Home TRANG CHỦ Thứ 6, ngày 19/10/2018
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Finance & Retail Tin tức - Sự kiện
Trong nước
Quốc tế
Tin hoạt động của Viện
Tin vắn đáng chú ý
Điểm tin y tế
Ngày Sốt rét thế giới 25 tháng 4 (World Malaria Day)
Web Sites & Commerce Hoạt động hợp tác
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Web Sites & Commerce Chuyên đề
Web Sites & Commerce Tư vấn sức khỏe
Web Sites & Commerce Tạp chí-Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động Đảng & Đoàn thể
Web Sites & Commerce Bạn trẻ
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Trung tâm dịch vụ
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
3 5 1 1 8 8 7 9
Số người đang truy cập
6 2
 Tin tức - Sự kiện Điểm tin y tế
Điểm tin y tế từ các báo ngày 20/12 đến ngày 31/12 năm 2017

Nhân dân

Nhìn lại năm 2017: Kiên trì các giải pháp bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân

Theo kết quả điều tra độc lập, chỉ số hài lòng của người dân về phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế đã đạt 87%, vượt mức 80% mà Chính phủ đề ra đến năm 2020. Kết quả này phần nào phản ánh những nỗ lực và các giải pháp mà ngành y tế đã, đang triển khai.

Đưa dịch vụ chất lượng cao về cơ sở

Xác định y tế cơ sở là nền tảng trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, cùng với sự quan tâm, chỉ đạo, đầu tư của Chính phủ, ngành y tế đang có nhiều chính sách ưu tiên cho y tế cơ sở, bảo đảm hoạt động hiệu quả nhằm hướng đến mục tiêu mọi người dân đều được tiếp cận các dịch vụ y tế cơ bản và chất lượng ngay tại nơi sinh sống, tạo sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe. Nhiều dự án đầu tư xây mới, cải tạo, nâng cấp được triển khai giúp các trạm y tế, phòng khám đa khoa khu vực, bệnh viện huyện… có cơ sở khang trang, đủ các thiết bị thiết yếu.

Công tác đào tạo cán bộ cũng được triển khai bằng nhiều hình thức: Đào tạo tại chỗ; đào tạo liên tục; cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viện tuyến trên về hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh (Đề án 1816); triển khai mô hình lấy bệnh viện tuyến dưới là vệ tinh cho tuyến trên… Nhờ đó, hàng chục nghìn cán bộ y tế cơ sở đã được đào tạo, đào tạo lại, cập nhật kiến thức mới, góp phần nâng cao năng lực cho tuyến y tế cơ sở.

Sau ba năm triển khai, năm 2017, khóa bác sĩ trẻ đầu tiên của dự án đưa bác sĩ trẻ tình nguyện về công tác tại miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (Dự án 585) chính thức tốt nghiệp, về công tác tại các huyện nghèo. Trước khi về công tác tại khu vực khó khăn, các bác sĩ này được đào tạo chuyên khoa cấp 1 (theo chương trình riêng, chú trọng đào tạo kiến thức lâm sàng); được cấp chứng chỉ hành nghề. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, họ trở về làm việc tại các bệnh viện (nơi các bác sĩ đã được xét tuyển vào làm việc trước khi đi công tác tại các vùng khó khăn). Khảo sát thực trạng nguồn nhân lực, nhu cầu bác sĩ, nhu cầu đào tạo theo từng chuyên khoa kết hợp khảo sát cơ sở vật chất, trang thiết bị, mô hình bệnh tật cho thấy tại 62 huyện nghèo còn thiếu khoảng 600 bác sĩ thuộc 15 chuyên khoa. Hiện nhiều khóa bác sĩ chuyên khoa cấp 1 của dự án đang được tổ chức tại các trường đại học: Y Hà Nội, Y Hải Phòng, Y Dược Huế. Dự kiến đến năm 2020 sẽ có từ 300 đến 500 bác sĩ trẻ được đưa về công tác tại các địa bàn khó khăn. Theo đánh giá của Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến, Dự án 585 là bước đột phá của ngành y tế trong việc tiến tới bảo đảm đủ nhân lực có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ở địa phương còn khó khăn.

Nếu như trước đây, các kỹ thuật cao như phẫu thuật tim mạch, chấn thương sọ não, nội soi can thiệp chỉ được thực hiện ở các bệnh viện tuyến trung ương thì đến nay không còn xa lạ với bệnh viện tuyến quận, huyện. Người dân được thăm khám, điều trị ngay tại địa phương, giảm tình trạng quá tải cho bệnh viện tuyến trên.

Ðích đến là sự hài lòng

Cùng với việc cải thiện chất lượng khám, chữa bệnh, ngành y tế triển khai nhiều giải pháp nâng cao tinh thần, thái độ phục vụ của cán bộ y tế. Đến nay đánh giá của người bệnh về chất lượng dịch vụ y tế, tinh thần, thái độ phục vụ của viên chức ngành y tế đã thay đổi theo chiều hướng tích cực qua từng năm. Kết quả kiểm tra độc lập khảo sát sự hài lòng của người bệnh tại 29 bệnh viện đại diện cho ba miền bắc - trung – nam, 89,9% số người được hỏi cảm thấy hài lòng trong quá trình khám, chữa bệnh tại cơ sở y tế. Trong buổi làm việc với Bộ Y tế, đoàn công tác của ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ cũng đã đánh giá cao chỉ số hài lòng của người dân về các hoạt động của ngành y tế, trong đó có các dịch vụ công. Chỉ số đo lường sự hài lòng của người dân về dịch vụ khám, chữa bệnh đạt hơn 87%, vượt mức 80% mà Chính phủ đề ra đến năm 2020.

Bộ Y tế đang phối hợp Tổng Hội y học Việt Nam triển khai đo lường, đánh giá sự hài lòng của người bệnh về: Phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế; xây dựng cơ sở y tế xanh, sạch, đẹp; chất lượng bệnh viện năm 2017 tại bệnh viện đa khoa và chuyên khoa tuyến tỉnh của 63 tỉnh, thành phố, tất cả các bệnh viện tuyến trung ương, bệnh viện của các học viện, nhà trường trực thuộc Bộ Y tế. Đây là hoạt động được triển khai trên quy mô toàn quốc, để đo sự hài lòng của người bệnh theo nội dung quy định về cải cách hành chính của Chính phủ; đánh giá kết quả, đồng thời tìm ra giải pháp xử lý những vướng mắc, hạn chế sau một thời gian triển khai các kế hoạch đã đề ra. Song song với quá trình kiểm tra, giám sát thực hiện, Bộ Y tế cũng giao các đơn vị tổ chức đoàn đánh giá độc lập để rà soát lại cách làm và kết quả tại từng bệnh viện, đồng thời là kênh tiếp nhận thông tin phản hồi của người bệnh.

Theo Cục trưởng Quản lý khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) Lương Ngọc Khuê, đến nay lãnh đạo, nhân viên y tế đã được quán triệt về sự cần thiết phải đổi mới trong quan điểm, tư duy về người bệnh trong hoạt động tác nghiệp hằng ngày, nhất là trong quản lý chất lượng phục vụ người bệnh. Đặt người bệnh làm trung tâm của hoạt động chăm sóc và điều trị, coi sự an toàn của người bệnh là số một, quản lý và cải tiến chất lượng là nhiệm vụ mang tính sống còn của các cơ sở khám, chữa bệnh.

Bài học từ các sự cố y khoa

Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân vẫn còn những vấn đề cần khắc phục. Năm 2017, hai sự cố y khoa nghiêm trọng xảy ra ở Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình (làm tám người chết, 10 người phải chuyển về Bệnh viện Bạch Mai để điều trị) và Bệnh viện Sản nhi Bắc Ninh (làm bốn trẻ sơ sinh chết). Nguyên nhân của các sự cố rất nghiêm trọng nêu trên đã được các cơ quan chức năng làm rõ, nhưng hệ lụy là uy tín của ngành y tế cũng như người thầy thuốc đều giảm sút. Đây là bài học cho toàn ngành y tế.

Các thống kê cho thấy, có tới 70% số vụ tai biến y khoa là do lỗi hệ thống. Tình trạng này có thể giảm được một nửa nếu áp dụng chặt chẽ các quy chuẩn về an toàn người bệnh. Để giảm được lỗi hệ thống, cần đặt ra các vấn đề một cách tổng thể từ đó đưa ra các giải pháp cải thiện gồm: Quản lý, quy trình khám điều trị, quản lý chất lượng thuốc, đấu thầu và sử dụng trang thiết bị, hóa chất, môi trường làm việc và tập huấn chuyên môn. Trong đó, xác định hiệu quả điều trị là quan trọng nhất và cần được coi là nguyên tắc bao trùm toàn bộ chứ không chỉ là một khẩu hiệu. Để giảm lỗi hệ thống cần công khai và minh bạch các sự cố y khoa theo quy định. Việc công bố những sai sót y khoa là nghĩa vụ và đạo đức của thầy thuốc và nhân viên y tế. Đó cũng là cơ sở để rút kinh nghiệm, chỉnh sửa lỗi hệ thống trong khám và điều trị nhằm bảo đảm an toàn người bệnh và giúp người thầy thuốc tránh được các sự cố y khoa sau này.

Theo một số chuyên gia của Tổng hội Y học Việt Nam, các lỗi từ cá nhân của người thầy thuốc có liên quan chặt chẽ đến năng lực chuyên môn và tính cẩn trọng trong công việc. Nghề nghiệp nào cũng cần sự cẩn trọng. Trong nghề y, sự cẩn trọng được coi là tối quan trọng, bởi lẽ nghề y liên quan chặt chẽ trực tiếp đến sức khỏe và sự sống của con người. Tuân thủ các quy định, quy tắc, hướng dẫn là điều kiện tiên quyết trong bất cứ phương pháp điều trị nào, từ ghi đơn, tiêm thuốc, làm các thủ thuật hay sử dụng máy móc, trang thiết bị. Sự tắc trách hay bỏ bớt, làm tắt các quy trình có thể thoát nạn ở một vài trường hợp nhưng nếu sự cố vì thế mà xảy ra thì sẽ gây nên hậu quả nghiêm trọng không có cơ hội sửa chữa.

Con số hơn 181 nghìn người mắc sốt xuất huyết trong năm 2017, trong đó có 30 người chết là vấn đề đáng quan tâm. Quan tâm không chỉ số người mắc tăng cao hơn 20% so với năm trước, mà những tỉnh, thành phố có số ca mắc cao nhất cả nước đều là những địa phương ít ai nghĩ đến: Hà Nội, Nam Định, Đà Nẵng, Quảng Nam, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương... Trong đó, Hà Nội với đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, con người lại là tâm điểm của dịch. Từ đó rút ra rất nhiều bài học từ vai trò của cơ quan chuyên môn đến sự vào cuộc của các ngành liên quan và cả ý thức của người dân.

Y tế dự phòng là then chốt

Những năm qua, các hoạt động y tế dự phòng (YTDP) được triển khai ngày càng mạnh mẽ, đã góp phần quan trọng cải thiện đáng kể các chỉ số về sức khỏe của người dân Việt Nam. Tuy vậy, công tác chăm sóc sức khỏe hiện vẫn đối mặt nhiều thách thức, đòi hỏi sự chung tay, góp sức của các bộ, ngành, chính quyền các cấp và người dân.

Các thách thức trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân hiện nay đó là: tình trạng chênh lệch về các chỉ số sức khỏe cơ bản giữa thành thị và nông thôn, giữa các khu vực và các nhóm đối tượng trong những năm gần đây vẫn chưa được cải thiện nhiều. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em thể nhẹ cân đã giảm nhanh song tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi vẫn còn ở mức cao. Trong khi đó, tỷ lệ béo phì ở trẻ em dưới năm tuổi đang tăng nhanh trong những năm gần đây. Đáng chú ý, hiện nay, gánh nặng do các bệnh lây nhiễm (sốt rét, sốt xuất huyết…) vẫn ở mức cao, ngày càng khó kiểm soát thì sự xuất hiện các dịch bệnh mới nổi, trong đó chủ yếu là các bệnh lây truyền từ động vật sang người như: H5N6, H7N9, Mers-CoV, Ebola… là một thách thức lớn đối với hệ thống y tế. Sự thay đổi cơ cấu gánh nặng bệnh tật, tử vong với sự gia tăng tỷ lệ các bệnh không lây nhiễm không chỉ gây nên gánh nặng về bệnh tật và kinh tế cho cả bản thân người bệnh và gia đình mà còn tạo nên gánh nặng cho hệ thống y tế cũng như toàn xã hội. Bệnh không lây nhiễm không chỉ gia tăng ở các quần thể dân cư thành thị có điều kiện kinh tế phát triển mà cả người nghèo ở vùng nông thôn.

Mặt khác, Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nhiều yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, bao gồm: các yếu tố nhân khẩu (quy mô và tốc độ gia tăng dân số, già hóa dân số, mất cân bằng giới tính khi sinh, di cư); các yếu tố kinh tế - xã hội (lao động, việc làm, thu nhập, đói nghèo, nhà ở, giáo dục - đào tạo, tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa); các yếu tố môi trường tự nhiên (biến đổi khí hậu, thiên tai, ô nhiễm môi trường, thiếu nước sạch và công trình vệ sinh, ô nhiễm thực phẩm) và các yếu tố hành vi, lối sống (hút thuốc lá, sử dụng rượu, bia quá mức, chế độ ăn không hợp lý, ít hoạt động thể lực, nghiện ma túy, mại dâm…).

Để ứng phó với mô hình bệnh tật thay đổi với gánh nặng bệnh tật kép của bệnh lây nhiễm và không lây nhiễm, đòi hỏi hệ thống y tế phải có những đáp ứng, thay đổi phù hợp cả về tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ và khả năng cung ứng dịch vụ. Trong đó, YTDP không chỉ làm tốt nhiệm vụ phòng bệnh truyền nhiễm mà còn phòng cả bệnh không lây nhiễm, thông qua dự phòng các yếu tố nguy cơ. Như vậy, chúng ta phải tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt quan điểm dự phòng trong lập kế hoạch và đầu tư cho các chương trình y tế. Chiến lược quốc gia YTDP Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 9-11-2006 nêu rõ: Dự phòng tích cực, chủ động làm giảm các yếu tố nguy cơ; dự phòng toàn diện và có trọng điểm… Thực hiện công tác YTDP là trách nhiệm của chính quyền các cấp, các bộ, ngành, đoàn thể, tổ chức kinh tế chính trị - xã hội và của mỗi người dân. Đặc biệt trong Nghị quyết 20 của Hội nghị T.Ư 6, khóa XII về Tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới vừa ban hành cũng nêu rõ quan điểm: Xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả và hội nhập theo phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh; YTDP là then chốt, y tế cơ sở là nền tảng; y tế chuyên sâu đồng bộ và cân đối với y tế cộng đồng… YTDP là áp dụng các phương pháp dự phòng bệnh tật bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường, di truyền, tác nhân gây bệnh, lối sống, hành vi… YTDP tập trung vào việc bảo vệ, tăng cường và duy trì sức khỏe, dự phòng bệnh tật, tàn phế và tử vong. Các hoạt động dự phòng được chia thành các cấp độ sau: Dự phòng cơ bản là áp dụng các biện pháp ngăn ngừa việc hình thành các yếu tố nguy cơ về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong quá trình phát triển (thí dụ như phá hủy không trồng cây thuốc lá). Dự phòng cấp một là áp dụng các biện pháp hạn chế phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ (như giáo dục sức khỏe, tiêm vắc-xin phòng bệnh). Dự phòng cấp hai là áp dụng các biện pháp chẩn đoán phát hiện sớm ở giai đoạn chưa có biểu hiện triệu chứng lâm sàng bằng các kỹ thuật (đo huyết áp thường xuyên để phát hiện và điều trị sớm nhằm làm giảm nguy cơ của các bệnh tim mạch; xét nghiệm sàng lọc phát hiện sớm ung thư cổ tử cung…). Dự phòng cấp ba là áp dụng các biện pháp điều trị bệnh và phục hồi chức năng hiệu quả nhằm làm giảm tàn phế và tử vong. Dự phòng cấp bốn là áp dụng các biện pháp làm giảm lạm dụng các can thiệp điều trị không cần thiết. Hiệu quả của các hoạt động dự phòng là rất rõ rệt, bảo vệ sức khỏe dự phòng bệnh tật, và nâng cao chất lượng cuộc sống, làm giảm chi phí trong chẩn đoán và điều trị.

Thực tế cho thấy, nhờ tiêm chủng vắc-xin đã làm giảm đáng kể tỷ lệ người mắc và chết của nhiều bệnh nhiễm trùng, cũng như tiết kiệm chi phí cho điều trị và giảm chi phí mất đi do bố mẹ và người chăm sóc phải nghỉ việc không lương do chăm sóc trẻ ốm. Chi phí cho điều trị lớn gấp năm lần chi phí cho việc triển khai tiêm chủng phòng bệnh.

Để dự phòng bệnh tật có hiệu quả, cần có sự kết hợp lồng ghép các chiến lược can thiệp liên quan với nhiều yếu tố nguy cơ và bệnh tật, thay đổi hành vi lối sống của cộng đồng, với sự tham gia liên ngành, các cơ quan, tổ chức, đoàn thể, chính trị, kinh tế, xã hội, doanh nghiệp, bao gồm Nhà nước và tư nhân. Các chiến lược đó là: giám sát dịch tễ học nhằm theo dõi chiều hướng các yếu tố nguy cơ và tỷ lệ mắc bệnh làm cơ sở xác định ưu tiên và đánh giá hiệu quả can thiệp. Đề xuất các chính sách và tạo môi trường thuận lợi nhằm thúc đẩy và tạo điều kiện thay đổi hành vi. Nâng cao năng lực của hệ thống y tế nhằm tăng cường độ bao phủ và sử dụng có hiệu quả các dịch vụ dự phòng và chăm sóc sức khỏe. Thiết lập các chương trình nhằm tăng khả năng tiếp cận, kết nối của người dân với các nguồn lực và các dịch vụ, củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, triển khai quản lý bệnh tật, bao gồm bệnh lây nhiễm và không lây nhiễm gắn với chăm sóc sức khỏe ban đầu và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, nhằm duy trì các hoạt động dự phòng và quản lý bệnh tật tại cộng đồng.

Chăm sóc sức khỏe ban đầu là việc thiết yếu, dựa trên những phương pháp và kỹ thuật thực tiễn, có cơ sở khoa học và được chấp nhận về mặt xã hội, phổ biến đến tận mọi cá nhân và gia đình trong cộng đồng, với sự tham gia tích cực của họ. Bốn nguyên lý Chăm sóc sức khỏe ban đầu là cam kết chính trị, cộng đồng tham gia, phối hợp liên ngành, và sử dụng kỹ thuật thích hợp. Cần tăng cường thực hiện 10 nội dung của Chăm sóc sức khỏe ban đầu mà Việt Nam đã và đang triển khai trong gần 40 năm qua, đó là : Giáo dục sức khỏe, dinh dưỡng, môi trường-nước sạch, sức khỏe bà mẹ trẻ em-kế hoạch hóa gia đình, tiêm chủng mở rộng, phòng, chống bệnh dịch địa phương, chữa bệnh và chấn thương thông thường, thuốc thiết yếu, quản lý sức khỏe, xây dựng và củng cố mạng lưới y tế cơ sở. Các chiến lược nêu trên sẽ giúp dự phòng bệnh tật, bao gồm các bệnh lây nhiễm và không lây nhiễm, giảm tỷ lệ mắc bệnh; phát hiện sớm, điều trị triệt để nhằm giảm biến chứng tàn phế, tử vong; giảm gánh nặng cho hệ thống y tế, nâng cao chất lượng cuộc sống, nâng cao tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi

Thanh niên

Từ 1.1.2018 tiêm chủng bắt buộc đối với 10 bệnh truyền nhiễm

Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 38/2017/TT-BYT quy định danh mục bệnh truyền nhiễm, phạm vi và đối tượng phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế bắt buộc, có hiệu lực từ 1.1.2018. Theo thông tư, bệnh truyền nhiễm và vắc xin tiêm bắt buộc trong chương trình tiêm chủng mở rộng, áp dụng cho các trẻ từ sơ sinh đến 5 tuổi, gồm 10 bệnh: viêm gan vi rút B, lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, bệnh do vi khuẩn Haemophilus influenzae thể B, sởi, viêm não Nhật Bản B, rubella.

Trong đó, có 2 vắc xin được chỉ định tiêm bắt buộc cho các bé sơ sinh (viêm gan vi rút B sơ sinh tiêm trong vòng 24 giờ đầu sau sinh và vắc xin lao tiêm 1 lần cho trẻ trong vòng 1 tháng đầu sau sinh).

Theo danh mục tại Thông tư 38, vắc xin tả không còn trong danh mục tiêm chủng bắt buộc với trẻ nhỏ.

Công an Nhân dân

Bỏ sót trong công tác giám sát, dịch bệnh truyền nhiễm vẫn phức tạp

Nhận định trên được đưa ra tại buổi họp chiều 29-12 của Sở Y tế TP HCM với đại diện Y tế dự phòng 24 quận, huyện.

Ông Nguyễn Trí Dũng, Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng TP HCM cho biết, trong năm 2017, số ca mắc sốt xuất huyết (SXH) nhìn chung có giảm nhưng ở một số quận, huyện có số ca mắc SXH vẫn tăng vọt (huyện Cần Giờ tăng 146,7%; quận 12 tăng 43,2%;  quận 4 tăng 31,6%).

Cấp cứu cho bệnh nhi mắc sốt xuất huyết tại Bệnh viện Nhi Đồng 1- TP HCM.

Toàn TP HCM trong năm 2017 vẫn có 19.581 ca mắc SXH phải nhập viện. So với năm 2016, SXH có giảm theo mùa nhưng vẫn luôn cao hơn so với cùng kỳ năm ngoái; cao điểm nhất là từ tháng 7 tới tháng 9-2017 với khoảng 500 ca mắc/tuần phải nhập viện.

Lý giải nguyên nhân trên, ông Dũng thừa nhận, do việc giám sát các điểm nguy cơ và điều tra dịch tễ tại các ổ dịch còn chưa tốt. Đặc biệt là bỏ sót nhiều điểm nguy cơ. Việc thực hiện phun hóa chất diệt muỗi, diệt lăng quăng nhiều nơi chưa đạt, nhiều địa phương công tác quản lý các điểm nguy cơ thiếu sự giám sát thường xuyên…

Từ thực tế này, lãnh đạo Trung tâm y tế dự phòng thành phố cho biết việc rà soát các điểm nguy cơ gây lăng quăng, dịch SXH sẽ tiếp tục được thực hiện tăng cường từ nay tới dịp Tết Nguyên đán 2018.

 90% nguyên liệu sản xuất thuốc trong nước phải nhập ngoại

Dân số càng tăng nhanh, thu nhập bình quân đầu người tăng cao, dân trí được cải thiện, thì nhu cầu sử dụng thuốc chữa bệnh của người dân cũng ngày càng lớn. Chi tiêu bình quân đầu người dành cho thuốc tại Việt Nam đã tăng dần từ 9,85 USD trong năm 2005 lên đến 22,25 USD trong năm 2010 và con số này tăng gần gấp đôi vào năm 2015 (37,97 USD). Mức tăng trưởng trung bình trong chi tiêu dành cho thuốc hàng năm đạt 14,6% trong giai đoạn 2010-2015 và duy trì ở mức tăng ít nhất 14%/năm cho tới năm 2025, chi tiêu dành cho thuốc theo đầu người tại Việt Nam được dự báo tăng gấp đôi lên 85 USD vào năm 2020 và 163 USD trong năm 2025. Một khảo sát của Công ty Vietnam Report cho thấy năm 2017 thị trường dược phẩm Việt Nam doanh thu ước đạt 5,2 tỷ USD, tăng khoảng 10% so với năm trước. Ngành dược càng phát triển thì người dân càng có nhiều cơ hội được tiếp cận với các loại thuốc mới, có chất lượng với giá thành hợp lý. Tuy nhiên, đánh giá về những khó khăn trong ngành dược hiện nay, hơn 90% doanh nghiệp tham gia khảo sát cho rằng “Quy trình đấu thầu thuốc bệnh viện – kênh ETC” và vấn đề “Phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu chủ yếu nhập khẩu từ nước ngoài” đang là những rào cản lớn nhất…

Ngành y tế sẽ thay đổi mạnh về cơ cấu tổ chức và mô hình

Thời gian tới, ngành y tế sẽ có nhiều thay đổi để bắt kịp yêu cầu của thời hội nhập về cả cơ cấu tổ chức lẫn mô hình hoạt động. Điều này sẽ giúp giảm hàng nghìn tỷ đồng ngân sách chi cho y tế.

Bộ Y tế tinh giảm 20 đơn vị sự nghiệp trực thuộc

Trong thời gian tới, Bộ Y tế sẽ thu gọn các đầu mối để chỉ quản lý trực tiếp khoảng 20 đơn vị sự nghiệp, thay vì 82 đơn vị sự nghiệp như hiện nay. Kế hoạch thay đổi này đã được ông Phạm Văn Tác - Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ (Bộ Y tế) xác nhận.

Ông Phạm Văn Tác cho biết thêm, thực hiện Nghị quyết 39-NQ/TW của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế tổ chức bộ máy gọn nhẹ, hiệu quả, các phòng trong Vụ, Cục trực thuộc Bộ Y tế đã được sắp xếp, thu gọn đầu mối từ 94 phòng xuống còn 59 phòng, giảm 35 phòng (chiếm 37,2%), đồng thời giảm 105 cán bộ lãnh đạo cấp phòng.

Trong quy hoạch phát triển ngành y tế đến 2025, tầm nhìn đến 2030, ngành y tế sẽ thành lập Trung tâm phòng ngừa và kiểm soát bệnh tật Trung ương trên cơ sở sáp nhập các Cục phụ trách công tác chuyên môn trong khối y tế dự phòng thành một đơn vị. Như vậy từ 3-4 đơn vị như hiện nay sẽ giảm còn 1 đơn vị.

Bên cạnh đó, ngành y tế cũng sẽ thành lập đơn vị kiểm soát dược, thực phẩm và thiết bị y tế Trung ương trên cơ sở các đơn vị làm nhiệm vụ kiểm nghiệm, kiểm định, kiểm chuẩn, để giảm từ 3 đơn vị như hiện nay còn 1 đơn vị. Khối các đơn vị quản lý khám chữa bệnh có cùng chức năng nhiệm vụ tương đồng sẽ được xem xét thành 1 đơn vị.

Hiện Bộ Y tế đang quản lý 82 đơn vị sự nghiệp trực thuộc. Trong đó, có 21/38 bệnh viện/82 đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Y tế đã tự chủ toàn bộ kinh phí thường xuyên với số lượng 17.584 biên chế và 1.693 hợp đồng. Như vậy, mỗi năm ngân sách Nhà nước không chi cho tổng cộng 18.277 người với số tiền khoảng 1.306 tỷ đồng/năm (tính trung bình lương 6 triệu đồng/tháng/người).

Trong thời gian tới, Bộ Y tế sẽ rà soát, chuyển giao các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa Trung ương đóng trên địa bàn các tỉnh về UBND tỉnh quản lý. Chỉ một số bệnh viện đầu ngành là cơ sở thực hành của các trường đại học y dược và một số bệnh viện chuyên khoa đặc biệt mới do Bộ Y tế quản lý.

Cũng theo ông Phạm Văn Tác, đối với tuyến y tế địa phương, hiện đã có 70/2.040 đơn vị tuyến tỉnh, thành phố tự chủ kinh phí thường xuyên, với khoảng 35.000 biên chế không phải chi lương từ ngân sách nhà nước, tiết kiệm khoảng 2.520 tỷ/năm (tính trung bình lương 6 triệu đồng/người/tháng).

Ở tuyến huyện, có 202/420 đơn vị tổ chức thực hiện hợp nhất Trung tâm Y tế huyện và bệnh viện huyện thành Trung tâm y tế huyện. Theo đó, nếu hợp nhất 420 Trung tâm y tế huyện và 420 bệnh viện đa khoa huyện, riêng ngân sách nhà nước chi cho lãnh đạo 840 đơn vị sự nghiệp công lập này sẽ giảm 120.960 tỷ/năm. Đồng thời sẽ giảm được khoảng 10.899 người làm hành chính (lái xe, thủ quỹ, văn thư, kế toán…), do đó ngân sách sẽ không phải chi khoảng 784 tỷ đồng/năm.

Các bệnh viện của Hà Nội sẽ tự chủ tài chính

Cùng với việc thu gọn bộ máy theo hướng tinh, nhẹ, năm 2018, ngành y tế Thủ đô cũng có thay đổi lớn. Theo bà Trần Thị Nhị Hà - Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội, từ ngày 1-1-2018, tất cả các bệnh viện công lập tại Hà Nội sẽ thực hiện tự chủ tài chính, trừ các bệnh viện chuyên khoa đặc biệt như lao, phong, tâm thần vv…

Trước đó, từ ngày 1-10-2017, ở địa bàn TP Hồ Chí Minh, tất cả các bệnh viện công lập cũng đã chuyển sang cơ chế tự chủ tài chính.

Với việc sắp xếp lại cơ cấu tổ chức, thay đổi mô hình hoạt động, ngành y tế sẽ giảm được bộ máy cồng kềnh, từ đó mỗi năm, Nhà nước sẽ giảm chi hàng nghìn tỷ đồng vì ngân sách không còn rót xuống cho các bệnh viện như trước. Đây là hiện thực hóa chủ trương lớn của Chính phủ.

Đặc biệt với việc phải tự lo toàn bộ nguồn thu cũng như tự cân đối thu - chi, các bệnh viện buộc phải thay đổi phong cách, thái độ phục vụ để thu hút người bệnh. Để tồn tại, các bệnh viện phải phát triển đồng đều các lĩnh vực, nhất là chuyên môn kỹ thuật, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân. Bởi nếu chuyên môn yếu, người bệnh sẽ đến bệnh viện khác cùng tuyến hoặc lên tuyến trên, nên sẽ mất nguồn thu. Các bệnh viện cũng phải liên tục nâng cao chất lượng dịch vụ, đặc biệt là chất lượng khám chữa bệnh, để cạnh tranh lành mạnh giữa các bệnh viện, vừa để “giữ” giữ người bệnh, vừa để giữ các thầy thuốc giỏi.

Quân đội Nhân dân

Mong đường dây nóng của ngành y tế không phải “nóng”

Được biết, từ năm 2014 đến nay, qua số điện thoại đường dây nóng 1900 9095, Bộ Y tế đã xử lý, nhắc nhở gần 28.000 cán bộ, nhân viên y tế bằng nhiều hình thức.

Đến nay, 100% cơ sở y tế khám, chữa bệnh trên toàn quốc đã thực hiện công khai số điện thoại đường dây nóng. Việc làm này đã giúp bệnh nhân và người nhà kịp thời phản ảnh những tiêu cực, vấn đề liên quan đến công tác chăm sóc sức khỏe người bệnh. Nhờ vậy, ý thức và chất lượng phục vụ bệnh nhân đã được nâng lên rõ rệt. Ví dụ, Bệnh viện K (Hà Nội) từng đội sổ về chỉ số hài lòng của người bệnh với điểm số 52/100 thì nay đã cải thiện lên 86/100. Kết quả khảo sát chung trong cả nước cho thấy, mức độ hài lòng của người bệnh đối với các cơ sở khám, chữa bệnh đã tăng từ 51% lên 85%.

Những kết quả trên là rất tích cực, ghi nhận sự nỗ lực của ngành y tế. Song, người dân chúng tôi vẫn mong rằng, ngành y tế sẽ không phải nhận những cuộc điện thoại phàn nàn về thái độ, cung cách phục vụ hay những tiêu cực của nhân viên y tế nữa. Để đạt được mục tiêu này, chúng tôi cho rằng ngoài việc nâng cao trình độ chuyên môn, ngành y tế phải không ngừng bồi dưỡng y đức, tăng cường giáo dục, tuyên truyền về trách nhiệm của nhân viên y tế đối với người dân. Cùng với đó, ngành y tế cần chủ động đề xuất, tìm cách nâng cao đời sống của đội ngũ nhân viên y tế.

Tầm soát trước sinh để nâng cao chất lượng dân số

Làm thế nào để nâng cao chất lượng dân số trong tương lai luôn là vấn đề được Đảng, Nhà nước quan tâm, đặt lên hàng đầu. Tầm soát, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh để phát hiện, can thiệp và điều trị sớm bệnh, tật, các rối loạn chuyển hóa, di truyền ngay trong giai đoạn bào thai và sơ sinh sẽ giúp sinh ra những đứa trẻ khỏe mạnh, góp phần nâng cao chất lượng dân số.

Theo dõi sát việc phát triển thai kỳ, Khoảng cuối tháng 10-2017, Khoa Sản, Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh tiếp nhận bệnh nhân Hoàng Thị H (17 tuổi), dân tộc Tày, trú tại huyện Tiên Yên (Quảng Ninh) mang thai tuần thứ 31. Khi nhập viện, huyết áp bệnh nhân tăng, tiểu cầu giảm, men gan tăng, phù rau, phù thai, tổn thương chức năng thận. Qua hội chẩn chuyên khoa, các bác sĩ chẩn đoán bệnh nhân bị tiền sản giật nặng, phù rau thai và chỉ định phẫu thuật cấp cứu lấy thai cứu mẹ do bệnh lý sản khoa của mẹ nặng nề, nguy cơ tử vong rất cao. Ca phẫu thuật diễn ra trong khoảng hơn một giờ đồng hồ, các bác sĩ lấy ra một thai nhi nặng 1,800 gam, dị dạng toàn thân, bụng phù cứng, không rõ giới tính… Người nhà sản phụ cho biết, trước đó sản phụ không khám sàng lọc trước sinh (SLTS) tại các cơ sở y tế.

Chị Trần Minh Hiền (quận Thanh Xuân, TP Hà Nội) chia sẻ: “Khi mang thai cháu đầu, tôi hoàn toàn không để ý đến việc khám SLTS. Chỉ khi đến bệnh viện siêu âm ở những tuần đầu, tôi được bác sĩ tư vấn nên khám SLTS cho thai nhi để chắc chắn rằng em bé phát triển bình thường hoặc phát hiện sớm các dị tật của thai nhi. Bây giờ mang thai cháu thứ hai, từ khi đủ 12 tuần tuổi đến nay, tôi thường đến bệnh viện khám định kỳ. Hiện em bé phát triển bình thường nên gia đình tôi rất yên tâm”. Với chị Hải Hà (quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội) thời gian đầu mang thai, sức khỏe yếu, chị lại dùng thuốc kháng sinh một thời gian dài nên khá lo lắng cho sự phát triển của thai nhi. Được các bác sĩ tư vấn, chị tiến hành các xét nghiệm SLTS để bảo đảm môi trường an toàn nhất cho sự phát triển của thai nhi. “Việc khám SLTS rất quan trọng. Điều này giúp chẩn đoán sớm những bệnh mà trẻ sinh ra có thể mắc phải, từ đó tránh những tổn thương cho trẻ, gia đình và xã hội khi trẻ sinh ra”, chị Hà nói.

Mở rộng phạm vi sàng lọc được thanh toán BHYT, Thứ trưởng Bộ Y tế, GS, TS Nguyễn Viết Tiến cho biết: "Ước tính ở Việt Nam, mỗi năm có hơn một triệu em bé được sinh ra, trong đó, khoảng 22.000-30.000 trẻ bị dị tật bẩm sinh ở nhiều dạng bệnh khác nhau. Nếu như trước đây, các thai phụ chỉ được thăm khám bằng các biện pháp đơn giản thì gần đây, nhờ sự tiến bộ của y học, nhất là từ khi triển khai đề án tầm soát phát hiện một số bệnh, tật bẩm sinh thông qua SLTS và sơ sinh, trẻ sinh ra đã tránh được những hậu quả nặng nề do dị tật, góp phần nâng cao chất lượng dân số. Mục tiêu mà ngành Y tế đặt ra trong việc tầm soát, chẩn đoán sớm bệnh, tật trước sinh và sơ sinh đến năm 2030 là 70% phụ nữ mang thai được tầm soát ít nhất 4 loại bệnh, tật bẩm sinh phổ biến nhất, 90% trẻ sơ sinh được tầm soát ít nhất 5 bệnh bẩm sinh phổ biến nhất".

Hiện nay, đề án tầm soát, chẩn đoán sớm bệnh, tật trước sinh và sơ sinh do Tổng cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế) được triển khai trên phạm vi toàn quốc. Tại Trung ương, các thai phụ có thể đến 6 trung tâm sàng lọc (BV Phụ sản Trung ương, BV Từ Dũ TP Hồ Chí Minh, Trường Đại học Y Dược Huế, BV Phụ sản TP Cần Thơ, BV Nhi Trung ương, Trung tâm SLTS và sơ sinh tỉnh Nghệ An) bảo đảm cung cấp các dịch vụ cho phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh. Tại các tuyến quận, huyện, thai phụ có thể đến trung tâm dân số kế hoạch hóa gia đình để được tư vấn, khám SLTS, phát hiện sớm những bất thường hay dị tật thai nhi.Ngày Dân số Việt Nam 2017 lấy chủ đề “Thực hiện tầm soát, chẩn đoán và điều trị sớm bệnh, tật trước sinh và sơ sinh góp phần nâng cao chất lượng dân số” cho thấy, việc thực hiện SLTS và sơ sinh chính là bước đi lâu dài của ngành Dân số nói riêng và cả xã hội nói chung vì mục tiêu cải thiện, nâng cao chất lượng giống nòi.

Hà Nội mới

 Giá thuốc giảm vẫn chưa hết lo

Kết quả của đợt đấu thầu tập trung quốc gia lần đầu tiên với 22 thuốc điều trị ung thư vừa được Bộ Y tế công bố cho thấy, giá thuốc đã giảm tới 33%, giúp tiết kiệm 477 tỷ đồng. Dù có nhiều ưu điểm, nhất là khắc phục được tình trạng “loạn” giá thuốc trúng thầu nhưng với các nhà quản lý, bệnh viện, phương thức đấu thầu này chưa hẳn đã hết nỗi lo.

Thuốc hiện chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu chi cho khám, chữa bệnh của bảo hiểm y tế (BHYT). Theo thống kê của Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam, tổng chi cho thuốc từ Quỹ BHYT năm 2015 là hơn 26.000 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 48,3%. Năm 2016, con số này hơn 31.500 tỷ đồng, chiếm 41%. Tỷ lệ này cao hơn so với các quốc gia có điều kiện tương đồng về kinh tế - xã hội. Có thực tế này là do trước đây việc đấu thầu thuốc thực hiện riêng lẻ tại từng tỉnh, thành phố và cơ sở khám, chữa bệnh dẫn đến tình trạng “loạn” giá thuốc. Cùng một hoạt chất, loại thuốc, nhà sản xuất, cùng địa phương nhưng giá có thể khác nhau giữa các bệnh viện, một số mặt hàng có giá trúng thầu cao. Chính vì vậy, việc đấu thầu thuốc tập trung quốc gia không chỉ giúp tiết kiệm ngân sách mà còn xóa đi sự chênh lệch giá thuốc giữa các vùng, các bệnh viện.

Ông Phạm Lương Sơn, Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam cho rằng, đấu thầu tập trung đã khắc phục được một số bất cập của đấu thầu riêng lẻ. Đấu thầu tập trung cũng ghi nhận kết quả đáng mừng khi giá thuốc trúng thầu đã giảm so với giá kế hoạch, tiết kiệm được một khoản tiền lớn. Tuy nhiên, công tác này vẫn còn khá nhiều vướng mắc, lo lắng. Kết quả đấu thầu tập trung đã tốt nhưng vấn đề còn lại là đưa vào thực tiễn khám, điều trị cho người bệnh thế nào.

Vướng mắc trước hết được ông Trần Văn Chung, Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội đề cập, đó là Thông tư 11/2016/TT-BYT của Bộ Y tế ban hành ngày 11-5-2016 về đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập, Bộ Y tế không quy định các tỉnh, thành phố được thành lập trung tâm đấu thầu thuốc tập trung. Do đó, các địa phương phải giao cho một bệnh viện tổ chức đấu thầu khiến bệnh viện gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, trong danh mục đấu thầu tập trung có một số hoạt chất ít được sử dụng hoặc sử dụng với số lượng nhỏ (chỉ vài trăm nghìn đồng), vì vậy, nhà thầu không ký hợp đồng hoặc không cung ứng.

Bên cạnh đó, hiện chưa có cơ chế dự trữ thuốc dự phòng khi thuốc đấu thầu đợt cũ hết nhưng đợt đấu thầu mới chưa có sẽ gây khó khăn trong điều trị bệnh. Ngoài ra, Bộ Y tế cũng quy định, việc đấu thầu thuốc phải trình UBND tỉnh, thành phố để phê duyệt, nhưng các thủ tục lại rất khó đáp ứng việc cung cấp nguồn thuốc kịp thời. Điều này dễ dẫn tới tình trạng thiếu một số loại thuốc, làm ảnh hưởng đến người bệnh.

“Sở Y tế Hà Nội kiến nghị xem xét tổ chức hai cấp độ đấu thầu. Cụ thể, Bộ Y tế đấu thầu tập trung toàn bộ thuốc thuộc danh mục thuốc đấu thầu tập trung cấp quốc gia. Còn ở cấp địa phương, các cơ sở y tế tự đấu thầu những mặt hàng còn lại”, ông Trần Văn Chung nói. Về vấn đề này, ông Vũ Đình Tiến, Trưởng khoa Dược (Bệnh viện K trung ương) đặt câu hỏi, hiện mô hình bệnh tật có nhiều thay đổi nên thường xuyên phát sinh thuốc ngoài kết quả đấu thầu. Khi thuốc trong kế hoạch đấu thầu tập trung sử dụng hết nhưng lại không điều chuyển được giữa các cơ sở y tế thì bệnh viện sẽ mua bổ sung bằng cách nào? Mặt khác, thời gian từ khi lập kế hoạch đấu thầu đến khi có kết quả lựa chọn nhà thầu kéo dài, khi bệnh viện có sự thay đổi về số lượng bệnh nhân và nhu cầu sử dụng thuốc thì thuốc được lấy từ nguồn nào để đáp ứng?

Không để xảy ra tình trạng thiếu thuốc, Thứ trưởng Bộ Y tế Phạm Lê Tuấn nhấn mạnh, thuốc là mặt hàng quan trọng phục vụ khám, chữa bệnh. Nhiệm vụ của Bộ Y tế, các bệnh viện là cung ứng đủ thuốc, không vì mua sắm tập trung mà ảnh hưởng đến việc điều trị cho người bệnh. Vì vậy, sau việc hoàn tất công tác đấu thầu, nhiệm vụ tiếp theo của cơ quan chức năng là theo dõi chất lượng thuốc, số lượng thuốc, kịp thời có điều chỉnh phù hợp, không được để xảy ra tình trạng thiếu thuốc.Sắp tới, Bộ Y tế tiếp tục triển khai quy định đàm phán giá với các thuốc độc quyền, đấu thầu tập trung quốc gia trên 20 thuốc kháng sinh có số lượng sử dụng lớn. Trước những vướng mắc được đưa ra, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến yêu cầu Trung tâm Mua sắm tập trung thuốc quốc gia phân quyền tối đa cho các sở y tế địa phương để tự liên lạc với nhau trong việc điều chuyển thuốc, mở rộng danh mục và áp dụng hình thức đàm phán giá đặc biệt đối với gói thầu thuốc biệt dược gốc.

Mặt khác, trong quá trình thực hiện sẽ có những quy định chặt chẽ như bắt buộc doanh nghiệp phải cam kết bảo đảm cung ứng đủ thuốc trúng thầu, chia nhỏ hơn nữa các gói thầu để tránh tình trạng thuốc giá rẻ, chất lượng không tốt nhưng vẫn trúng thầu…Việc đấu thầu thuốc theo hình thức tập trung cấp quốc gia hướng tới mục tiêu lựa chọn ra các sản phẩm thuốc có chất lượng tốt, giá tốt, tiết kiệm chi ngân sách, giảm giá mua, giảm chi phí thực hiện các thủ tục. Tất cả yếu tố này giúp người bệnh được hưởng lợi thông qua việc giảm tiền thuốc, góp phần quan trọng vào việc giảm giá gói chữa bệnh, bởi hiện tiền thuốc đang chiếm tỷ trọng cao. Quỹ BHYT cũng giảm bớt nguồn tài chính cho chi phí thuốc để quan tâm tới các chi phí khác hiện đang thiếu nguồn

An ninh thủ đô

Trên 70% số ca tử vong hàng năm liên quan đến bệnh không lây nhiễm

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính tại Việt Nam trong năm 2017 có trên 541.000 trường hợp tử vong do tất cả các nguyên nhân; trong đó tử vong do các bệnh không lây nhiễm chiếm tới 76% (411.600 ca).

Đặc biệt, theo thống kê tại các bệnh viện, tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm giảm từ 55,5% (năm 1976) xuống còn 19,8% (năm 2010) thì tỷ lệ mắc bệnh không lây nhiễm tăng nhanh từ 42,6% (năm 1976) lên tới 71,6% (năm 2010). 

Đây là thông tin được đưa ra tại hội thảo “Tăng cường truyền thông phòng chống bệnh không lây nhiễm” do Viện Dinh dưỡng quốc gia (Bộ Y tế) tổ chức chiều 25-12. 

Theo Viện Dinh dưỡng quốc gia, hiện các bệnh không lây nhiễm (như: đái tháo đường, ung thư, tăng huyết áp, bệnh tim mạch) đang có chiều hướng gia tăng. Hầu hết các yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm (gồm: hút thuốc, thừa cân, tăng huyết áp, ăn ít rau/trái cây và thiếu hoạt động thể lực) có xu hướng tăng nhanh.

Sức khỏe & Đời sống

Xây dựng đội ngũ cán bộ y tế “Thầy thuốc phải như mẹ hiền”

Xây dựng đội ngũ cán bộ y tế “Thầy thuốc phải như mẹ hiền”, có năng lực chuyên môn vững vàng, tiếp cận trình độ quốc tế.

Ngày 25/10/2017, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Nghị quyết số 20 -NQ/TW của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.

Mục tiêu tổng quát mà Nghị quyết 20 đưa ra là nâng cao sức khỏe cả về thể chất và tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ, chất lượng cuộc sống của người Việt Nam. Xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả và hội nhập quốc tế. Phát triển nền y học khoa học, dân tộc và đại chúng. Bảo đảm mọi người dân đều được quản lý, chăm sóc sức khỏe. Xây dựng đội ngũ cán bộ y tế “Thầy thuốc phải như mẹ hiền”, có năng lực chuyên môn vững vàng, tiếp cận trình độ quốc tế. Trong đó, đến năm 2025, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam khoảng 74,5 tuổi, số năm sống khỏe đạt tối thiểu 67 năm. Tỉ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 95% dân số; tỉ lệ chi trực tiếp từ tiền túi của hộ gia đình cho y tế giảm còn 35%. Tỉ lệ hài lòng của người dân với dịch vụ y tế đạt trên 80%. Đến năm 2030: tuổi thọ trung bình khoảng 75 tuổi, số năm sống khỏe đạt tối thiểu 68 năm. Tỉ lệ hài lòng của người dân với dịch vụ y tế đạt trên 90%...

Quản lý chặt chẽ nhập khẩu thuốc

Đảo đảm thuốc đủ về số lượng, tốt về chất lượng, giá hợp lý, đáp ứng nhu cầu phòng, chữa bệnh, khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước.Nghị quyết 20 Hội nghị lần thứ 6 ban chấp hành Trung ương khóa 12 về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới yêu cầu phải bảo đảm thuốc đủ về số lượng, tốt về chất lượng, giá hợp lý, đáp ứng nhu cầu phòng, chữa bệnh, phục hồi chức năng, khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước. Tăng cường đấu thầu tập trung, giảm giá thuốc, thiết bị, hoá chất, vật tư y tế, bảo đảm công khai, minh bạch.

 Hoàn thiện cơ chế đầu tư, mua sắm và kiểm soát chặt chẽ chất lượng, chống thất thoát, lãng phí. Quản lý chặt chẽ nhập khẩu thuốc. Thuốc là hàng hóa đặc biệt có ảnh hưởng tới sức khỏe, an toàn và hiệu quả điều trị bệnh, thuốc cũng có thành phần phức tạp, mức độ ổn định không cao, việc kiểm tra giám sát chất lượng thuốc sản xuất, nhập khẩu, lưu thông, sử dụng thuốc là việc làm cần thiết của cả cơ sở sản xuất, kinh doanh và của hệ thống các cơ quan quản lý, kiểm tra chất lượng thuốc. Do vậy, có thể khẳng định, việc rà soát chất lượng thuốc liên tục, xử lý, xử phạt nghiêm các cơ sở có thuốc vi phạm sẽ góp phần nâng cao chất lượng thuốc, góp phần giảm tỷ lệ thuốc không đạt chất lượng trong quá trình lưu thông trên thị trường.

Các số liệu thống kê hàng năm cho thấy, tỷ lệ thuốc kém chất lượng ở Việt Nam dao động khoảng 3%, tỷ lệ thuốc giả dưới 0,1%. Số lượng mẫu thuốc được lấy, kiểm nghiệm là rất lớn, trải rộng trên toàn quốc (bao gồm mẫu lấy kiểm nghiệm tại 2 Viện Kiểm nghiệm, Viện Kiểm định quốc gia vắc xin và sinh phẩm y tế cùng 62 Trung tâm kiểm nghiệm tỉnh, thành phố), hàng năm các cơ quan này đã tiến hành lấy khoảng 30.000- 40.000 mẫu thuốc để giám sát chất lượng thuốc.

Quy trình thu hồi thuốc hiện nay ở Việt Nam tương đồng với quy trình ở Châu Âu, Úc, Singapore. Trong đó bao gồm các khâu: Hệ thống kiểm nghiệm nhà nước tiến hành lấy mẫu và phân tích/kiểm nghiệm xác định chất lượng mẫu thuốc, rồi gửi kết quả về cơ quan quản lý. Từ đây cơ quan quản lý xem xét kết quả kiểm nghiệm, đánh giá nguy cơ ảnh hưởng tới an toàn, hiệu quả điều trị, xác định mức độ vi phạm, ra văn bản thông báo thu hồi lô thuốc, trong đó nêu rõ mức độ thu hồi, trách nhiệm của cơ cơ sở sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh thuốc và trách nhiệm các cơ quan quản lý y tế tuyến dưới.

Trong quy trình này, Sở Y tế các địa phương có trách nhiệm thông báo để các cơ sở kinh doanh, sử dụng biết, tiến hành thu hồi, hoàn trả thuốc về nhà cung ứng, kiểm tra giám sát việc thu hồi, lưu hành thuốc bị thu hồi trên địa bàn.

Đồng thời, cơ sở sản xuất, nhập khẩu phải ngừng phân phối và trong thời gian không quá 5 ngày phải thông báo thu hồi đến tất cả các cơ sở phân phối, đơn vị sử dụng đã mua thuốc và báo cáo về cơ quan quản lý trong vòng 30 ngày.

Thời gian qua có trường hợp cá biệt thuốc đã bị thu hồi nhưng thực tế vẫn tìm thấy ở nhà thuốc lẻ.

Có tình trạng này là do các đơn vị thực thi ngoài việc nhân lực còn thiếu cũng chưa tận dụng được sức mạnh trong việc phối hợp với các đơn vị chức năng để thường xuyên thanh kiểm tra, giám sát việc lưu hành thuốc cũng như việc thu hồi thuốc.

26 trạm y tế thí điểm triển khai mô hình tăng cường năng lực y tế cơ sở

Bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân chỉ đạt được khi chúng ta thực sự chú trọng và phát huy được vai trò "người gác cổng" của y tế cơ sở

Chiều ngày 20/12, tại Hà Nội, Bộ Y tế đã tổ chức hội nghị triển khai mô hình thí điểm tăng cường năng lực y tế cơ sở tại trạm y tế xã phường

Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến nhấn mạnh, ở nước ta rộng khắp từ TW đến xã, phường đều bao phủ hệ thống y tế, thậm chí còn có cả y tế thôn bản thông qua hệ thống các cô đỡ thôn bản. Hiện cả nước có 11.400 trạm y tế xã bao gồm cả mạng lưới y tế thôn bản; gần 99% xã, phường và thị trấn đã có nhà trạm; 87,5 % trạm có bác sĩ khám chữa bệnh; 97% có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi; gần 75% thôn, bản, tổ dân phố có nhân viên y tế hoạt động, trong đó ở nông thôn, miền núi là  96%; gần 80 % trạm y tế xã thực hiện khám chữa bệnh BHYT...

"Nhờ bao phủ y tế mà công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được triển khai sâu rộng, do đó các chỉ số liên quan đến sức khỏe của chúng ta đều đáng tự hào. Việt Nam là 1 trong 10 nước đạt mục tiêu thiên nhiên kỷ về sức khỏe bà mẹ trẻ em. Chúng ta đã khống chế và loại trừ thành công nhiều dịch bệnh nguy hiểm..." - Bộ trưởng Bộ Y tế nói.

Tuy nhiên, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến cũng thẳng thắn cho rằng, thực tế cho thấy công tác y tế cơ sở vẫn còn không ít hạn chế đó là chất lượng dịch vụ y tế còn thấp; Năng lực hoạt động của các cán bộ y tế còn hạn chế; Danh mục thuốc ít, nghèo nàn và chi từ Quỹ BHYT cho người dân khám chữa bệnh tại tuyến cơ sở còn hạn chế ... nên người dân không tin, không muốn đến với y tế cơ sở, phải vượt tuyến lên trên dẫ đến tốn kém quỹ BHYT va tốn kém tiền của người dân.

Ngoài ra nhiều bệnh lý mạn tính như đái tháo đường và tăng huyết áp chưa được kiểm soát tốt tại tuyến xã gắn với nguyên lý bác sĩ gia đình.

Bên cạnh đó, chúng ta còn lãng phí và dàn trải trong đầu tư xây dựng trạm y tế. Nhiều xã phường ngay vùng đồng bằng sát cạnh bệnh viện huyện vẫn xây trạm y tế to trong khi không có bệnh nhân.

Tại nhiều địa phương của miền núi diện tích rộng, xa trung tâm thì chỉ có mỗi một trạm y tế trong khi trạm này chưa được đầu tư thường xuyên nên chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân. Chính vì thế dẫn đến sự chênh lệch về chỉ số sức khỏe giữa người dân miền núi và vùng đồng bằng.

"Chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân là nội dung được thể hiện rõ trong các Nghị quyết TW về y tế vừa được ban hành. Vậy vấn đề đặt ra là phải làm thế nào để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của y tế cơ sở để thu hút người dân đến thăm khám, để y tế cơ sở đúng với vai trò "người gác cổng" trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân "- Bộ trưởng đặt câu hỏi.

Trước thực trạng này, Bộ trưởng Bộ Y tế cho biết, Bộ Y tế đã xây dựng chương trình hành động triển khai thực hiện Đề án Xây dựng và Phát triển mạng lưới y tế cơ sở trong tình hình mới (giai đoạn 2018- 2020). Theo đó, Bộ Y tế nêu rõ 6 nhiệm vụ để thực hiện Đề án Xây dựng và Phát triển mạng lưới y tế cơ sở trong tình hình mới gồm các nhiệm vụ về chuyên môn; nhiệm vụ về tổ chức bộ máy, nhân lực; cơ sở vật chất, trang thiết bị; cung cấp tài chính và bảo hiểm y tế; ứng dụng công nghệ thông tin; xây dựng mô hình điểm 26 trạm y tế xã tại 8 tỉnh, thành phố.

Về nhiệm vụ xây dựng mô hình điểm trạm y tế xã, ông Nguyễn Nam Liên, Vụ trưởng Vụ kế hoạch- Tài chính (Bộ Y tế) cho biết cụ thể thêm, Bộ Y tế đã thống nhất lựa chọn 26 trạm y tế của 26 xã phường tại 8 tỉnh, thành phố là Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Lào Cai, Yên Bái, Hà Tĩnh, Long An, Khánh Hòa và Lâm Đồng để triển khai mô hình thí điểm tăng cường năng lực y tế cơ sở.

 Phát biểu tại hội nghị, TS Kidong Park- Trưởng đại diện của Tổ chức y tế thế giới tại Việt Nam nêu rõ, đổi mới hệ thống y tế là một phần quan trọng để chúng ta đạt được mục tiêu bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân.

Theo TS Kidong Park, để thực hiện Nghi quyết TW về công tác chăm sóc sức khỏe bao gồm cả điều trị và dự phòng cùng với truyền thông nâng cao sức khỏe cần sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống. Đồng thời ngành y tế cũng cần hướng tới hoạt động phòng chống bệnh không lây nhiễm và lấy người dân làm trung tâm trong hoạt động cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

TS Kidong Park cũng nhấn mạnh, chìa khóa cho sự thành công là chúng ta phải trao quyền quản lý, nâng cao vị thế cho các nhà quản lý y tế tuyến huyện đồng thời nâng cao vị thế của y tế cơ sở. Theo đó, vai trò lãnh đạo của Trung tâm y tế huyện rất quan trọng vì đây là đơn vị hiểu rõ nhất về y tế cơ sở của địa phương, nên khi được tăng cường xuống xã thì họ sẽ làm việc hiệu quả. Bên cạnh đó cần tăng cường trang thiết bị cho y tế tuyến cơ sở.

“Chúng ta phải nhìn nhận được tầm quan trọng của y tế cơ sở để giúp chúng ta đạt được mục tiêu bao phủ sức khỏe toàn dân”- Trưởng đai diện Tổ chức y tế thế giới tại Việt Nam nêu rõ.

Cần bổ sung nhân lực cho ngành y

Nghị quyết 20 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về vấn đề tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của nhân dân trong tình hình mới đã khẳng định nhân lực ngành Y tế phải đáp ứng yêu cầu về cả chuyên môn và Y đức. Muốn làm được điều này, các cơ quan đầu não trong ngành y tế cần phải đưa ra phương thức đào tạo cán bộ y tế có đủ đức đủ tài.

Nghị quyết 20 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về vấn đề tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của nhân dân trong tình hình mới đã khẳng định nhân lực ngành Y tế phải đáp ứng yêu cầu về cả chuyên môn và Y đức. Muốn làm được điều này, các cơ quan đầu não trong ngành y tế cần phải đưa ra phương thức đào tạo cán bộ y tế có đủ đức đủ tài.

Hiện nay, theo thống kê, số lượng nhân lực ngành y tế hiện nay thì vẫn chưa đủ, chất lượng nguồn nhân lực cũng chưa đạt được được mức trung bình của thế giới, trong khi đó đòi hỏi của những người sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngày càng cao. Trước đây, thiết bị y tế còn chưa phát triển thì bác sĩ sẽ là người giữ vai trò độc tôn trong hoạt động Y tế. Ngày nay, rất nhiều các thành tựu khoa học kỹ thuật cao được áp dụng ngày càng nhiều trong hoạt động chăm sóc sức khỏe, do đó bên cạnh đội ngũ bác sĩ cần có thêm nhiều loại hình cán bộ y tế khác như kỹ thuật viên, Kỹ thuật viên Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng, dược sĩ, điều dưỡng viên… để phối hợp phát huy hiệu quả và chức năng của các trang thiết bị chuyên sâu.

Do vậy việc tăng cường đào tạo đội ngũ nhân lực Y Dược cả về số lượng và chất lượng là vấn đề được quan tâm hàng đầu hiện nay.

Báo Chính phủ

Bộ Y tế giảm số đơn vị sự nghiệp trực thuộc từ 82 xuống còn 20 đơn vị

Ông Phạm Văn Tác, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ Y tế cho biết, trong thời gian tới, Bộ Y tế sẽ chỉ quản lý trực tiếp khoảng 20 đơn vị sự nghiệp trực thuộc, thay vì 82 đơn vị sự nghiệp như hiện nay.

Trao đổi với phóng viên, ông Phạm Văn Tác, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ Y tế cho biết, thực hiện Nghị quyết 39-NQ/TW của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu quả, các phòng trong Vụ, Cục trực thuộc Bộ Y tế đã được sắp xếp, thu gọn đầu mối từ 94 phòng xuống còn 59 phòng, giảm 35 phòng (chiếm 37,2%), giảm 105 cán bộ lãnh đạo cấp phòng.

Trong quy hoạch phát triển ngành y tế đến 2025, tầm nhìn đến 2030, trên cơ sở chỉ đạo của Nghị quyết 18 Ban Chấp hành TW 6, khóa XII, ngành Y tế sẽ thành lập Trung tâm phòng ngừa và kiểm soát bệnh tật Trung ương trên cơ sở sáp nhập các Cục phụ trách công tác chuyên môn trong khối y tế dự phòng lại thành một đơn vị. Như vậy có thể giảm từ 3-4 đơn vị như hiện nay còn 1 đơn vị.

Đồng thời, ngành cũng sẽ tiến tới thành lập đơn vị kiểm soát dược, thực phẩm và thiết bị y tế Trung ương trên cơ sở các đơn vị làm nhiệm vụ kiểm nghiệm, kiểm định, kiểm chuẩn. Như vậy cũng có thể giảm từ 3 đơn vị như hiện nay còn 1 đơn vị.

Khối các đơn vị quản lý khám chữa bệnh có cùng chức năng nhiệm vụ tương đồng sẽ được xem xét thành 1 đơn vị thực hiện nhiệm vụ này.

Cũng theo Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, hiện Bộ Y tế đang quản lý 82 đơn vị sự nghiệp trực thuộc. Trong đó, có 21/38 bệnh viện/ 82 đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Y tế đã tự chủ toàn bộ kinh phí thường xuyên với số lượng 17.584 biên chế và 1.693 hợp đồng, tổng cộng 18.277 người với kinh phí nhà nước không phải chi phí khoảng 1.306 tỷ đồng/năm (tính trung bình lương mỗi người 6 triệu đồng/tháng).

Trong thời gian tới, Bộ Y tế sẽ rà soát, chuyển giao các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa Trung ương đóng trên địa bàn các tỉnh về UBND tỉnh quản lý, Bộ Y tế chỉ quản lý một số bệnh viện đầu ngành là cơ sở thực hành của các trường đại học y dược và một số bệnh viện chuyên khoa đặc biệt.

Dự  kiến, trong thời gian tới, Bộ Y tế chỉ quản lý trực tiếp khoảng 20 đơn vị sự nghiệp trực thuộc theo đúng như Nghị quyết Trung ương 19-NQ/TW ngày 25/10/2017, ông Phạm Văn Tác nhấn mạnh.

Đối với tuyến y tế địa phương, đại diện Vụ Tổ chức cán bộ cho biết, tính đến hết tháng 10/2017, có 70/2.040 đơn vị tuyến tỉnh, thành phố đã tự chủ kinh phí thường xuyên, với khoảng 35.000 biên chế không phải chi lương từ ngân sách nhà nước, tiết kiệm khoảng 2.520 tỷ/năm (tính trung bình lương 6 triệu đồng/người/tháng).

Ở tuyến huyện, có 202/420 đơn vị tổ chức thực hiện hợp nhất Trung tâm Y tế huyện và bệnh viện huyện thành Trung tâm y tế huyện.

Theo tính toán, nếu hợp nhất 420 Trung tâm y tế huyện và 420 bệnh viện đa khoa huyện, riêng ngân sách nhà nước chi cho lãnh đạo 840 đơn vị sự nghiệp công lập này sẽ giảm 120.960 tỷ/năm. Đồng thời sẽ giảm được số lượng người làm hành chính khoảng 10.899 người (lái xe, thủ quỹ, văn thư, kế toán…), ngân sách sẽ không phải chi khoảng 784 tỷ đồng/năm.

 

Ngày 05/01/2018
Ban biên tập Website
(Sưu tầm từ các báo)
 

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên khoa của Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn về các bệnh ký sinh trùng và các bệnh do véc tơ truyền, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng mới nổi như sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ, giun lươn, giun đũa chó và các bệnh thông thường khác; khám và xét nghiệm chẩn đoán bệnh bằng các phương tiện kỹ thuật cao như sinh hóa, huyết học, miễn dịch (ELISA), sinh học phân tử và chẩn đoán hình ảnh bằng nội soi tiêu hóa, siêu âm màu…

   Trung tâm Dịch vụ khoa học kỹ thuật của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế chuyên sản xuất mua bán hóa chất, vật tư, chế phẩm diệt côn trùng; dịch vụ diệt côn trùng gây bệnh, côn trùng gia dụng như muỗi, ruồi, gián, kiến…; dịch vụ phòng diệt mối mọt và xét nghiệm phát hiện tôm bằng các kỹ thuật hiện đại.


 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 CHUYÊN ĐỀ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: Khu vực 8-Phường Nhơn Phú-Tp. Quy Nhơn- Tỉnh Bình Định.
Tel: (84) 056 3547492 - Fax: (84) 056 3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng ban biên tập: TTND.PGS.TS. Nguyễn Văn Chương - Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích