TCYTTG đang làm gì để ngăn chặn sự lây lan kháng thuốc sốt rét ở tiểu vùng Mê Kông?

TCYTTG đã và đang phối hợp và lãnh đạo các nỗ lực toàn cầu để chống lại sự đề kháng artemisinin ngay từ đầu, cung cấp hướng dẫn kỹ thuật và huy động các đối tác hành động. Trong năm 2013, TCYTTG phát động kế hoạch đáp ứng khẩn cấp đến kháng artemisinin (Emergency response to artemisinin resistance-ERAR) trong tiểu vùng Mê Kông, một kế hoạch tấn công ở mức cao nhằm kiềm chế sự lây lan của ký sinh trùng kháng thuốc và cung cấp các công cụ cứu mạng sống cho tất cả các quần thể có nguy cơ sốt rét.

Năm 2015, các Bộ trưởng Bộ Y tế khu vực GMS đã thông qua Chiến lược của TCYTTG về Loại trừ sốt rét ở Tiểu vùng sông Mê kông (2015-2030). Kế hoạch này nhằm mục đích loại bỏ sốt rét P. falciparum khỏitiểu vùng GMS vào năm 2025 và tất cả chủng sốt rét ở người vào năm 2030. Hành động ưu tiên được nhắm mục tiêu đến những nơi bệnh sốt rét kháng đa thuốc là nguồn cội. Chiến lược này của tiểu vùng là hoàn toàn phù hợp với các mục tiêu và chỉ tiêu của Chiến lược kỹ thuật toàn cầu về sốt rét của TCYTTG giai đoạn 2016-2030, được thông qua bởi Đại Hội đồng Y tế thế giới trong tháng 5 năm 2015.

Với hướng dẫn kỹ thuật của TCYTTG, tất cả các nước trong khu vực GMS đã xây dựng kế hoạch loại trừ sốt rét quốc gia. Cung cấp tiếp cận tới phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị cho tất cả các quần thể có nguy cơ sốt rét là một ưu tiên hàng đầu. Giám sát hiệu lực thuốc và tăng cường hệ thống giám sát là những yếu tố cốt lõi khác trong công việc của chúng tôi. Các ưu tiên khác trong nỗ lực của tiểu vùng này được mô tả chi tiết trong một báo cáo được công bố vào tháng 11 vừa qua. Công việc của TCYTTG trong khu vực GMS là một nỗ lực hợp tác liên quan đến đội ngũ kỹ thuật có trụ sở tại 6 văn phòng quốc gia, tại các văn phòng khu vực ở New Delhi và Manila, tại một trung tâm khu vực đặc biệt ở Phnom Penh, và tại trụ sở chính ở Geneva của TCYTTG. Đó là một sáng kiến ​​độc đáo về nguồn nhân lực được triển khai và mức độ lồng ghép trên nhiều lĩnh vực của Tổ chức Y tế thế giới.

TCYTTG đang dẫn đầu các nỗ lực loại trừ trong khu vực GMS với sự hỗ trợ của một số đối tác, trong đó có Quỹ Toàn cầu phòng chống AIDS, Lao và Sốt rét, Quỹ Bill & Melinda Gates, USAID và Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc. Chúng ta đang chiến thắng trong cuộc chiến sốt rét. Chúng ta đang đi đúng hướng. Việc làm giảm lớn số lượng ca bệnh và tử vong được báo cáo trong các nước trong khu vực GMS là một minh chứng cho sự tiến bộ bền vững đã đạt được trên con đường hướng tới loại trừ sốt rét trong tiểu vùng này. Chỉ thông qua việc loại trừ ký sinh trùng này chúng ta sẽ loại bỏ một lần và mãi mãi vấn đề kháng thuốc ở tiểu vùng này.

Kháng thuốc ở Tiểu vùng sông Mêkông: Tóm tắt lịch sử

GMS từ lâu đã là tâm điểm của kháng thuốc sốt rét. Ký sinh trùng kháng chloroquin lần đầu tiên được phát hiện vào cuối những năm 1950 dọc biên giới Campuchia-Thái Lan. Sự đề khángcủa ký sinh trùng sốt rét P. falciparum với artemisinin lần đầu tiên được xác định dọc theo biên giới Campuchia-Thái Lan vào cuối năm 2008. Cho đến nay, kháng artemisinin đã được phát hiện tại 5 quốc gia của GMS gồm Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam.

Sự đề kháng đối với các thuốc đối tác ACT cũng xuất hiện ở một số khu vực của GMS. Điều trị thất bại với dihydroartemisinin-piperaquine (DP) được báo cáo ở Campuchia vào đầu năm 2009 và gần đây hơn là ở Lào. Bốn nghiên cứu được thực hiện bởi NMCP của Việt Nam trong năm 2014 và 2015 đã chứng minh tỷ lệ thất bại điều trị cao đối với thuốc DP. Khi kháng artemisinin lần đầu tiên được xác định dọc biên giới Campuchia - Thái Lan trong năm 2008, WHO đã hành động ngay lập tức để ngăn chặn sự lây lan của nó. Một nỗ lực phối hợp trong khu vực để loại trừ khả năng lan truyền bệnh sốt rét trong GMS là rất quan trọng để bảo vệ hiệu quả các loại thuốc sốt rét hiện có.

Các định nghĩa chính: ACTs và kháng artemisinin

Artemisinin và các dẫn xuất của nó là các thuốc rất hiệu quả được biết đến với khả năng nhanh chóng làm giảm số lượng ký sinh trùng trong máu của bệnh nhân sốt rét. Liệu pháp phối hợp dựa vào artemisinin (ACTs) được TCYTTG khuyến cáo là thuốc điều trị ưu tiên đối với sốt rét P. falciparum chưa biến chứng. Trong 15 năm qua, việc mở rộng tiếp cận với ACT trong các quốc gia lưu hành sốt rét đã đóng một vai trò quan trọng trong việc làm giảm gánh nặng bệnh sốt rét trên toàn cầu.

ACTs là sự kết hợp artemisinin với một trong số các thuốc đối tác. Vai trò của artemisinin là làm giảm đáng kể số lượng ký sinh trùng trong máu trong 3 ngày đầu điều trị. Vai trò của thuốc đối tác là loại trừ bất cứ ký sinh trùng nào còn tồn tại sau đó.Kháng artemisinin được định nghĩa là một sự chậm trễ trong việc làm sạch ký sinh trùng khỏi máu sau khi điều trị bằng ACT. Hiện nay, hầu hết các bệnh nhân sạch ký sinh trùng chậm vẫn được chữa khỏi bởi ACTs được cung cấp với một thuốc đối tác vẫn còn hiệu quả . Như vậy, bảo vệ hiệu quả của artemisinin và các thuốc đối tác của nó là rất quan trọng.


Tài liệu tham khảo

[1] Spread of a single multidrug resistant malaria parasite lineage (PfPailin) to Vietnam (http://dx.doi.org/10.1016/S1473-3099(17)30524-8

[2] The spread of artemisinin-resistant P.falciparum in the Greater Mekong subregion: a molecular epidemiology observational study (http://dx.doi.org/10.1016/S1473-3099(17)30048-8)

[3] DP, an artemisinin-based combination therapy, is the first-line treatment for uncomplicated P. falciparum malaria in some parts of the Greater Mekong Subregion. 

[4] According to the World Malaria Report 2016, nearly 60% of the population in Africa is now protected from malaria through either insecticide-treated nets or indoor residual spraying.

 

Ngày 24/10/2017
Ths.Bs Lê Thạnh
( Nguồn: who.int.com)
 

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên khoa của Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn về các bệnh ký sinh trùng và các bệnh do véc tơ truyền, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng mới nổi như sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ, giun lươn, giun đũa chó và các bệnh thông thường khác; khám và xét nghiệm chẩn đoán bệnh bằng các phương tiện kỹ thuật cao như sinh hóa, huyết học, miễn dịch (ELISA), sinh học phân tử và chẩn đoán hình ảnh bằng nội soi tiêu hóa, siêu âm màu…

   Trung tâm Dịch vụ khoa học kỹ thuật của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế chuyên sản xuất mua bán hóa chất, vật tư, chế phẩm diệt côn trùng; dịch vụ diệt côn trùng gây bệnh, côn trùng gia dụng như muỗi, ruồi, gián, kiến…; dịch vụ phòng diệt mối mọt và xét nghiệm phát hiện tôm bằng các kỹ thuật hiện đại.


 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 CHUYÊN ĐỀ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: Khu vực 8-Phường Nhơn Phú-Thành phố Quy Nhơn- Tỉnh Bình Định.
Tel: (84) 0256.3547492 - Fax: (84) 0256.3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng ban biên tập: TTND.PGS.TS. Nguyễn Văn Chương - Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích