Home TRANG CHỦ Chủ nhật, ngày 15/12/2019
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Web Sites & Commerce Tin tức - Sự kiện
Web Sites & Commerce Hoạt động hợp tác
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Web Sites & Commerce Chuyên đề
Web Sites & Commerce Tư vấn sức khỏe
Web Sites & Commerce Tạp chí-Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động Đảng & Đoàn thể
Finance & Retail Bạn trẻ
Nhịp sống trẻ
Công nghệ số
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Trung tâm dịch vụ
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
3 9 5 9 3 0 1 9
Số người đang truy cập
4 6
 Bạn trẻ Nhịp sống trẻ
WHO: Thông tin cập nhật về ngừa thai khẩn cấp

Cập nhật tháng 6/2017. Tổ chức Y tế thế giới (WHO)-Ngừa thai khẩn cấp (Emergency contraception) đề cập đến các phương pháp tránh thai có thể được sử dụng để ngăn ngừa mang thai sau khi quan hệ tình dục là những khuyến cáo sử dụng trong vòng 5 ngày nhưng có hiệu quả hơn khi chúng được sử dụng sớm hơn sau khi giao hợp. 

Phương thức hành động (Mode of action)

Các thuốc tránh thai khẩn cấp ngăn ngừa mang thai bằng cách ngăn chặn hoặc trì hoãn rụng trứng và chúng không gây phá thai, dụng cụ tránh thai bằng đồng đặt trong tử cung (IUD) ngăn ngừa thụ tinh bằng cách gây ra một sự thay đổi hóa học trong tinh trùng và trứng trước khi chúng gặp nhau, ngừa thai khẩn cấp không thể phá hủy một thai nhi đã hình thành hoặc gây tổn hại cho một phôi thai đang phát triển.

Ai có thể sử dụng biện pháp ngừa thai khẩn cấp? (Who can use emergency contraception?)

Bất kỳ người phụ nữ hoặc trẻ em gái nào trong độ tuổi sinh sản có thể cần các biện pháp ngừa thai khẩn cấp để tránh mang thai ngoài ý muốn, không có chống chỉ định y tế tuyệt đối việc sử dụng các biện pháp ngừa thai khẩn cấp, không giới hạn tuổi cho việc sử dụng các biện pháp ngừa thai khẩn cấp, tiêu chí đủ điều kiện để sử dụng IUD nói chung cũng được áp dụng cho việc sử dụng IUD cho các mục đích khẩn cấp.

Trong những tình huống nào ngừa thai khẩn cấp có thể được sử dụng? (In what situations can emergency contraception be used?)

Ngừa thai khẩn cấp có thể được sử dụng trong một số tình huống sau quan hệ tình dục khi không sử dụng các biện pháp tránh thai; tấn công tình dục khi người phụ nữ đã không được bảo vệ bởi một phương pháp tránh thai hiệu quả; khi có mối quan ngại về thất bại tránh thai có thể do việc sử dụng không đúng cách hoặc không chính xác như vỡ bao cao su, hết hạn dùng hoặc sử dụng không đúng; 3 hay nhiều hơn lần bỏ lỡ liên tiếp kết hợp thuốc tránh thai đường uống; chậm hơn 3 giờ kể từ thời điểm thông thường sử dụng viên thuốc chỉ có progestogen-(minipill) hoặc hơn 27 giờ sau khi uống viên thuốc trước đó; chậm hơn 12 giờ kể từ thời điểm thông thường sử dụng thuốc chứa desogestrel (0,75 mg) hoặc hơn 36 giờ sau khi uống viên thuốc trước đó; chậm hơn 2 tuần sau khi tiêm thuôc chỉ có enanthate norethisterone (NET-EN) progestogen; chậm hơn 4 tuần sau khi tiêm thuốc chỉ có depot-medroxyprogesterone acetate (DMPA) tiêm progestogen chỉ; chậm hơn 7 ngày sử dụng thuốc tránh thai dạng tiêm kết hợp (CIC); sự rút ra, vỡ, rách, hoặc rút ra sớm một màng ngăn hay mũ cổ tử cung; rút thất bại (ví dụ xuất tinh trong âm đạo hoặc cơ quan sinh dục bên ngoài); thất bại của một viên thuốc diệt tinh trùng hoặc màng ngăn tan chảy trước khi giao hợp; tính toán sai lầm về thời kỳ kiêng cữ, hay thất bại để tránh hoặc sử dụng một phương pháp ngăn chặn về ngày rụng trứng của chu kỳ khi sử dụng phương pháp dựa trên nhận thức khả năng sinh sản hoặc lấy dụng cụ tránh thai đặt trong tử cung tránh thai (IUD) hoặc cấy ghép viên tránh thai nội tiết tố, một sự cung cấp ECPs trước có thể được cho tới một người phụ nữ để đảm bảo rằng người phụ nữ sẽ có chúng sẵn khi cần thiết và có thể sử dụng càng sớm càng tốt sau khi giao hợp không được bảo vệ.

Chuyển sang biện pháp tránh thai thông thường (Shifting to regular contraception)

Sau khi sử dụng ECPs, phụ nữ hoặc trẻ em gái có thể tiếp tục hoặc bắt đầu một phương pháp tránh thai thông thường, nếu một dụng cụ bằng đồng đặt trong tử cung được sử dụng để tránh thai khẩn cấp thì không cần thiết có các biện pháp tránh thai bổ sung. Sau khi dùng ECPs với levonorgestrel (LNG) hoặc các kết hợp các viên thuốc ngừa thai bằng đường uống (COC), phụ nữ hoặc trẻ em gái có thể tiếp tục biện pháp tránh thai của họ hoặc bắt đầu bất kỳ biện pháp tránh thai ngay lập tức, trong đó có một dụng cụ bằng đồng đặt trong tử cung. Sau khi sử dụng ECPs với acetate ulipristal (UPA), phụ nữ hoặc trẻ em gái có thể tiếp tục hoặc bắt đầu bất kỳ phương pháp nào có chứa progestogen (hoặc ngừa thai nội tiết kết hợp hoặc ngừa thai chỉ có progestogen) vào ngày thứ 6 sau khi sử dung UPA có thể có một LNG-IUD đặt ngay lập tức nếu nó có thể được xác định họ không có thai, họ có thể có IUD chèn vào ngay lập tức.

Các phương pháp ngừa thai khẩn cấp (Methods of emergency contraception)

Có 4 phương pháp ngừa thai khẩn cấp bao gồm ECPs chứa UPA; ECPs chứa LNG; thuốc tránh thai đường uống kết hợp; dụng cụ bằng đồng đặt trong tử cung. Thuốc ngừa thai khẩn cấp (ECPs) và thuốc ngừa thai đường uống kết hợp (COCs), WHO khuyến cáo một trong các loại thuốc sau đây dùng để ngừa thai khẩn cấp: ECPs với UPA, sử dụng một liều duy nhất 30 mg; ECPs với LNG sử dụng một liều duy nhất 1,5 mg, hoặc cách khác, LNG thực hiện 2 liều mỗi liều 0,75 mg, cách nhau 12 giờ.; COCs, sử dụng một liều tách rời, một liều 100 mg ethinyl estradiol cộng với 0,50 mg LNG, theo sau là một liều thứ hai là 100 mg ethinyl estradiol cộng với 0,50 mg LNG 12 giờ sau đó (Yuzpe phương pháp Yuzpe)

- Hiệu quả (Effectiveness): Một phân tích đa biến của hai nghiên cứu cho thấy rằng những phụ nữ dùng ECPs với UPA có tỷ lệ mang thai là 1,2%. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng ECPs với LNG có tỷ lệ mang thai từ 1,2% tới 2,1% (1) (2). Lý tưởng nhất, ECPs với UPA, ECPs với LNG hoặc COCs cần được sử dụng càng sớm càng tốt sau khi giao hợp không được bảo vệ, trong vòng 120 giờ. ECPs với UPA có hiệu quả hơn từ 72-120 giờ sau khi giao hợp không được bảo vệ hơn ECPs khác.

- An toàn (Safety): Tác dụng phụ của việc sử dụng ECPs tương tự như tác dụng phụ của các thuốc ngừa thai đường uống như buồn nôn và nôn,chảy máu âm đạo bất thường nhẹ, và mệt mỏi. Tác dụng phụ là không phổ biến,chúng đều nhẹ và thường sẽ giải quyết mà không cần dùng thuốc, nếu nôn xảy ra trong vòng 2 giờ sau khi uống một liều, thì liều dùng nên được dùng lặp lại. ECPs với LNG hoặc với UPA là thích hợp hơn với COC vì chúng ít gây buồn nôn và nôn, sử dụng thường xuyên thuốc chống nôn trước khi dùng ECPs không được khuyến cáo. Thuốc dùng để ngừa thai khẩn cấp không gây tổn hại cho khả năng sinh sản trong tương lai, không có sự chậm trễ trong việc quay trở lại khả năng sinh sản sau khi uống thuốc này..

- Tiêu chí đủ điều kiện y tế (Medical eligibility criteria): Không có giới hạn cho đủ điều kiện y tế của những người có thể sử dụng thuốc này nhưng một số phụ nữ sử dụng nhiều lần ECPs cho bất kỳ lý do nào đã nêu ở trên hoặc như phương pháp tránh thai chính của họ, trong những tình huống như vậy tư vấn tiếp tục cần được đưa ra về những gì khác và thêm nhiều lựa chọn biện pháp tránh thai thường xuyên có thể thích hợp hơn và hiệu quả hơn. Sử dụng ECP thường xuyên và lặp đi lặp lạị có thể có hại cho phụ nữ có các điều kiện được phân loại là tiêu chuẩn đủ điều kiện y tế (MEC) loại 2, 3, hoặc 4 sử dụng thuốc tránh thai hormon kết hợp hoặc biện pháp tránh thai chỉ có progestin (POC). Thường xuyên sử dụng biện pháp tránh thai khẩn cấp có thể dẫn đến gia tăng tác dụng phụ như kinh nguyệt không đều, mặc dù sử dụng lặp đi lặp lại của họ không gây ra nguy cơ sức khỏe được biết đến. Thuốc ngừa thai khẩn cấp được biết là có ít hiệu quả ở phụ nữ béo phì (có chỉ số khối cơ thể hơn 30 kg/m2) nhưng không có vấn đề an toàn, phụ nữ béo phì không nên từ chối tiếp cận tớingừa thai khẩn cấp khi họ cần. Tư vấn việc dùng thuốc ngừa thai khẩn cấp nên bao gồm các tùy chọn để sử dụng biện pháp tránh thai thường xuyên và tư vấn về cách sử dụng các phương pháp sử dụng một cách chính xác trong trường hợp thất bại phương pháp nhận thức.

Dụng cụ bằng đồng đặt trong tử cung (Copper-bearing intrauterine devices)

WHO khuyến cáo IUD khi sử dụng như một phương pháp tránh thai khẩn cấp được đặt trong vòng 5 ngày từ khi giao hợp không được bảo vệ đặc biệt thích hợp cho những phụ nữ muốn bắt đầu sử dụng một phương pháp ngừa thai hiệu quả cao, tác dụng lâu dài, có thể đảo ngược.

- Hiệu quả (Effectiveness): khi đặt trong vòng 120 giờ giao hợp không được bảo vệ, một IUD có hiệu quả hơn 99% trong việc ngăn ngừa mang thai là hình thức ngừa thai khẩn cấp hiệu quả nhất có sẵn. Khi đặt IUD, phụ nữ có thể tiếp tục sử dụng vòng tránh thai như phương pháp ngừa thai liên tục hoặc có thể chọn để chuyển sang phương pháp ngừa thai khác.

- An toàn (Safety): Một IUD là một hình thức ngừa thai khẩn cấp an toàn ước tính có thể có chưa tới 2 trường hợp bệnh viêm đường chậu (PID) trên 1000 người dùng (3), ( Cẩm nang toàn cầu FP), những nguy cơ tống ra ngoài hoặc chọc thủng là thấp.

Tiêu chí đủ điều kiện y tế (Medical eligibility criteria).

- Tiêu chí đủ điều kiện để sử dụng một IUD nói chung cũng được áp dụng cho việc sử dụng một dụng cụ bằng đồng đặt trong tử cung (copper IUD) cho các mục đích khẩn cấp, những phụ nữ có tình trạng được phân loại là MEC loại 3 hoặc 4 (ví dụ, với nhiễm trùng vùng chậu hiện tại, nhiễm trùng hậu sản, chảy máu âm đạo không rõ nguyên nhân, ung thư cổ tử cung, hoặc giảm tiểu cầu nặng) với dụng cụ bằng đồng đặt trong tử cung không nên sử dụng một dụng cụ bằng đồng đặt trong tử cung cho các mục đích khẩn cấp. Bên cạnh đó, một dụng cụ bằng đồng đặt trong tử cung không nên được đưa vào vì mục đích ngừa thai khẩn cấp sau tấn công tình dục vì người phụ nữ có thể có nguy cơ cao nhiễm trùng lây qua đường tình dục như chlamydia và bệnh lậu. Một dụng cụ bằng đồng đặt trong tử cung không nên được sử dụng như biện pháp tránh thai khẩn cấp khi một người phụ nữ đã mang thai. Tiêu chí đủ điều kiện y tế (WHO Medical eligibility criteria for contraceptive use) của WHO cho các quốc gia sử dụng biện pháp tránh thai cho biết đặt dụng cụ tránh thai có thể làm tăng thêm nguy cơ PID ở những phụ nữ có nguy cơ gia tăng các bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STIs), mặc dù bằng chứng hạn chế cho thấy rằng nguy cơ này là thấp. Các thuật toán hiện hành xác định nguy cơ gia tăng STIs có giá trị tiên đoán nghèo, nguy cơ STIs khác nhau tùy theo từng hành vi cá nhân và tỷ lệ STI tại chỗ vì vậy trong khi nhiều phụ nữ có nguy cơ STIs cao thường có thể đã đặt IUD, một số phụ nữ có khả năng rất cao của STIs không nên đặt dung cụ tử cung cho đến khi thích hợp.

Những khuyến nghị của WHO cho việc cung cấp biện pháp ngừa thai khẩn cấp (WHO recommendations for provision of emergency contraception)

Tất cả phụ nữ và trẻ em gái có nguy cơ mang thai ngoài ý muốn có quyền tiếp cận tới các biện pháp ngừa thai khẩn cấp và những phương pháp này nên thường xuyên bao gồm trong tất cả các chương trình quốc gia về kế hoạch hóa gia đình, hơn nữa ngừa thai khẩn cấp cần được lồng ghép vào các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân có nguy cơ tiếp xúc với quan hệ tình dục không được bảo vệ bao gồm chăm sóc sau tấn công tình dục và dịch vụ cho phụ nữ và trẻ em gái đang sống trong các nơi có tình trạng khẩn cấp và nhân đạo. WHO tái khẳng định cam kết của mình liên tục xem xét bằng chứng mới nổi thông qua Xác định liên tục của hệ thống Nghiên cứu bằng chứng (CIRE) và cũng có thể bằng cách thường xuyên cập nhật hướng dẫn cho phù hợp.


Tài liệu tham khảo:

·1. Can we identify women at risk of pregnancy despite using emergency contraception? Data from randomized trials of ulipristal acetate and levonorgestrel.
Glasier A, Cameron ST, Blithe D, Scherrer B, Mathe H, Levy D, et al. Contraception. 2011 Oct;84(4):363-7. doi: 10.1016/j.contraception.2011.02.009. Epub 2011 Apr 2.

·2. Effect of BMI and body weight o­n pregnancy rates with LNG as emergency contraception: analysis of four WHO HRP studies.
Festin MP, Peregoudov A, Seuc A, Kiarie J, Temmerman M. Contraception. 2017 Jan;95(1):50-54. doi: 10.1016/j.contraception.2016.08.001. Epub 2016 Aug 12.

·3. Family planning: a global handbook for providers 2011 Update
Johns Hopkins Bloomberg School of Public Health/Center for Communication Programs and World Health Organization

 

 

Ngày 22/06/2017
Ths.Bs. Lê Thạnh
(Biên dịch từ who.int.com)
 

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên khoa của Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn về các bệnh ký sinh trùng và các bệnh do véc tơ truyền, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng mới nổi như sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ, giun lươn, giun đũa chó và các bệnh thông thường khác; khám và xét nghiệm chẩn đoán bệnh bằng các phương tiện kỹ thuật cao như sinh hóa, huyết học, miễn dịch (ELISA), sinh học phân tử và chẩn đoán hình ảnh bằng nội soi tiêu hóa, siêu âm màu…

   Trung tâm Dịch vụ khoa học kỹ thuật của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế chuyên sản xuất mua bán hóa chất, vật tư, chế phẩm diệt côn trùng; dịch vụ diệt côn trùng gây bệnh, côn trùng gia dụng như muỗi, ruồi, gián, kiến…; dịch vụ phòng diệt mối mọt và xét nghiệm phát hiện tôm bằng các kỹ thuật hiện đại.


 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 CHUYÊN ĐỀ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: Khu vực 8-Phường Nhơn Phú-Thành phố Quy Nhơn-Tỉnh Bình Định.
Tel: (84) 0256.3547492 - Fax: (84) 0256.3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng Ban biên tập: TTND.PGS.TS. Hồ Văn Hoàng-Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích