Home TRANG CHỦ Chủ nhật, ngày 15/12/2019
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Web Sites & Commerce Tin tức - Sự kiện
Web Sites & Commerce Hoạt động hợp tác
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Finance & Retail Chuyên đề
Dịch tễ học
Côn trùng học
Nghiên cứu lâm sàng & điều trị
Ký sinh trùng sốt rét
Ký sinh trùng
Sinh học phân tử
Sán lá gan
Sốt xuất huyết
Bệnh do véc tơ truyền
Vi khuẩn & Vi rút
Sán
Giun
Nấm-Đơn bào
Web Sites & Commerce Tư vấn sức khỏe
Web Sites & Commerce Tạp chí-Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động Đảng & Đoàn thể
Web Sites & Commerce Bạn trẻ
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Trung tâm dịch vụ
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
3 9 5 9 2 6 8 9
Số người đang truy cập
3 9
 Chuyên đề Sán
Thông tin cập nhật tháng 7/2015 của WHO về bệnh sán dây/nang sán

Thông tin cập nhật tháng 7/2015 của Tổ chức Y tế tế giới (WHO) về bệnh sán dây/nang sán (Taeniasis/cysticercosis). Bệnh do sán dây lợn (Taenia solium) xảy ra trong hai hình thức: bệnh sán dây nang sán.Bệnh sán dây nhiễm trùng đường ruột với sán dây trưởng thànhlà một bệnh nhẹ nhưng có tầm quan trọng y tế công cộng đáng kể vì nó đóng một vai trò quan trọng trong việc lan truyền nang sán, một căn bệnh nghiêm trọng.


Nguy cơ mắc bệnh sán dây bò từ
ăn thị bò quấn cải chưa nấu chín

Theo WHO, nang sán là nhiễm trùng với giai đoạn ấu trùng (cysticerci) của sán dây,bên trong cơ thể các ấu trùng có thể phát triển trong một số , những ấu trùng này nằm trong hệ thống thần kinh trung ương gây ra nang sán,thể nghiêm trọng nhất của bệnh.Nang sán thần kinh (Neurocysticercosis) được coi là một nhiễm trùng phổ biến của hệ thống thần kinh trung ương là nguyên nhân thường gặp nhất của bệnh động kinh có thể phòng ngừa ở các nước đang phát triển.Hơn 80%của 50 triệu người trên thế giới bị ảnh hưởng bởi chứng động kinh sống ở các nước đang phát triển, và nhiều trong đó là do nhiễm trùng T. solium ở người và lợn.Bệnh nang sán chủ yếu ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh kế của nông dân ở các nước đang phát triển của châu Phi, châu Á và Mỹ Latinh,trong thực tế, bên cạnh việc dẫn đến bệnh động kinh và tử vong ở người, bệnh nang sán cũng làm giảm giá trị thị trường của lợn và làm cho thịt lợn không an toàn để ăn.Mặc dù về mặt lý thuyết tuân thviệc phòng chống và tuyên bốcó thể thanh toán bởi Lực lượng đặc nhiệm quốc tế về thanh toán bệnhvào năm 1993,bệnh nang sán do T. solium vẫn còn là một căn bệnh bị lãng quênchủ yếu là do thiếu thông tin về gánh nặng bệnh sự lan truyền, thiếu các công cụ chẩn đoán có sẵn để sử dụng trong lĩnh vực này, và sự thiếu xác nhận của các gói can thiệp đơn giản được sử dụng như là một phần của các chiến lược phòng chống giun sán lồng ghép.


Nhiễm sán dây do ăn thức ăn chưa nấu chín

Theo cẩm nang phòng chống bệnh truyền nhiễm của Bộ Y tế (MoH), bệnh sán dây (Taeniasis) có mã hiệu bệnh quốc tế là ICD-10 B68: Taeniasis bao gồm 2 loại sán dây lợn và sán dây bò, thuộc nhóm C trong Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm.


Sán dây lợn (Taenis solium) và chu kỳ sán dây lợn

- Bệnh sán dây lợn do Taenis solium gây ra, sán ký sinh ở ruột non gây rối loạn tiêu hoá và có thể gây bệnh ấu trùng ở các bộ phận trong cơ thể và nang ấu trùng ở sán trong thịt lợn, đường lây truyền bệnh chủ yếu qua đường tiêu hoá khi ănn thịt lợn nấu chưa chín, nem chua. Bệnh nhân thải trứng sán ra đất, trứng sán sống ở đất nhiều tháng, từ khi nhiễm nang ấu trùng sán đến khi sán trưởng thành khoảng 10 tuần.


Sán dây bò (Taenia saginata)

- Bệnhsán dây bò do Taenia saginata gây ra, loài sán này thường gặp ở những nơi gia súc được nuôi bởi những người bệnh duy trì vệ sinh kém, phân người được xử lý không phù hợp, chương trình kiểm dịch thịt yếu kém, thịt được ăn khi nấu chưa chín kỹ. Loài sán này dài từ 4-12 m, thân có trên 1.000 đốt, đốt trưởng thành dài khoảng 20-30 mm, sán dây bò có thể sống trong cơ thể con người từ 50 - 70 năm.


Chu
kỳ nhiễm sán dây bò

Sự lan truyền sán dây/nang sán (Transmission of taeniasis/cysticercosis)

Chỉ có con người có thể bị nhiễm sán dây lợn trưởng thànhT. solium,bệnh sán dây được mắc phải bởi con người thông qua việc ăn uống vô ý của các ấu trùng trong thịt lợn chưa nấu chín. Khi ở trong cơ thể con người, ấu trùng phát triển thành giun trưởng thành sống trong ruột và phóng thích trứng mang các đốt sán mang trứng được thải ra trong phân. Bệnh nang sán mắc phải khi các đốt sán hoặc trứng được ăn vào bụng là một nhiễm trùng tự nhiên của lợn nhưng nó cũng có thể ảnh hưởng đến con người, thường là khi họ nuốt đất, nước hoặc thực phẩm ( chủ yếu là rau quả) bị ô nhiễm bởi trứng T.solium. Bệnh sán dây và nang sán rất phổ biến ở những nơi có tập quán chăn nuôi động vật khi mà lợn tiếp xúc với phân người, tần suất của cả hai tình trạng bệnh lý này đã giảm ở các nước phát triển do tiêu chuẩn kiểm tra thịt khắt khe, lưu giữ vật nuôi, cải thiện các điều kiện vệ sinh tốt hơn.


Sự lan truyền sán dây/nang sán (Transmission of taeniasis/cysticercosis)

Các dấu hiệu, triệu chứng và điều trị bệnh sán dây/nang sán (Signs, symptoms and treatment of taeniasis/cysticercosis)

Bệnh sán dây do T. solium thường được đặc trưng bởi các dấu hiệu và triệu chứng nhẹ và không đặc hiệu; 6-8 tuần sau khi ăn phải các ấu trùng, đau bụng, buồn nôn, tiêu chảy hoặc táo bón có thể phát sinh kéo dài cho đến khi sán dây chết sau khi điều trị (nếu không nó có thể sống trong nhiều năm). Thời kỳ ủ bệnh nang sán do T. solium có thể thay đổi và những người bị nhiễm bệnh có thể vẫn còn không có triệu chứng trong nhiều năm, các vị trí của nhiễm trùng thường xuyên nhất nhắc nhở bởi một tư vấn y tế là bộ não, tiếp theo là mắt và các mô xung quanh của nó. Khi u nang được ghi nhận bởi vật chủ theo sau sự thoái hóa tự phát hoặc sau khi điều trị, một phản ứng viêm có thể xảy ra và điều này thường dẫn đến các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng bao gồm đau đầu mãn tính, mù lòa, động kinh (động kinh nếu chúng tái diễn), tràn dịch não, viêm màng não, các triệu chứng gây ra bởi tổn thương xâm chiếm khoảng không của hệ thống thần kinh trung ương chứng mất trí nhớ. Thời gian của các dấu hiệu và triệu chứng liên quan với bệnh nang sán tỷ lệ bệnh nhân sẽ hoàn toàn phục hồicó hoặc không điều trị, được xác định là bị bệnh. Trong trường hợp nặng, nang sán thể gây tử vong và nó đã được ghi nhận như là một nguyên nhân gây tử vong ở Brazil Hoa Kỳ. Phù xung quanh các u hạt nang sán bị vôi hóa cũng đã được tìm thấy gây ra các triệu chứng.


Albendazol, một trong những thuốc điều trị bệnh sán dây hiệu quả

Điều trị bệnh sán dây có thể bao gồm việc sử dụng Praziquantel (5-10 mg/kg, liều duy nhất) hoặc Niclosamid (người lớn và trẻ em trên 6 tuổi: 2 g, liều duy nhất sau một bữa ăn sáng nhẹ, tiếp sau 2 giờ bởi thuốc nhuận tràng, trẻ em độ tuổi từ 2-6: 1 g, trẻ em dưới 2 tuổi: 500 mg). Việc điều trị bệnh nang sán ở người là khó khăn hơn và có thể bao gồm các liệu trình kéo dài với praziquantel và/hoặc albendazole cũng như điều trị hỗ trợ với corticosteroid và/hoặc các thuốc chống động kinh.
 

Giám sát, phòng, chống bệnh sán dây/nang sán (Surveillance, prevention and control of taeniasis/cysticercosis)

Nhiễm trùng do T. solium đòi hỏi các can thiệp y tế công cộng thích hợp nhằm phòng ngừa, kiểm soát và có thể loại trừ, các can thiệp như vậy về nguyên tắc yêu cầu chế độ kiểm tra thịt nghiêm ngặt, giáo dục sức khỏe, nấu chín thịt lợn, vệ sinh tốt, đủ nước vệ sinh môi trường, cải thiện tập quán chăn nuôi lợn và tiếp cận dễ dàng tới các loại thuốc cho cả người bị nhiễm bệnh những người tiếp xúc gần gũi với họ. Những khó khăn liên quan đến việc thực hiện các biện pháp đó được tăng lên bởi thực tế là dữ liệu dịch tễ học đáng tin cậy về sự phân bố địa lý của bệnh sán dây/nang sán do T. solium ở người và lợn thường bị bỏ sót. Các cơ chế giám sát thích hợp cho phép các trường hợp mới của bệnh nang sán lợn hoặc ở người phải được báo cáo cho các cơ quan quốc gia nhằm tạo thuận lợi cho việc xác định các cộng đồng có nguy cơ cao và tập trung các biện pháp phòng chống và kiểm soát trong các khu vực đó. Xác định các vùng lưu hành bệnh T. solium dựa vào một số các công cụ phát hiện bệnh sán dây và bệnh nang sán ở người hoặc bệnh nang sán ở lợn.

               Theo nghiên cứu dịch tễ học đã chứng minh rằng các ca bệnh nang sán ở người và lợn trường hợp có xu hướng chụm lại quanh những người bị nhiễm sán dây T. solium, những người này đóng vai trò như nguồn lây truyền, nhận dạng những người mang sán dây có thể giúp con người tập trung vào các biện pháp can thiệp y tế công cộng. Các phương pháp có sẵn bao gồm phát hiện trứng trong phân người hoặc ở khu vực quanh hậu môn hoặc phát hiện các kháng nguyên sán dây trong các mẫu phân người. Các sự lựa chọn có sẵn để phát hiện bệnh nang sánngười bao gồm sinh thiết u nang dưới da (một biểu hiện thường gặp của bệnh nang sán ở châu Á), chẩn đoán miễn dịch (phát hiện kháng thể hoặc kháng nguyên ký sinh trùng trong mẫu huyết thanh) và hình ảnh (chụp X quang, chụp cắt lớp vi tính chụp cộng hưởng từ). Các phương pháp phát hiện bệnh nang sán ở lợn bao gồm phương pháp phát hiện nhanh chóng, rẽ tiền về u nang lưỡi nhưng điều này có độ nhạy thấp, hoặc các xét nghiệm chẩn đoán miễn dịch có độ nhạy hơn và điều tra sau khi chết, một liều thuốc oxfendazole đã được tìm thấy dùng để chữa bệnh nang sán lợn mặc dù có thể mất vài tháng cho các u nang biến mất.


Khi có biểu hiện bệnh sán dây cần đến cơ sở y tế để được khám và xét nghiệm

Vào năm 2009, tất cả các khía cạnh trong phòng chống lâynhiễm và bệnh do T. solium đã được thảo luận trong một cuộc tham khảo ý kiến chuyên gia về các bệnh giun sán truyền qua thực phẩm bệnh sán dây/bệnh nang sán được tổ chức tại Viêng Chăn, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Hướng dẫn ban hành tại cuộc họp tập trung vào một cách tiếp cận lồng ghép các mục tiêu cả bệnh sán dây và bệnh nang sán bao gồm hóa trị phòng ngừa có quy mô lớn ở người,điều trị và tiêm phòng cho lợn. Những công cụ này nên sẵn sàng để sử dụng trong lĩnh vực này trong vòng 2-3 năm. Nhóm tham vấn thừa nhận rằng tổng vệ sinh môi trường do cộng đồng (có nghĩa là, việc cung cấp đủ nước vệ sinh môi trường do cộng đồng tự tổ chức) một phương pháp mới để thay đổi hành vi có khả năng được mở rộng với mứcđầu tư tối thiểu. Vai trò tiềm năng của nó trong kiểm soát nhiễm giun sán đang được điều tra. Hy vọng rằng việc thực hiện kết hợp tất cả các biện pháp can thiệp này sẽ tạo ra một tác động đến sự lây truyền T. solium và việc loại trừ các bệnh sán dây / bệnh nang sán sẽ là một mục tiêu có thể đạt được trong tương lai gần.

Tài liệu tham khảo (References):

·Report of the WHO Expert Consultation o­n Foodborne Trematode Infections & Taeniasis/Cysticercosis
Vientiane, Lao People's Democratic Republic, 12-16 October 2009

·WHO/FAO/OIE Guidelines for the surveillance, prevention and control of taeniasis/cysticercosis
Editor: K. D. Murrell; associate editors: P. Dorny, A. Flisser, S. Geerts, N.C. Kyvsgaard, D. McManus, T. Nash, Z. Pawlowski. OIE, WHO and FAO, 2005. Paris: World Organisation for Animal Health. Ref: ISBN 92-9044-656-0.

·Cysticercosis. In: Zoonoses and communicable diseases common to man and animals, vol. III, 3rd ed
Washington, DC, Pan American Health Organization, 2003 (Scientific and Technical Publication No. 580), p. 166-175. ISBN 92 75 11991 0—3 volume set (ISBN 92 75 11993 7—Vol. 3).

 

 

Ngày 20/07/2015
PGS.TS. Triệu Nguyên Trung, Ths.Bs. Lê Thạnh
(Theo WHO và MoH)
 

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên khoa của Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn về các bệnh ký sinh trùng và các bệnh do véc tơ truyền, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng mới nổi như sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ, giun lươn, giun đũa chó và các bệnh thông thường khác; khám và xét nghiệm chẩn đoán bệnh bằng các phương tiện kỹ thuật cao như sinh hóa, huyết học, miễn dịch (ELISA), sinh học phân tử và chẩn đoán hình ảnh bằng nội soi tiêu hóa, siêu âm màu…

   Trung tâm Dịch vụ khoa học kỹ thuật của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế chuyên sản xuất mua bán hóa chất, vật tư, chế phẩm diệt côn trùng; dịch vụ diệt côn trùng gây bệnh, côn trùng gia dụng như muỗi, ruồi, gián, kiến…; dịch vụ phòng diệt mối mọt và xét nghiệm phát hiện tôm bằng các kỹ thuật hiện đại.


 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 CHUYÊN ĐỀ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: Khu vực 8-Phường Nhơn Phú-Thành phố Quy Nhơn-Tỉnh Bình Định.
Tel: (84) 0256.3547492 - Fax: (84) 0256.3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng Ban biên tập: TTND.PGS.TS. Hồ Văn Hoàng-Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích