Home TRANG CHỦ Thứ 5, ngày 14/11/2019
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Finance & Retail Tin tức - Sự kiện
Trong nước
Quốc tế
Tin hoạt động của Viện
Tin vắn đáng chú ý
Điểm tin y tế
Ngày Sốt rét thế giới 25 tháng 4 (World Malaria Day)
Web Sites & Commerce Hoạt động hợp tác
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Web Sites & Commerce Chuyên đề
Web Sites & Commerce Tư vấn sức khỏe
Web Sites & Commerce Tạp chí-Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động Đảng & Đoàn thể
Web Sites & Commerce Bạn trẻ
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Trung tâm dịch vụ
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
3 9 1 8 8 7 3 0
Số người đang truy cập
8 3
 Tin tức - Sự kiện Ngày Sốt rét thế giới 25 tháng 4 (World Malaria Day)
Ngày sốt rét thế giới 25/4/2014 và thông tin cập nhật về bệnh sốt rét qua dữ liệu của WHO tháng 3/22014

Chủ đề Ngày thế giới phòng chống sốt rét diễn ra hàng năm vào ngày 25/4/2014: “Đầu tư cho tương lai-Đánh bại sốt rét”. Những nỗ lực toàn cầu để phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét ước tính đã cứu 3,3 triệu mạng sống kể từ năm 2000, giảm tỷ lệ tử vong do sốt rét 42% trên toàn cầu và 49% ở châu Phi. Gia tăng cam kết chính trị và tài trợ mở rộng đã giúp giảm tỷ lệ mắc bệnh sốt rét 25% trên toàn cầu và 31% ở châu Phi.

Ngày Sốt rét thế giới, ngày 25 tháng 4 năm 2014

Chủ đề Ngày thế giới phòng chống sốt rét diễn ra hàng năm vào ngày 25/4/2014: “Đầu tư cho tương lai-Đánh bại sốt rét”. Những năm qua nhờ sự đầu tư tích cực của các chính phủ, các tổ chức quốc tế và nỗ lực toàn cầu trong phòng chống sốt rét, tình hình sốt rét đã được cải thiện đáng kể, nhiều quốc gia đã chuyển sang giai đoạn chiến lược tiền loại trừ sốt rét, loại trừ sốt rét hoặc phòng chống sốt rét tích cực.

 

Đầu tư cho tương lai. Đánh bại bệnh sốt rét (Invest in the future. Defeat malaria)

Những nỗ lực toàn cầu để phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét ước tính đã cứu 3,3 triệu mạng sống kểtừ năm 2000, giảm tỷ lệ tử vong do sốt rét 42% trên toàn cầu và 49% ở châu Phi. Gia tăng cam kết chính trị và tài trợ mở rộng đã giúp giảm tỷ lệ mắc bệnh sốt rét 25% trên toàn cầu và 31% ở châu Phi.

 
                    WHO/S. Hollyman

Nhưng chúng ta vẫn chưa đi đến đích cuối cùng, bệnh sốt rét vẫn còn giết chết khoảng 627.000 người mỗi năm, chủ yếu là trẻ em dưới 5 tuổi ở vùng cận Saharan châu Phi; trong năm 2013 có 97 quốc gia có sự lan truyền tiếp diễn bệnh sốt rét; mỗi năm có hơn 200 triệu ca sốt rét, hầu hết các ca sốt rét này không bao giờ được xét nghiệm hoặc đăng ký, sự xuất hiện kháng hóa chất diệt và thuốc sốt rét đe dọa đảo ngược thành quả đạt được gần đây. Nếu thế giới duy trì và đẩy nhanh tiến bộ chống bệnh sốt rét, phù hợp với Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ 6 (MDG6) và để đảm bảo đạt được các mục tiêu MDG 4 và 5 thì ngân quỹ nhiều hơn là đòi hỏi cấp bách. Chủ đề Ngày thế giới phòng chống sốt rét của năm 2014 và 2015 là: Đầu tư cho tương lai. Đánh bại bệnh sốt rét

Mục tiêu: Tạo sức mạnh cam kết để chống lại bệnh sốt rét (energize commitment to fight malaria)

Ngày Sốt rét thế giới được thiết lập bởi các nước thành viên của WHO trong kỳ họp Đại hội đồng Y tế thế giới vào năm 2007, đây là một dịp để làm nổi bật sự cần thiết phải tiếp tục đầu tư và cam kết chính trị bền vững cho công tác phòng chống sốt rét và cũng là một cơ hội đối với các nước trong khu vực bị ảnh hưởng học hỏi kinh nghiệm của nhau và hỗ trợ những nỗ lực của nhau (for countries in affected regions to learn from each other's experiences and support each other's efforts); đối với các nhà tài trợ mới gia nhập vào một quan hệ đối tác toàn cầu chống lại bệnh sốt rét (for new donors to join a global partnership against malaria); đối với các viện học thuật và nghiên cứuđánh dấu tiến bộ khoa học cho cả các chuyên gia và công chúng nói chung (for research and academic institutions to flag scientific advances to both experts and the general public) và đối với các đối tác, các công ty và các quỹ giới thiệu những nỗ lực của họ và suy nghĩ về làm thế nào để tiếp tục mở rộng quy mô can thiệp (for international partners, companies and foundations to showcase their efforts and reflect o­n how to further scale up interventions).

Thông tin cập nhật về bệnh sốt rét qua dữ liệu của WHO

Cập nhật tháng 3/2014. WHO - Theo ước tính mới nhất, phát hành vào tháng 12/2013 có khoảng 207 triệu ca bệnh sốt rét vào năm 2012 (với một giới hạn không chắc chắn từ 135 triệu ca đến 287 triệu ca) và khoảng 627 000 trường hợp tử vong (với một giới hạn không chắc chắn từ473 000 ca đến 789 000 ca). Tỷ lệ tử vong sốt rét đã giảm 42% trên toàn cầu kể từ năm 2000 và 49% ở khu vực châu Phi của WHO. Hầu hết các trường hợp tử vong xảy ra ở trẻ em sống ở châu Phi, nơi mà cứ mỗi phút co một trẻ em chết do bệnh sốt rét, tỷ lệ tử vong sốt rét ở trẻ em tại châu Phi đã giảm với một ước tính khoảng 54% kể từ năm 2000. Bệnh sốt rét là do ký sinh trùng Plasmodium lây lan sang người qua vết đốt của muỗi Anopheles bị nhiễm, được gọi là "vectơ sốt rét" (malaria vectors) mà thời gian đốt người chủ yếu giữa chạng vạng tối và lúc rạng sáng.

Có bốn loài ký sinh trùng gây bệnh sốt rét ở người: Plasmodium falciparum, Plasmodium vivax, Plasmodium malariae, Plasmodium ovale trong đó Plasmodium falciparumPlasmodium vivax là những chủng phổ biến nhất, Plasmodium falciparum là chủng nguy hiểm nhất. Trong những năm gần đây, một số trường hợp người mắc bệnh sốt rét cũng đã xảy ra với Plasmodium knowlesi - một loài gây bệnh sốt rét ở khỉ và xảy ra ở các khu vực rừng núi của Đông Nam Á.

Sự lan truyền (Transmission)

Sốt rét lây truyền chủ yếuthông qua các vết đốt của muỗi Anopheles, cường độ lan truyền phụ thuộc vào các yếu tố liên quan đến ký sinh trùng, các vector, vật chủ người và môi trường. Có khoảng 20 loài Anopheles khác nhau là quan trọng tại chỗ trên thế giới, tất cả các loài vector truyền bệnh chính đều đốt người vào ban đêm. Muỗi Anopheles sinh sản trong nước và mỗi loài có sở thích riêng của mình như một số thích đẻ ở các vùng cạn của nước ngọt, chẳng hạn như vũng nước, cánh đồng lúa, và nơi dấu chân của động vật có móng. Sự lan truyền mạnh hơn ở những nơi mà tuổi thọ muỗi dài hơn (để các ký sinh trùng có thời gian hoàn thành sự phát triển của nó bên trong muỗi) và những nơi mà muỗithích đốt máu người chứ không phải là loài động vật khác, ví dụ tuổi thọ dài hơn và tập tính đốt người của các loài vector ở châu Phi là lý do chính tại sao khoảng 90% số ca tử vong sốt rét trên thế giới là ở châu Phi.

 

    Muỗi Anopheles làm lan truyền bệnh sốt rét


Sự lan truyềncũng phụ thuộc vào điều kiện khí hậu có thể ảnh hưởng đến số lượng và sự tồn tại của muỗi, chẳng hạn như lượng mưa, nhiệt độ và độ ẩm. Ở nhiều nơi, sự lan truyền theo mùa với đỉnh cao trong và ngay sau mùa mưa. Dịch bệnh sốt rét có thể xảy ra khi điều kiện khí hậu và các điều kiện khác đột nhiên có lợi cho sự lan truyền trong khu vực, nơi mọi người có ít hoặc không có miễn dịch đối với bệnh sốt rét; dịch bệnh sốt rét cũng có thể xảy ra khi những người có miễn dịch thấp di chuyển vào các khu vực có lây truyền bệnh sốt rét với cường độ cao, ví dụ để tìm kiếm việc làm hoặc là người tị nạn. Khả năng miễn dịch của con người là một yếu tố quan trọng, đặc biệt là ở người trưởng thành trong vùng có điều kiện lan truyền trung bình hoặc nặng. Miễn dịch phần bộ (partial immunity) được phát triển trong những năm phơi nhiễm (exposure) và trong khi nó không bao giờ cung cấp sự bảo vệ đầy đủ và làm giảm nguy cơ lây nhiễm bệnh sốt rét sẽ làm cho bệnh nặng hơn. Vì lý do này, hầu hết các trường hợp tử vong do sốt rét ở châu Phi xảy ra ở trẻ em, trong khi ở khu vực có sự lan truyền ít và miễn dịch thấp thì tất cả các nhóm tuổi đềucó nguy cơ.

Các triệu chứng (Symptoms)

Sốt rét là một căn bệnh gây sốt cấp tính. Ở một cá nhân không có miễn dịch, các triệu chứng xuất hiện trong vòng 7 ngày hoặc dài hơn (thường là 10-15 ngày) sau khi muỗi bị nhiễm bệnh đốt người. Các triệu chứng đầu tiên là sốt, đau đầu, ớn lạnh và ói mửa có thể là nhẹ và khó khăn để ghi nhậnnhư bệnh sốt rét. Nếu không được điều trị trong vòng 24 giờ, sốt rét P.falciparum có thể tiến triển thành bệnh nặng và thường dẫn đến tử vong. Trẻ em bị sốt rét nặng thường phát triển một hoặc nhiều triệu chứng sau đây: thiếu máu nặng (severe anaemia), suy hô hấp liên quan đến nhiễm toan chuyển hóa (respiratory distress in relation to metabolic acidosis) hoặc sốt rét thể não (cerebral malaria). Ở người lớn, sự liên quan đến nhiều cơ quan cũng thường xuyên, trong vùng dịch tễ lưu hành sốt rét, người có thể phát triển miễn dịch phần bộ cho phép nhiễm bệnh mà không có triệu chứng xảy ra. Với cả P.vivaxP.ovale, tỷ lệ tái phát bệnh có thể xảy ra trong vài tuần đến vài tháng sau khi nhiễm bệnh lần đầu tiên, ngay cả khi bệnh nhân đã rời khỏi khu vực dịch tễ sốt rét. Những đợt kịch phát mới phát sinh từ các thể ẩn ở ganđược gọi là hypnozoites (không có ở P.falciparumP.malariae), điều trị đặc biệt nhằm vào các giai đoạn gan này là cần thiết cho việc chữa khỏi hoàn toàn.

Ai là đối tượng nguy cơ ? (Who is at risk?)

Khoảng một nửa dân số thế giới có nguy cơ mắc bệnh sốt rét, hầu hết các trường hợp mắc bệnh sốt rét và tử vong xảy ra ở vụng cận Saharan châu Phi; tuy nhiên ở châu Á, Mỹ Latinh và ở một mức độ thấp hơn ở vùng Trung Đông và nhiều phần của Châu Âu cũng bị ảnh hưởng. Trong năm 2013, 97 quốc gia và vùng lãnh thổ có sự lan truyền bệnh sốt rét đang diễn ra.

Nhóm quần thể có nguy cơ đặc biệt bao gồm trẻ em trong khu vực có sự lan truyền ổn định nhưng chưa được phát triển miễn dịch bảo vệ chống lại các thể bệnh trầm trọng nhất (young children in stable transmission areas who have not yet developed protective immunity against the most severe forms of the disease); phụ nữ mang thai không có miễn dịch khi bị bệnh sốt rét gây ra tỷ lệ sẩy thai cao và có thể dẫn đến tử vong mẹ (non-immune pregnant women as malaria causes high rates of miscarriage and can lead to maternal death); phụ nữ mang thai bán miễn dịch ở các nơi có sự lan truyền cao. Bệnh sốt rét có thể dẫn đến sẩy thai và trọng lượng trẻ sơ sinh thấp , đặc biệt là trong thời gian mang thai đầu tiên và lần thứ hai (semi-immune pregnant women in areas of high transmission. Malaria can result in miscarriage and low birth weight, especially during first and second pregnancies); phụ nữ mang thai bán miễn dịch nhiễm HIV trong các khu vực lan truyền ổn định, trong tất cả lần mang thai, phụ nữ bị nhiễm bệnh sốt rét qua nhau thai cũng có nguy cơ cao lây nhiễm HIV qua trẻ sơ sinh (semi-immune HIV-infected pregnant women in stable transmission areas, during all pregnancies, women with malaria infection of the placenta also have a higher risk of passing HIV infection to their newborns); người nhiễm HIV/AIDS (people with HIV/AIDS); các du khách quốc tế từ các khu vực không lưu hành vì họ thiếu khả năng miễn dịch (international travellers from non-endemic areas because they lack immunity); người nhập cư từ các khu vực lưu hành và con cái của họ sống ở các vùng không lưu hành trở về quê hương đất nước của họ để thăm bạn bè và người thân có nguy cơ tương tự vì hết hoặc không có miễn dịch (immigrants from endemic areas and their children living in non-endemic areas and returning to their home countries to visit friends and relatives are similarly at risk because of waning or absent immunity).

Chẩn đoán và điều trị (Diagnosis and treatment)

Chẩn đoán và điều trị sớm sốt rét làm giảm bệnh và ngăn ngừa tử vong, nó cũng góp phần làm giảm sự lây truyền bệnh sốt rét. Việc điều trị tốt nhất hiện có, đặc biệt đối với P.falciparum là liệu pháp kết hợp artemisinin (ACT). WHO khuyến cáo rằng tất cả các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh sốt rét cần được xác nhận bằng cách sử dụng các xét nghiệm chẩn đoán dựa trên ký sinh trùng (hoặc kính hiển vi hoặc test chẩn đoán nhanh) trước khi hành điều tr, kết quả xác nhận ký sinh trùng có thể có sẵn trong vòng 15 phút hoặc ít hơn. Điều trị dựa trên các triệu chứng chỉ nên được xem xét khi chẩn đoán ký sinh trùng là không thể. Khuyến cáo chi tiết hơn có sẵn trong Hướng dẫn điều trị sốt rét (ấn bản lần thứ hai).

Kháng thuốc sốt rét (Antimalarial drug resistance)

Đề kháng với các loại thuốc chống sốt rét là một vấn đề luôn diễn ra, sự đề kháng của P.falciparum với các loại thuốc sốt rét thế hệ trước, chẳng hạn như chloroquine và sulfadoxine-pyrimethamine (SP) trở nên phổ biến trong những năm 1970s và 1980s phá hoại nỗ lực phòng chống bệnh sốt rét và làm đảo đạt được về sự sống còn của trẻ em. Trong những năm gần đây, sự đề kháng của ký sinh trùng tới artemisinin đã được phát hiện trong 4 quốc gia tiểu vùng sông Mekong: Campuchia, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam. Trong khi có khả năng nhiều yếu tố góp phần vào sự xuất hiện và lây lan của tình trạng kháng thuốc thì việc sử dụng artemisinin đơn trị liệu bằng đường uống được cho là một động lực quan trọng. Khi điều trị đơn trị liệu artemisinin bằng đường uống, bệnh nhân có thể ngừng điều trị sớm sau sự biến mất nhanh chóng của các triệu chứng bệnh sốt rét dẫn đến điều trị không đầy đủ và những bệnh nhân này vẫn có ký sinh trùng dai dẳng trong máu. Nếu không có một loại thuốc thứ hai được đưa ra như là một phần của một sự kết hợp (như được cung cấp với một ACT) thì các ký sinh trùng kháng thuốc này vẫn tồn tại và có thể được lan qua một con muỗi và sau đó đến một người khác; nếu kháng artemisinin phát triển và lây lan đến các khu vực địa lý lớn khác thì hậu quả y tế công cộng có thể là nghiêm trọngbởi vì không có loại thuốc chống sốt rét thay thế sẽ có ít nhất là 5 năm.

WHO khuyến cáo giám sát thường xuyên tình trạng kháng thuốc chống sốt rét và hỗ trợ các nước tăng cường nỗ lực của họ trong lĩnh vực nghiên cứu quan trọng này. Các khuyến cáo toàn diện hơn có sẵn trong kế hoạch toàn cầu của WHO về ngăn chặn đề khángArtemisinin (Global Plan for Artemisinin Resistance Containment_GPARC) được phát hành vào năm 2011.

Dự phòng (Prevention)

Phòng chống vector là cách chính để giảm sự lây truyền bệnh sốt rét ở cấp cộng đồng đó là sự can thiệp duy nhất có thể làm giảm lây truyền bệnh sốt rét từ mức rất cao đến gần bằngkhông, đối với cá nhân, bảo vệ cá nhân chống lại muỗi đốt đại diện cho hệ thống bảo vệ đầu tiên trong dự phòng bệnh sốt rét. Có hai hình thức phòng chốngvector có hiệu quả trong một loạt các tình huống.

Màn tẩm hóa chất (Insecticide-treated mosquito nets -ITNs)
Màn tẩm hóa chất tồn lưu lâu dài (Long-lasting insecticidal nets_LLINs) là hình thức ưa thích của màn tẩm hóa chất trong các chương trình phân phối y tế công cộng, WHO khuyến cáo bao phủ cho tất cả những người có nguy cơ cao và hầu hết các nơi có sốt rét lưu hành. Cách chi phí hiệu quả nhất để đạt được điều này là thông qua việc cung cấp LLINs miễn phí để tất cả mọi người ngủ dưới một LLIN hàng đêm.
Phun hóa chất tồn lưu trong nhà (Indoor spraying with residual insecticides)

Phunhóa chất tồn lưu trong nhà (Indoor residual spraying_IRS) là một cách mạnh mẽ để nhanh chóng làm giảm lây truyền bệnh sốt rét. Tiềm năng đầy đủ của việc phun hóa chất trong nhà có được khi có ít nhất 80% số nhà ở tại các vùng đích được phun, phun trong nhà có hiệu quả trong vòng3-6 tháng tùy thuộc vào thuốc trừ sâu được sử dụng và loại bề mặt nhà mà nó được phun. DDT có thể có hiệu lực trong 9-12 tháng trong một số trường hợp, các loại thuốc trừ sâu IRS hiện có tồn lưu lâu dài cũng như các lớp thuốc trừ sâu mới sử dụng trong các chương trình IRS đang được phát triển.

Hóa dự phòng sốt rét (malaria chemoprevention)

Các thuốc chống sốt rét cũng có thể được sử dụng để phòng ngừa bệnh sốt rét, đối với du khách, sốt rét có thể được phòng ngừa thông qua điều trị dự phòng, các thuốc này giúp ngăn cản giai đoạn nhiễm bệnh sốt rét ở trong máu, do đó ngăn ngừa bệnh sốt rét. Ngoài ra, WHO khuyến cáo điều trị dự phòng cách quãng với sulfadoxine-pyrimethamine cho phụ nữ mang thai sống ở các vùng có sự lan truyền cao mỗi khi đi khám định kỳ trước sinh ​​sau ba tháng đầu. Tương tự như vậy, đối với trẻ sơ sinh sống trong khu vực có sự lan truyền cao ở châu Phi, 3 liều điều trị dự phòng cách quãng với sulfadoxine-pyrimethamine được khuyến cáo cho dùng cùng với tiêm chủng định kỳ. Năm 2012, WHO khuyến cáo sử dụng hóa dự phòng sốt rét theo mùa (seasonal malaria chemoprevention) như một chiến lược phòng chống sốt rét bổ sung cho tiểu khu vực Sahel của châu Phi liên quan đến việc sử dụng liệu trình hàng tháng của amodiaquine cộng với sulfadoxine-pyrimethamine cho tất cả các trẻ em dưới 5 tuổi trong mùa lan truyền cao.

Kháng hóa chất diệt (Insecticide resistance)

Phần lớn sự thành công cho đến nay trong việc phòng chống bệnh sốt rét là do phòng chống vector. Phòng chống vector phụ thuộc nhiều vào việc sử dụng các pyrethroid, đó là lớp thuốc trừ sâu duy nhất hiện đang được khuyến cáo dùng cho ITN hoặc LLINs. Trong những năm gần đây, sự đề kháng của muỗi đến pyrethroids đã xuất hiện ở nhiều nước, ở một số vùng sự đề kháng tới tất cả 4 lớp thuốc trừ sâu được sử dụng cho y tế công cộng đã được phát hiện. May mắn thay, sự đề kháng này hiếm khi được kết hợp với hiệu quả giảm sút và LLINs và IRS vẫn còn là các công cụ có hiệu quả cao ở hầu hết các nơi. Tuy nhiên, các nước trong tiểu vùng Saharan châu Phi và Ấn Độ là mối quan tâm đáng kể, các quốc gia này đặc trưng bởi mức độ lan truyền bệnh sốt rét cao và các báo cáo kháng thuốc trừ sâu lan rộng. Việc phát triển các thuốc trừ sâu thay thế mới là một ưu tiên cao và một số sản phẩm hứa hẹn đang trong quá trình nghiên cứu, phát triển các loại thuốc trừ sâu mới để sử dụng trên màn ngủ là một ưu tiên đặc biệt.

Phát hiện kháng thuốc trừ sâu phải là một thành phần thiết yếu của tất cả các nỗ lực phòng chống sốt rét quốc gia để đảm bảo rằng các phương pháp phòng chống vector hiệu quả nhất đang được sử dụng. Sự lựa chọn thuốc trừ sâu cho IRS nên luôn luôn được thông báo bằng các dữ liệu địa phương gần đây trên các quần thể đích còn nhạy cảm. Để đảm bảo có một đáp ứng toàn cầu kịp thời và phối hợp tới các mối đe dọa kháng thuốc trừ sâu, WHO đã làm việc với một loạt các bên liên quan nhằm phát triển Kế hoạch toàn cầu cho việc xử lý kháng hóa chất diệt trong các vec tơ sốt rét (Global Plan for Insecticide Resistance Management_GPIRM) được phát hành vào tháng 5/2012. GPIRM đặt ra một chiến lược 5 trụ cột kêu gọi cộng đồng sốt rét toàn cầu xây dựng kế hoạch và thực hiện các chiến lược xử lý sự đề khángvới hóa chất diệt trong các nước lưu hành sốt rét (plan and implement insecticide resistance management strategies in malaria-endemic countries); đảm bảo giám sát côn trùng và sự đề kháng,thích hợp và kịp thời và xử lý dữ liệu hiệu quả (ensure proper and timely entomological and resistance monitoring, and effective data management); phát triển các công cụ phòng chống vector mới và sáng tạo (develop new and innovative vector control tools); lấp những khoảng trống trong kiến thức về cơ chế kháng hóa chất diệt và tác động của phương pháp tiếp xử lý sự đề kháng với các hóa chất diệt hiện tại (fill gaps in knowledge o­n mechanisms of insecticide resistance and the impact of current insecticide resistance management approaches) và đảm bảo rằng các cơ chế cho phép (vận động cũng như nguồn nhân lực và tài chính) được đưa ra (ensure that enabling mechanisms (advocacy as well as human and financial resources) are in place).

Giám sát (Surveillance)

Theo dõi tiến bộ là một thách thức lớn trong phòng chống bệnh sốt rét, hệ thống giám sát bệnh sốt rét phát hiện chỉ có khoảng 14% số lượng ca sốt rét trên toàn cầu, hệ thống giám sát bệnh sốt rét mạnh hơn đang rất cần để cho phép một đáp ứng sốt rét kịp thời và hiệu quả tại các khu vực lưu hành, để ngăn chặn dịch và sự tái diễn, để theo dõi tiến bộ và giúp các chính phủ vàcộng đồng sốt rét toàn cầu có trách nhiệm. Vào tháng 4/2012, Tổng giám đốc WHO đưa ra hướng dẫn sử dụng giám sát toàn cầu mới trong phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét và kêu gọi các nước lưu hành sốt rét tăng cường hệ thống giám sát của họ đối vớibệnh sốt rét. Điều này đã được đưa vào trong một cuộc kêu gọi lớn hơn nhằm mở rộng xét nghiệm chẩn đoán, điều trị và giám sát bệnh sốt rét, được gọi là T3 của WHO: Xét nghiệm (Test)-Điều trị (Treatment)-Theo dõi chủ động (Track initiative).

Loại trừ sốt rét (Elimination)

Loạitrừbệnh sốt rét(Malaria elimination) đượcđịnhnghĩa khi làm giám đoạn sự lan truyền sốt rét tại chỗ do muỗi ở trong một khu vực địa lý được xác định, tức là tỷ lệ cácca mắc mới sốt rét tại chỗ bằng không.Tiêu diệt bệnh sốt rét (Malaria eradication) được định nghĩa khi sự giảm số ca mắc mới vĩnh viễn (permanent) trên thế giới tới không bởi một tác nhân đặc biệt, ví dụ ápdụng đến một loài ký sinh trùng sốt rét đặc biệt.Trên cơ sở các ca bệnh được báo cáo vào năm 2012, có 52 quốc gia đang trên đà giảm tỷ lệ mắc mới sốt rét khoảng 75%, phù hợp với mục tiêu của Đại hội đồng Y tế Thế giới(World Health Assembly) vào năm 2015. Sử dụng các chiến lược được khuyến nghị bởi WHO trên diện rộng, các công cụ sẵn có hiện nay, các cam kết quốc gia mạnh mẽ và các nỗ lực phối hợp của các đối tác thì sẽ có nhiều quốc gia hơn có khả năng làm giảm sự bùng phát bệnh tật tiến tới việc loại trừ sốt rét, đặc biệt ở các quốc gia có sự lan truyền sốt rét thấp và không ổn định-để giảm gánh nặng bệnh tật ở đất nước họ và tiến bộ hướng đến loại trừ sốt rét.

Trong những năm gần đây, 4 quốc gia đã được chứng nhận bởi Tổng giám đốc Tổ chức Y tế thế giới là các quốc gia đã loại trừ được bệnh sốt rét: Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (United Arab Emirates-2007), Ma-rốc (2010), Turkmenistan (2010) và Armenia (2011).

Vắc-xin chống bệnh sốt rét (Vaccines against malaria)

Hiện tại không có vaccin được cấp phép chống lại bệnh sốt rét hay bất kỳ ký sinh trùng sốt rét ở người. Một nghiên cứu vắc-xin chống lạiP.falciparumđược gọi là RTS,S/AS01 là tiên tiến nhất. Vaccin này hiện đang được đánh giá trong một thử nghiệm lâm sàng trên diện rộng tại 7 quốc gia châu Phi. Một khuyến nghị của WHO cho việc sử dụng vaccin này tuỳ thuộc vào các kết quả cuối cùng từ các thử nghiệm lâm sàng trên diện rộng. Các kết quả cuối cùng được dự kiến ​​vào cuối năm 2014 và một khuyến nghị có sử dụng vaccin này hay không như là một công cụ bổ sung trong phòng chống sốt rét được dự kiến ​​vào cuối năm 2015.

Đáp ứng của Tổ chức Y tế thế giới (WHO response)

Chương trình sốt rét toàn cầu (Global Malaria Programm_GMP) của WHO chịu trách nhiệm về việc thiết lập khoá học về phòng chống và loại trừ sốt rét thông qua thiết lập, truyền thông và thúc đẩy sự chấp thuận các chính sách quy chuẩn dựa vào chứng cứ, chiến lược kỹ thuật và các hướng dẫn (setting, communicating and promoting the adoption of evidence-based norms, standards, policies, technical strategies, and guidelines); giữ tính độc lập về thang điểm trong các tiến bộ toàn cầu (keeping independent score of global progress); phát triển cách tiếp cận xây dựng năng lực, tăng cường hệ thống và giám sát (developing approaches for capacity building, systems strengthening, and surveillance); xác định các mối đe dọa trong phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét cũng như các lĩnh vực mới để hành động (identifying threats to malaria control and elimination as well as new areas for action).GMP hoạt động như là Ban thư ký cho Ủy ban tư vấn chính sách sốt rét (Malaria Policy Advisory Committee_MPAC) là một nhóm gồm 15 chuyên gia sốt rét toàn cầu được chỉ định theo sau một quá trình đề cử mở. MPAC họp hai lần một năm cung cấp sự tư vấn độc lập đến Tổ chức y tế thế giới nhằm phát triển các khuyến nghị chính sách cho việc phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét. Nhiệm vụ của MPAC là cung cấp tư vấn chiến lược và đầu vào kỹ thuật và mở rộng đến các khía cạnh trong phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét như một phần của một quá trình thiết lập chính sách đáp ứng đáng tin cậy và minh bạch.

WHO cũng là một đối tác thành lập (co-founder) và là chủ đối tác Đẩy lùi sốt rét (Roll Back Malaria), đồng thời là bộ khung thực hiện các hoạt động điều phối chống sốt rét. WHO huy động hành động, các nguồn lực và sự đồng thuận trong các đối tác. Chương trình đẩy lùi sốt rét có hơn 500 đối tác bao gồm các quốc gia lưu hành sốt rét (malaria endemic countries), các đối tác phát triển (development partners), các khu vực tư nhân (private sector), các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức dựa vào cộng đồng (nongovernmental and community-based organizations), các quỹ tài trợ (foundations), các viện nghiên cứu và học thuật (research and academic institutions).

Ngày 02/04/2014
Ths.Bs. Lê Thạnh
Theo who.int.com
 

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên khoa của Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn về các bệnh ký sinh trùng và các bệnh do véc tơ truyền, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng mới nổi như sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ, giun lươn, giun đũa chó và các bệnh thông thường khác; khám và xét nghiệm chẩn đoán bệnh bằng các phương tiện kỹ thuật cao như sinh hóa, huyết học, miễn dịch (ELISA), sinh học phân tử và chẩn đoán hình ảnh bằng nội soi tiêu hóa, siêu âm màu…

   Trung tâm Dịch vụ khoa học kỹ thuật của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế chuyên sản xuất mua bán hóa chất, vật tư, chế phẩm diệt côn trùng; dịch vụ diệt côn trùng gây bệnh, côn trùng gia dụng như muỗi, ruồi, gián, kiến…; dịch vụ phòng diệt mối mọt và xét nghiệm phát hiện tôm bằng các kỹ thuật hiện đại.


Tin đáng chú ý
Ngày sốt rét thế giới 25-4-2009 (The World Malaria Day- 25 April, 2009)
Kế hoạch triển khai phát động công tác phòng chống sốt rét nhân Ngày Sốt rét thế giới 25-4-2009 tại các tỉnh/thành phố trong nước
Ngày Sốt rét thế giới-Ngày cả thế giới cùng nỗ lực phòng chống sốt rét
Ngày 25 tháng 4 - Ngày Thế giới Phòng chống sốt rét
 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 CHUYÊN ĐỀ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: Khu vực 8-Phường Nhơn Phú-Thành phố Quy Nhơn-Tỉnh Bình Định.
Tel: (84) 0256.3547492 - Fax: (84) 0256.3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng Ban biên tập: TTND.PGS.TS. Hồ Văn Hoàng-Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích