Home TRANG CHỦ Thứ 7, ngày 08/08/2020
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Web Sites & Commerce Tin tức - Sự kiện
Web Sites & Commerce Hoạt động hợp tác
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Finance & Retail Chuyên đề
Dịch tễ học
Côn trùng học
Nghiên cứu lâm sàng & điều trị
Ký sinh trùng sốt rét
Ký sinh trùng
Sinh học phân tử
Sán lá gan
Sốt xuất huyết
Bệnh do véc tơ truyền
Vi khuẩn & Vi rút
Sán
Giun
Nấm-Đơn bào
Web Sites & Commerce Tư vấn sức khỏe
Web Sites & Commerce Tạp chí-Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động Đảng & Đoàn thể
Web Sites & Commerce Bạn trẻ
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Trung tâm dịch vụ
Thông báo-Công khai
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
4 1 8 8 6 8 6 5
Số người đang truy cập
2 3 5
 Chuyên đề Sán
Thực phẩm từ cua-Món ăn vị thuốc và liên quan đến bệnh sán lá phổi

Giới thiệu:

Cua thuộc nhóm nhuyễn thể 10 chi. Nhìn chung, chúng có một lớp gân xương bao phủ bên ngoài thân cua, hiện có khoảng6.793 loài cua được biết đến và phần lớn được tìm thấy trong thế giới đại dương. Cua rất khác nhau về kích thước.Về phân loại khoa học, cua thuộc giới Animalia, ngành Arthropoda, ngành phụ Crustacea, lớp Malacostraca, bộ Decapoda, bộ phụ Pleocyemata, dưới bộ Brachyura (Linnaeus, 1758). Cua có rất nhiều loại khác nhau, dân gian thường gọi là cua đồng, cua biển hoặc cua đá tùy theo vị trí và vùng thích nghi cho cua sống. Cua biển thuộc lớp giáp xác, bộ mười chân (Decapoda), là đối tượng hải sản quý, có giá trị thương mại cao và là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều nước. Việt Nam có nguồn lợi cua khá phong phú, phân bố ở khắp các vùng biển, ao đầm, cửa sông, vùng vịnh. Ở vùng biển Việt Nam cua xanh và cua bùn là hai loài cua có kích thước lớn, có giá trị kinh tế cao. Cua có thân hình dẹp theo hướng lưng bụng. Toàn bộ cơ thể được bao bọc  trong lớp vỏ kitin dày, thường  có màu xanh lục hay vàng sẫm.

Vòng đời của cua biển trải qua nhiều giai đoạn khác nhau và mỗi giai đoạn có tập tính sống, cư trú khác nhau. Giai đoạn ấu trùng trôi nổi, nhờ dòng nước đưa vào ven bờ biến thái thành cua con. Cua con bắt đầu sống bò trên đáy và đào hang để sống hoặc chui vào các bụi cây, hốc đá. Đồng thời, cua chuyển đời sống từ trong môi trường nước mặn sang nước lợ ở rừng ngập mặn, vùng cửa sông hay cả vùng nước ngọt trong quá trình lớn lên. Cua ở giai đoạn thành thục có tập tính di cư ra vùng nước mặn để sinh sản. Cua có khả năng bò lên cạn và di chuyển rất xa. Đặc biệt, vào thời kỳ sinh sản cua có khả năng vượt cả rào chắn để ra biển sinh sản. Ấu trùng cua thích hợp với độ mặn nước từ 25-30‰, cua con và cua trưởng thành thích nghi và phát triển tốt trong phạm vi 2-38‰. Tuy nhiên, trong thời kỳ đẻ trứng, cua cần môi trường nước có độ mặn 22-32‰. Cua biển là loài phân bố rộng, tuy nhiên, nhiệt độ thích hợp nhất từ 25-300C. Cua chịu đựng pH từ 7,5-9,2 và thích hợp nhất là 8,2-8,8. Cua thích sống nơi nước chảy nhẹ, dòng chảy thích hợp nhất trong khoảng 0,06-1,6m/s.

Tính ăn của cua biến đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển. Giai đoạn ấu trùng, cua thích ăn thực vật và động vật phù du. Cua con chuyển dần sang ăn tạp như rong tảo, giáp xác, nhuyễn thể, cá hay cả xác chết động vật. Cua con 2-7cm ăn chủ yếu giáp xác, cua 7-13cm thích ăn nhuyễn thể và cua lớn hơn thường ăn cua nhỏ, cá…Cua có tập tính trú ẩn vào ban ngày và kiếm ăn vào ban đêm. Nhu cầu thức ăn của chúng khá lớn nhưng cũng có khả năng nhịn đói 10 – 15 ngày. Cua có đôi mắt kép rất phát triển có khả năng phát hiện mồi hay kẻ thù từ bốn phía. Khứu giác cũng rất phát triển giúp cua phát hiện mồi từ xa. Cua di chuyển theo lối bò ngang. Khi gặp kẻ thù, chúng lẩn trốn vào hang hay tự vệ bằng đôi càng to và khoẻ.

Quá trình phát triển của cua trải qua nhiều lần lột xác biến thái để lớn lên. Thời gian giữa các lần kột xác thay đổi thao từng giai đoạn. Ấu trùng cua lột xác trong vòng 2-3 hoặc 3-5 ngày/lần. Cua lớn lột xác chậm hơn nửa tháng hay một tháng một lần. Sự lột xác của cua có thể bị tác động bởi 3 loại kích thích tố ức chế lột xác, kích thích tố thúc đẩy lột xác và kích thích tố điều khiển hút nước lột xác. Tuổi thọ trung bình của cua từ 2 đến 4 năm, qua mỗi lần lột xác khối lượng cua tăng trung bình 20-50%. Cua biển có kích thước tối đa là 19-28cm, khối lượng từ 1-3 kg/con. Với kích cỡ tương đương nhau về chiều dài và chiều rộng thì cua đực nặng hơn cua cái. Đặc biệt, trong quá trình lột xác cua có thể tái sinh lại những phần đã mất như chân, càng… Cua thiếu phụ bộ hay phụ bộ bị tổn thương thường có khuynh hướng lột xác sớm hơn nên có thể ứng dụng đặc điểm này vào kỹ thuật nuôi cua lột.

 
Mùa cua phát triển

§Mùa sinh sản của cua biển ở miền Bắc Việt Nam là tháng 2-3 và tháng 7-8, ở miền Nam từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau.

§Riêng cua đồng thì vào đầu tháng bảy âm, nước xâm xấp gốc mạ, nước từ các con mương nhỏ chảy về các chân ruộng qua hàng trăm con mương nhỏ. Đứng từ trên cao nhìn xuống trông như những đường gân lá. Đợi mỗi khi trời ngớt mưa là cua ở trong các hang hốc ra các rãnh nước chảy để đẻ trứng. Vào mùa này, cua nhiều vô kể. Ở các rãnh nước từ con mương chảy vào chân ruộng, nước làm xói bờ đất. Chỗ nước chảy xoáy một vùng khá sâu, tôi đứng phải đến đầu gối. Những vũng sâu ấy, cua rất nhiều, còn có cả cá rô đồng;

§Cua đồng gồm có cua đực và cua cái. Mùa này chủ yếu là cua cái vì là mùa đẻ trứng. Cua đực to, màu đen sẫm có hai chiếc càng to; cua cái nhỏ hơn màu nâu sẫm, hai chiếc càng tuy nhỏ nhưng cắp thì rất đau, bụng mang rất nhiều trứng. Có lẽ không đâu có nhiều cua đồng như ở xứ sở sông nước miền Tây Nam bộ - đồng bằng sông Cửu Long, bởi nơi đây có diện tích đất nông nghiệp trồng lúa lớn nhất nước.

Một số cách bắt cua đồng chế biến món ăn

            Người dân thôn quê có rất nhiều cách để bắt cua đồng; cua đồng đặc biệt có hai càng rất khỏe, vì vậy người bắt phải thật khéo léo nếu không sẽ bị cua kẹp rất đau. Thường sau mỗi cơn mưa, cua đồng rời hang bò ra đồng hoặc xuống kênh rạch kiếm ăn rất nhiều nên lúc này bắt cua rất dễ dàng. Người bắt chỉ việc ra đồng thấy cua bò nghênh ngang thì "chộp cổ" bỏ giỏ đem về. Thế nhưng để bắt cua đồng được nhiều mà ít tốn thời gian, người ta thường dùng lờ. Trong lờ có thể bỏ vào vài miếng khoai mì hoặc vài miếng cái dừa đã "cứng nạo" rồi đem đặt dọc kênh rạch gần nơi có những khe nước từ trên ruộng đổ xuống, cứ thế cua sẽ vào ăn rất nhiều nhưng không có cách nào ra được.

 
Ở quê những ngày mưa, cua từ các hang hốc quanh mương bị ngộp, hay bò cả lên bờ. Người rành chỉ cần nhìn lỗ hang đã biết hang đó cũ hay mới, có còn cua trong ấy hay không. Nếu không phải người chuyên mò bắt thì vẫn có thể đặt lờ để bẫy cua. Chiếc lờ được đan bằng nan tre, đầu lờ gắn cái hom để cua tham mồi vào ăn mà không thoát ra được. Cũng lạ, dường như cua thích món gì trắng trắng, nên cứ để cùi dừa hoặc khoai mì trong ấy là chúng chui ngay vào lờ. Ngoài những cách bắt trên, người dân thôn quê còn có cách bắt cua đồng ở tận trong hang sâu bằng "cù móc". Cù móc là một đoạn sắt dài 5-7cm có đường kính cỡ bằng đầu đũa ăn; một đầu uốn cong, đầu còn lại được tra vào một lóng tre nhỏ dùng làm tay cầm. Với dụng cụ này, người bắt có thể lôi ra từ trong hang sâu những con cua "cứng đầu" nhất dễ dàng.

Một số món ăn được chế biến từ cua

Cua là món ăn dân gian ngon miệng không tăng cân và rất giàu canxi tự nhiên cần thiết cho mọi người, nhất là trẻ em và người lớn tuổi. Cua đồng sống hoặc xay nhuyễn có bán hầu hết ở các chợ trên địa bàn cả nước. Mặc dù đã lựa từng con về sơ chế rửa sạch nhưng nước canh, riêu vẫn có màu đen, ăn vào thấy có vị chát và mảng thịt cua có màu nâu đen, đó chính là dấu hiệu của phèn. Do sinh trưởng trong môi trường nước đọng, độ phèn, rong rêu, tạp chất và đặc biệt ký sinh sống bám rất nhiều nên hầu hết đều không đạt tiêu chuẩn (cho dù có khử bằng ozon cũng không thể làm sạch được bề mặt con cua). Trước nhu cầu an toàn vệ sinh thực phẩm ngày càng cao, nhiều công ty chuyên kinh doanh thực phẩm tươi sống nhiều năm đã phát hiện và nghiên cứu từng bước xây dựng, hoàn thiện quy trình (công nghệ làm sạch cua đặc thù).

Do thành phần dinh dưỡng đặc biệt của cua rất phong phú và bổ cho tất cả đối tượng, phụ nữ trẻ em,...Thành phần dinh dưỡng của cua đồng gồm có Thịt cua đồng chứa 12,3% protid, 3,3% lipid, 5,04mg% Ca, 4,7mg% Fe, 430mg% P; các vitamin B1 (0,01mg%), B2 (0,51mg%), B6 (0,12mg%), PP (2,1mg%), 125mg% cholesterol, 0,25% melatonin.

  • Bánh canh cua đồng (thường người dân châu thổ sông Cửu Long nấu bánh canh với tồm càng xanh hoặc bánh canh với cua) với cách làm sạch cua, bóc lấy gạch để riêng, vắt vài giọt chanh khử mùi tanh đặc trưng của thịt cua, chặt cua làm tư cho vào nồi, vài phút sau thì múc ra tô rắc tiêu, hành, ngò làm mặt. Nhưng đó là cách nấu trong gia đình, còn ở hàng quán thì người ta bóc lấy thịt và gạch cua để riêng. Vỏ cua người ta cho vô nồi nấu lấy nước lèo. Như vậy, tô bánh canh cua biển giò heo mới giúp thực khách thưởng thức một cách thuận tiện, ngon miệng.
  • Hoặc cua đồng rửa sạch, lấy gạch để riêng, cho vào cối đâm nhuyễn pha nước lạnh, lọc bỏ xác. Nồi bánh canh sôi, cho thịt cua rồi nước cua đồng vào, để lửa riu riu. Nước sôi vài dạo, nước cua đồng đóng thành riêu thì múc ra tô, rắc hành, ngò, tiêu, ớt làm mặt. Cũng là một món ăn hấp dẫn thần khẩu vì vị béo của nước cốt dừa cùng vị ngọt của cua đồng cùng mùi thơm của rau cỏ hòa quyện khắp khẩu cái.
  • Nấu canh cua: cua được tách ra, vặt hết các chân rồi kho với đậu phụng. Món ăn rất bùi, ngon mà không ngán. Cua nấu canh thì dùng cái cối đá giã nhuyễn rồi lóng lấy gạch cua nấu canh;
  • Lẩu cháo cua đồng Bến Tre: canh cua đồng rau đay là món Bắc chính hiệu và lẩu cháo cua đồng có xuất xứ từ món này và có lẽ chỉ có ở Bến Tre. Cua đồng mua về, rửa sạch, tách mai và yếm bỏ. Gạch cua lấy từ yếm ra, trộn với một số gia vị, để riêng. Phần còn lại của cua xay nhuyễn, hòa nước lạnh, quậy đều, lược lấy nước cốt. Nồi cháo gạo ngon nấu nhừ với đậu xanh cà, nấm rơm cho vào lẩu, nêm nếm vừa ăn rồi mới cho nước lọc cua vào cùng với hành lá xắt nhỏ và gốc hành. Sau cùng cho lớp gạch cua phi với hành thơm nức lên làm mặt. Thưởng thức lẩu cháo cua đồng với 5 thứ rau đồng quê: rau ngót, rau má, rau mồng tơi, rau đay, cải xanh và mướp hương. Đặc biệt, ăn “kèm” món này còn có hột vịt lộn. Ngoài tiêu và ớt xắt khoanh, món ngon nhờ có nước mắm rươi trong;
     
  • Mắm cuađồng là đặc sản quê, dễ kiếm, có quanh năm, dễ làm, mắm cua có vị cay, ngọt, ăn mãi không thấy chán. còn gọi là mắm đam. Vào mùa lúa bắt đầu xanh mởn và ruộng xăm xắp nước, cua bắt đầu sinh nở. Cua đồng sinh sản nhiều vào khoảng tháng chín, tháng mười âm lịch. Chỉ cần chịu khó đi ra bờ ruộng động đậy mặt nước là cua đồng lóp ngóp tranh nhau chạy vào hang ẩn trốn. Cua đem về ngâm trong nước lã chừng vài hôm cho nhả hết bùn đất, sau đó cho vào cối đá giã nhuyễn, thêm vào vài gáo nước lã rồi vớt ra lược lấy nước cua. Sau đó cho muối hạt vào, đưa lên bếp đun sôi thành mắm cua tươi. Muốn cho thơm ngon, thêm vào vài lát gừng hay vài lát măng tre, ớt chín. Mắm cua tươi múc ra tô còn bốc hơi bay mùi thơm phức, ngả màu, vàng ươm, nổi lên lớp gạch đặc quánh. Mắm cua tươi ăn với bún thì ngon tuyệt ! Nếu thêm vào một ít rau thơm nữa thì mùi vị càng thích thú;
  • Mắm cua chua để được lâu ngày thì lúc giã cua, lược lấy nước cua xong cho thêm thật nhiều muối hạt, khuấy đều. Xong cho vào hũ sành đậy kín. Khi nào ăn mới múc ra ngoài cho thêm phụ gia như ớt chín, lá hành hoặc vài lát gừng sống. Mắm cua chua có thể để lâu cả tuần lễ, nhưng nếu chịu khó cứ vài hôm dùng chiếc đũa bếp khuấy đều và khuấy liên tục như thế, mắm cua có thể để nhiều tháng liền mà không sợ ngả mùi. Đây là bí quyết giữ mắm cua chua lâu ngày. Mắm cua chua đem kho với cá đồng thì ngon hết ý! Cá lóc chặt khúc nướng sơ qua, cho vào chiếc trách đất, đổ mắm cua vào cho xăm xắp nước, thêm vài lát gừng sống, ớt chín, đưa lên bếp lò để lửa liu riu cho mắm ngấm dần vào cá.
  • Đơn giản và phổ biến nhất là món cua đồng nấu canh với một số loại rau dại: cua bắt về gỡ mai, bóc yếm, nghiền nát sau đó lược lấy nước và nấu. Nước cua khi đun sôi sẽ nổi lên từng dề thịt trông rất ngon. Khi ấy chỉ việc bỏ vào vài đọt mồng tơi, dăm nắm rau ngót, trái mướp xanh... là có món canh cua hỗn hợp, có thể nói ăn không thua bất kỳ món cao lương mỹ vị nào. Hoặc ăn cua đã hấp xong, có người thích chọn cua đực vì nhiều thịt, nhưng cũng có người thích cua cái, vốn nhiều gạch béo.
  • Riêu cua là món ăn ở quê, song nay cũng rất phổ biến ở thành phố, thậm chí chỉ có trong các nhà hàng sang trọng. Canh riêu cua có thể kết hợp với nhiều loại rau lá, dễ đổi món cho đỡ ngán. Nếu thích ăn kèm cà muối chua thì rau đay rau dền ngoài vườn hay đám mồng tơi leo trên bờ dậu lại hợp hơn. Đôi khi chỉ nấu riêu cua với vài quả cà chua, ăn kèm rau sống xà lách, rau muống chẻ. Những hôm cả nhà đông đủ, bà tôi thường nấu bún đa cua. Món này, ngoài nấu riêu còn phải trụng bánh đa, luộc ít rau nhút, rau muống và cả rau cần nước.
  • Cháo cua đồng là món ăn bổ dưỡng cho trẻ, lại thích hợp với người lớn. Đây lại là món ăn có tính thanh nhiệt, dùng những ngày hè oi bức thì rất tốt cho sức khỏe. Nguyên liệu đơn giản và dễ tìm như cua đồng (500g), gạo tẻ ngon (300g), gia vị, rau sống. Cách làm là để cua đồng rửa sạch đất, xé bỏ mai, yếm, giã nhỏ hòa vào nước lã, bóp mạnh, quấy đều, lọc lấy nước. Lấy muỗng gạt lớp gạch cua ra tô, trộn nước cốt cua với gạch cua chung vào. Nấu nồi cháo chờ sôi bùng lên đổ toàn bộ hỗn hợp được vắt từ cua vào nồi, dùng đũa khuấy đều. Chừng nào thấy trên thành nồi nổi lên vài mảng thịt là được. Nêm gia vị cho vừa ăn rồi nhấcnồi cháo xuống;
  • Có thể làm nhân thịt cua đi kèm với món bánh nậm, lọc, bèo như các món ăn cung đình Huế ngày xưa. Nay đã cải tiến, có thể lấy thịt cua, tôm trộn chung rồi rải đều trên mặt các bánh nậm, lọc hoặc bèo, rồi cứ thế thêm nước chấm ngọt-mặn vào thì sẽ cho ta món ăn hợp khẩu.
  • Món bánh đa cua: cũng là rau ấy, cua ấy nhưng hiếm nơi nào nấu được món bánh đa cua ngon như người Hải Phòng. Ăn bánh đa cua Hải Phòng là thưởng thức cả một bức tranh ẩm thực được pha màu khéo léo. Nổi phía trên nước dùng trong suốt là gạch cua nâu hồng, xôm xốp, miếng chả lá lốt xanh đậm, những mảy hành khô vàng rộm, những cọng rau, hành tươi xanh nõn. Món ăn giản dị này gắn bó với người Hải Phòng lâu lắm rồi, ăn bánh đa cua từ sáng đến đêm, từ đông chí hạ. Buổi sáng, mở mắt ra là đã thấy đầu ngõ có hàng bánh đa cua nước dùng sôi sùng sục mời gọi. Mùa hè bánh đa cua kéo khách bởi cái màu xanh bắt mắt của rau muống chẻ xanh ngắt, gạch cua óng ánh vàng. Mùa đông, thực khách bị lôi kéo bởi cái vị ấm áp của cua đồng béo ngậy, của nồi nước dùng sôi và những miếng chả lá lốt màu xanh đậm… Yếu tố đầu tiên để tạo nên một bát bánh đa cua ngon là công nghệ chế biến. Gạo làm bánh phải trắng, dẻo và không được để quá 2 vụ gối nhau. Trong lúc ngâm bột phải bỏ hàn the để cho sợi bánh giòn dẻo. Lúc tạo bột người ta bỏ gấc đỏ làm màu và cũng chỉ pha đủ độ, ít quá thì bánh trắng mà pha nhiều quá thì bánh biến thành màu đen không bắt mắt. Cua để chế biến cũng phải là thứ cua đồng béo vàng. Gạch cua được phi thơm với hành khô rồi đổ vào nồi nước dùng (pha chế theo bí quyết).
  • Lẩu cua đồng: cua đồng không chỉ dùng để nấu canh mà có thể chế biến thành nhiều món rất ngon và lạ miệng như: cua rang khế, gạch cua xào hay lẩu cua đồng thơm ngon. Nguyên liệu gồm có 500g cua đồng rửa sạch, 50g gạch cua, 1 muỗng canh sả bào, 1/2 muỗng canh tỏi bằm nhuyễn, 2 trái cà chua cắt múi cau, 2 nhánh rau tía tô cắt nhỏ, 500g bún tươi, 300g gồm cà chua, rau nhút, rau cần, 1,2 lít nước lọc. Ngoài ra, bạn cần chuẩn bị: 3 muỗng cà phê hạt nêm, 1,5 muỗng canh nước mắm,4 trái me sống hoặc 60g me vắt, 1 muỗng canh dầu ăn, nước chấm và ớt cắt khoanh. Cách làm: cua đồng rửa sạch, xay nhuyễn, me dầm với nước sôi để lấy nước me, hòa tan thịt cua với 1,2 lít nước lọc, lược ba lần cho sạch cát và xương cua đồng, bắc nồi nước cua lên bếp, thêm vào một muỗng cà phê hạt nêm. Để lửa nhỏ nấu cho thịt cua nổi lên trên mặt nước cua, vớt thịt cua để riêng. Xào sả bào, tỏi bằm cho thơm. Thêm gạch cua vào đảo đều, cho tiếp nước cua vào đun sôi lên, nêm với phần hạt nêm còn lại, nước mắm chấm và nước me cho vừa ăn, thêm cà chua và phần thịt cua trở lại nồi lẩu. Dọn ăn kèm với bún tươi, rau sống và nước mắm ớt.
  • Canh cua đồng nấu lá mồng tơi: chỉ việc bắc nồi nước cua đồng lên bếp, trong lúc đợi nước sôi thì tranh thủ lặt lá mồng tơi và xắt nhỏ trái mướp. Nước cua đen đục khi bắt lửa bỗng trở nên trong veo, váng thịt cua nổi lên từng lớp, rồi nước chuyển sang màu xanh lơ lơ khi cho rổ mồng tơi và mướp vào. Gạch cua phi riêng trong cái chảo nhỏ, đổ vào nồi canh cua đồng đang lựng khói. Bên nồi canh cua đồng nấu mướp và mồng tơi thơm phức, ắt mâm cơm cũng không thể ngại ngùng.
     

Một số công dụng về y học từ món ăn có thành phần cua

§Theo Đông y, cua đồng có vị mặn, tính hàn, có tác dụng hoạt huyết, chữa tổn thương gân, xương, sản phụ máu không ra hết sinh đau bụng, trong lòng bồn chồn phiền muộn, trẻ em hở thóp, chữa bệnh cảm phong tà phát sốt, giải các thứ độc, hút được độc ra ngoài cơ thể, chữa mụn nhọt, giúp cứng xương, nuôi gân;

§Theo các tài liệu của Trung Quốc, cua đồng có tác dụng điều trị các triệu chứng ung thư rất tốt. Bệnh nhân ung thư vòm họng thường bị nổi hạch ở cổ, cua đồng có tác dụng “tiêu hạch, tán kết” nên ăn cua đồng là rất tốt, hoặc đối với bệnh nhân ung thư tuyến vú cho ăn cua đồng và lấy mai cua, càng cua rửa sạch, phơi khô, nghiền thành bột mịn pha với nước uống rất thích hợp.

§Trong trước tác của Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông đều có nói tới tác dụng chữa bệnh của cua đồng; lương y Vũ Quốc Trung cho biết cua đồng có hàm lượng protein cao, giàu vitamin và đặc biệt là các nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể con người;

§Cua đồng là sản phẩm giàu canxi tự nhiên, là món ăn giá thành thấp lại nhiều chất dinh dưỡng, lẩu cháo cua đồng ăn mát, bổ dưỡng mà lại giúp hạ đường huyết (?);

§Theo Tuệ Tĩnh (trong Nam dược thần hiệu) có nêu: Điền giải là tên thuốc của con cua đồng, có vị mặn, mùi tanh, tính hàn, hơi độc, có tác dụng liền gân, nối xương, trị nhiệt tả, ngộ độc, máu kết cục, lở ghẻ. Sách Dược tính chỉ nam cũng ghi giải (cua đồng) tán tà nhiệt trong lồng ngực, thông được kinh mạch, làm cho 5 tạng khỏi buồn phiền, giải được độc do thức ăn, liền được gân, thêm sức cho xương, bổ ích khí lực, tống được các vật kết đọng trong người, phá được chứng ứ huyết do vấp ngã hoặc bị đánh chấn thương, chữa được sơn ăn (lở sơn), sốt rét, hoàng đản. Gạch của cua cũng tiếp được xương, nối được gân, hút được độc chất, đánh tan máu đọng, trị được ung nhọt, lở loét.

 
Tôm, cua và ếch -trung gian truyền bệnh sán lá phổi

Ca bệnh sán lá phổi lần đầu tiên phát hiện tại Việt Nam vào năm 1906 (Monzel., 1906) tại huyện Châu Đốc, tỉnh An Giang (chú ý có vùng sông nước). Tiếp đó kể từ năm 1956 các tác giả Landman H., Đặng Văn Ngữ, Đỗ Dương Thái, Chu Tường, Phạm Văn Thân, Nguyễn Kim Phong cũng đã phát hiện nhiều bệnh nhân tại bệnh viện Lao Trung ương, bệnh viện Bạch Mai, cả bệnh nhi và người trưởng thành. Đến năm 1976, tổng kết mới có 25 trường hợp sán lá phổi được thống kê. Giao đoạn từ 1990-2001, các tác giả Mai Văn Sơn, Phạm Thị Yến, Đào Kỳ Hưng, Cao Văn Viên, Nguyễn Văn Đề...đã phát hiện các bệnh nhân đến từ các huyện Sìn Hồ (Lai Châu), huyện Thuận Châu, Mộc Châu (Sơn La), huyện Bảo Yên (Lào Cai) thị xã Hà Giang, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, huyện Văn Quan (Lạng Sơn), huyện Lục Yên (Yên Bái).

Tỷ lệ người nhiễm sán lá phổi có tập quán ăn cua nướng lên đến 70-90%. Nhân dân các vùng dịch tễ nói trên, ngoài tập quán ăn cua nướng là phổ biến còn có tập quán ăn sống hoặc nấu chưa chín các sản phẩm từ cua như lấy nước cua pha bột, nấu cháo cho trẻ, ăn canh riêu cua, hoặc các vùng sông nước miền tây có tập quán ăn mắm cua, mắm cua chua-cũng là các yếu tố nguy cơ lớn cho bệnh sán lá phổi. Điều đặc biệt là khi các con cua đá đã nướng vàng vỏ vẫn còn ấu trùng sống đến 65% và khi nướng cháy vỏ vẫn còn ấu trùng sống đến 23.3% (Nguyễn Văn Đề và cộng sự., 2004).

Theo các công trình nghiên cứu gây nhiễm thực nghiệm cercariae của P.westermani trên cua đã thành công. Tác giả Shihabara (1991) đã gây nhiễm bằng hai đường: theo đường miệng bằng cách cho cua ăn ốc nhiễm ấu trùng và theo đường xâm nhập bởi cercariae tự do. Cả2 đường, tác giả đã sử dụng cua Geothelphusa dehaani (hình ảnh bên dưới). Kết quả cho thấy metacercariae thu được cao nhất theo đường cua ăn ốc nhiễm cercariae. Tương tự, tác giả Coyoten (1986 và 1995) công bố tỷ lệ nhiễm thấp của cercariae tự do của P.miyazaki trên cua, cho dù đó là các cercariae vừa mới rời khỏi ốc vật chủ. Phân bố của metacercariae trong cua tùy thuộc vào loài sán (Kino., 1994) hoặc loại cua (Habe và cs., 1993). Gây nhiễm thực nghiệm sán lá phổi P.siamensis trên cua dường như rất dễ. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cũng thông báo ếch (Rana boulengeri) là vật trung gian chứa metacercariae của P.skrjabini ở Trung Quốc (Xie và cs., 1985) đã được gây nhiễm thực nghiệm trên mèo và chuột. Hoặc các loài ốc, giống Oncomelania (thuộc họ Pomatiospidae) là vật chủ trung gian của nhiều loại sán lá phổi.

Đến nay, bệnh sán lá phổi được phát hiện không còn nhiều và số ca háng năm rất ít nhờ vào chương trình phòng chống sán lá phổi và đặc biệt khâu truyền thông giáo dục sức khỏe đã tác động rất lớn đến cộng đồng. Dù không còn là vấn đề lớn nữa, song chúng ta cũng không nên chủ quan mà cứ sơ chế món ăn từ cua, tôm, ...sẽ rất nguy hiểm nếu mầm bệnh vẫn còn tiềm ẩn trong các thức ăn như thế.

 

Ngày 28/04/2009
Ths.Bs.Huỳnh Hồng Quang
(Biên dịch và tổng hợp)
 

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên khoa của Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn khám bệnh tất cả các ngày trong tuần (kể cả thứ 7 và chủ nhật)

   Trung tâm Dịch vụ khoa học kỹ thuật của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn chuyên sản xuất mua bán hóa chất, vật tư, chế phẩm diệt côn trùng; dịch vụ diệt côn trùng gây bệnh, côn trùng gia dụng như muỗi, ruồi, gián, kiến, dịch vụ phòng diệt mối mọt...


 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 CHUYÊN ĐỀ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: Khu vực 8-Phường Nhơn Phú-Thành phố Quy Nhơn-Tỉnh Bình Định.
Tel: (84) 0256.3547492 - Fax: (84) 0256.3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng Ban biên tập: TTND.PGS.TS. Hồ Văn Hoàng-Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích