Home TRANG CHỦ Thứ 5, ngày 29/06/2017
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Web Sites & Commerce Tin tức - Sự kiện
Web Sites & Commerce Hoạt động hợp tác
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Web Sites & Commerce Chuyên đề
Web Sites & Commerce Ấn phẩm
Finance & Retail Thư viện điện tử
Sách
Tạp chí
Luận văn
Kiến thức phổ thông
Nghiên cứu khoa học
Một số vấn đề sức khỏe
Giải đáp bạn đọc
Công nghệ thông tin
Web Sites & Commerce Hoạt động đoàn thể
Web Sites & Commerce Bạn trẻ
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
3 0 9 1 1 4 9 1
Số người đang truy cập
7 4
 Thư viện điện tử Sách
kỹ thuật FLOTAC phát hiện trứng sán máng Schistosoma mansoni
FOLOTAC Technique-một kỹ thuật xét nghiệm trứng giun ở phân người đầy triển vọng

Có một xu hướng bỏ qua các vấn đề chuẩn đoán trong thời đại của “hóa trị dự phòng” bệnh ký sinh trùng đường ruột ở người. Tuy nhiên, chuẩn đoán chính xác có thể không được chú trọng tương xứng trong việc quản lý và giám sát bệnh nhân đầy đủ của các chương trình phòng chống tại cộng đồng. Chuẩn đoán một cách tuyệt đối là điều khó: càng nhiều các biện pháp can thiệp hiệu quả trong việc giảm bài tiết trứng giun thì độ nhạy của các xét nghiệm trực tiếp bệnh giun sán ký sinh càng thấp. Ở đây, từ những kinh nghiệm thu được, chúng tôi đã tóm tắt kỹ thuật FLOTAC trong chuẩn đoán bệnh giun truyền qua đất. Một tiêu bản FLOTAC đơn có độ nhạy cao hơn nhiều so với đa tiêu bản dày Kato – Katz khi phát hiện bệnh với cường độ thấp. Hơn nữa, kỹ thuật FLOTAC cũng được xác nhận là có giá trị trong việc thiết lập dịch tễ học khác, bao gồm chẩn đoán bệnh sán máng và bệnh sán truyền qua thức ăn.

Giới thiệu

Chìa khóa chiến lược nhằm giảm tình trạng nhiễm bệnh giun truyền qua đất (giun đũa, giun móc, giun tóc) ở các nước có vùng dịch tễ là phân phát số lượng lớn thuốc giun tới những nhóm có nguy cơ cao, mà chưa được chẩn đoán trước đó. Chiến lược này được gọi là “phương pháp hóa trị liệu phòng bệnh”. Theo như kết quả của các chương trình phòng chống giun thành công, tỉ lệ nhiễm và cường độ nhiễm giảm, các kỹ thuật chẩn đoán trực tiếp trở nên ít chính xác. Ở đây, chúng tôi tổng hợp lại các kinh nghiệm đã thu được để có phương pháp đếm trứng giun mới – kỹ thuật FLOTAC – trong chẩn đoán bệnh giun ở người. So sánh giữa 1 tiêu bản FLOTAC đơn với đa tiêu bản dày Kato – Katz.

Phương pháp

Chúng tôi tập trung vào 3 nghiên cứu mà sử dụng kỹ thuật FLOTAC chẩn đoán bệnh giun ở người: một nghiên cứu tại Zanzibar và hai nghiên cứu tại Côte d’lvoire (D.Glinz và cộng sự, số liệu không công bố). Các nghiên cứu dựa trên các điều tra dịch tể cắt ngang và tổng cộng 493 học sinh tiểu học tham gia. Ở cả hai nghiên cứu Côte d’lvoire, mổi trẻ lấy một mẩu phân, làm 2 đến 3 tiêu bản Kato – Katz dày, sử dụng tấm đong 41.7mg. Ở nghiên cứu Zanzibar, lấy liên tiếp 3 mẩu phân, làm mổi mẩu 1 tiêu bản Kato – Katz. Ngoài ra, mổi trẻ lấy khoảng 1g phân, được bảo quản trong SAF để thực hiện kỹ thuật FLOTAC. Các mẩu phân của nghiên cứu thứ nhất Côte d’lvoire và nghiên cứu Zanzibar được bảo quản và chuyển tới Naples, Italia, trong thời gian 6 tháng sau khi thu thập mẫu phân. Các mẫu của nghiên cứu thứ hai Côte d’lvoire sau khi thu thập được xét nghiệm ở ngày đầu, ngày thứ 10, 30 và 83.

Quá trình chi tiết của kỹ thuật FLOTAC được mô tả ở một bài khác. Tóm lại, trong nghiên cứu thứ nhất Côte d’lvoire và Zanzibar, sử dụng dung dịch nổi số 4 (FS4; Zn SO4 cộng KI, trọng lượng riêng = 1,45). Trong nghiên cứu thứ hai Côte d’lvoire, thêm một bước rửa với ete để soi rõ ràng hơn dưới kính hiển vi. Ở đây sử dụng FS4 và FS7 (ZnSO4, trọng lượng riêng = 1.35) số trứng trên 1 gam phân (EPG) của mỗi loại giun được đếm. Kết quả kết hợp (FLOTAC đơn và đa Kato – Katz) được xem là tiêu chuẩn “vàng” trong chẩn đoán.

Kết quả

 
Các kết quả từ 3 nghiên cứu được tổng hợp ở Bảng 1. Nghiên cứu thứ nhất Côte d’lvoire đã chỉ ra rằng 1 tiêu bản FLOTAC nhạy hơn 2 tiêu bản Kato – Katz trong chẩn đoán giun móc (độ nhạy: 88.2% so với 68.4%). Điều này được xác nhận trong nghiên cứu Zanzibar: độ nhạy của một tiêu bản FLOTAC để chẩn đoán giun móc là 83%, trong khi 3 tiêu bản Kato – Katz chỉ có độ nhạy là 46%. Điều quan trọng là FLOTAC cũng nhạy hơn trong chẩn đoán giun tóc (T.trichiura) và giun đũa (A.lumbricoides). Trong nghiên cứu thứ hai Côte d’lvoire, FLOTAC có độ nhạy cao hơn so với ba Kato – Katz khi chẩn đoán giun tóc ở mỗi thời điểm và chẩn đoán giun móc ở ngày thứ 10 và 30, nhưng lại không nhạy ở ngày thứ 83. Trong nghiên cứu này, FLOTAC lại có độ nhạy thấp hơn so với ba Kato – Katz khi chẩn đoán giun đũa. Trong khi độ nhạy của FLOTAC được quan sát giảm rõ ràng khi chẩn đoán giun móc và giun đũa vì quá trình bảo quản phân thì độ nhạy chẩn đoán giun tóc tăng từ 93.9 lên 100%.

Thảo luận

Kinh nghiệm của chúng tôi xác định bằng kỹ thuật FLOTAC đơn nhạy hơn so với đa tiêu bản dày Kato – Katz trong chẩn đoán bệnh giun truyền qua đất có cường độ thấp. Những đặc điểm về dịch tễ có thể giải thích cho một vài sự khác nhau về chẩn đoán độ nhạy. Hơn nữa, thêm bước rữa ete trong nghiên cứu thứ hai Côte d’lvoire cao hơn so với FLOTAC đối với chẩn đoán giun đũa, nhưng lại thấp hơn đối với giun tóc. Trong nghiên cứu này, việc nhiễm giun đũa cao tương đối (cường độ có ý nghĩa: 1318 EPG theo như ba Kato – Katz), nhưng việc nhiễm giun tóc có cường độ thấp (6.2 EPG khi sử dụng ba Kato – Katz). Trong nghiên cứu Zanzibar, nơi nào nhiễm giun truyền qua đất có chỉ số EPG thấp thì FLOTAC có độ nhạy cao hơn đáng kể so với đa Kato – Katz.

Ở nghiên cứu thứ hai Côte d’lvoire, độ nhạy của FLOTAC tăng rõ ràng được coi như là một hàm của quá trình bảo phân dài hơn, đáng ngạc nhiên đặc biệt trong chẩn đoán giun móc. Thật vậy, ở nghiên cứu thứ nhất Côte d’lvoire và Zanzibar, với các mẫu phân được bảo quản trong SAF trong khoảng 6 tháng được phát hiện có độ nhạy có độ nhạy cao đối với chẩn đoán giun móc. Tuy nhiên, từng cỡ riêng biệt ở kỹ thuật FLOTAC của các mẫu cũng được giữ trong SAF trong khoảng 6 tháng và sử dụng dung dịch nổi khác nhau, các bước rữa có và không có ete, điều đó có thể cho thấy trứng giun móc được phát hiện tốt chỉ khi có ete. Do đó, độ nhạy trong chẩn đoán giun móc giảm rõ ràng ở kỹ thuật FLOTAC dường như không phải là vấn đề phải bàn. Trừ khi, chúng ta suy xét rằng trứng giun móc bị hỏng trong quá trình bảo quản SAF và đồng thời sử dụng ete. Một bài học quan trọng là các loại trứng giun phải được tính toán một cách độc lập khi sử dụng kỹ thuật FLOTAC đối với: (1) dung dịch nổi; (2) việc sử dụng ete; (3) môi trường bảo quản phân (ví dụ SAF hoặc foocmon). Cái đã được biết ở một ký sinh trùng này không thể áp dụng cho các ký sinh trùng khác.

Những thuận lợi và bất lợi của 2 kỹ thuật FLOTAC và Kato – Katz được tổng hợp, mặc dù, FLOTAC có độ nhạy cao hơn đối với việc nhiễm giun truyền qua đất có cường độ nhiễm thấp, nhưng nó lại mất nhiều thời gian trong quá trình chuẩn bị. Về dụng cụ FLOTAC đắt hơn Kato – Katz. Tuy nhiên, vì độ nhạy thấp của Kato – Katz đơn, một tiêu bản dày thì các xét nghiệm khác được xuất phát từ nhiều mẫu phân, được khuyến khích là lý tưởng để có kết quả đáng tin cậy. Rõ ràng là làm mẫu nhắc lại sẽ giảm sự ủng hộ của bệnh nhân và tăng tổng giá thành. Giá trị kinh tế và khả năng chẩn đoán của kỹ thuật FLOTAC trong phát hiện trứng các loài giun khác (ví dụ, giun kim Enterobius vermicularis, sán máng Schistosoma mansoni và sán lá truyền qua thức ăn) cũng đang được thực hiện. Cuối cùng, việc chẩn đoán chính xác của kỹ thuật FLOTAC trong các thử nghiệm thuốc giun có hiệu quả là chủ đề của các điều tra hiện tại của chúng tôi trong nghiên cứu Zanzibar. Nhìn vào các kết quả nổi bật ở đây, chúng tôi cảm thấy kỹ thuật FLOTAC có thể trở thành một công cụ hữu hiệu cho việc quản lý bệnh nhân chính xác và theo dõi nghiêm ngặt các nghiên cứu can thiệp thuốc cộng đồng từ các chương trình phòng chống giun sán cộng đồng.

 

Ngày 06/06/2011
Ths.BS. Huỳnh Hồng Quang  

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên ngành của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế về các bệnh ký sinh trùng và các bệnh do véc tơ truyền, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng mới nổi như sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ, giun lươn, giun đũa chó và các bệnh thông thường khác; khám bảo hiểm y tế và xét nghiệm chẩn đoán bệnh bằng các phương tiện kỹ thuật cao như sinh hóa, huyết học, miễn dịch (ELISA), sinh học phân tử và chẩn đoán hình ảnh bằng nội soi tiêu hóa, siêu âm màu…

   Trung tâm Dịch vụ khoa học kỹ thuật của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế chuyên sản xuất mua bán hóa chất, vật tư, chế phẩm diệt côn trùng; dịch vụ diệt côn trùng gây bệnh, côn trùng gia dụng như muỗi, ruồi, gián, kiến…; dịch vụ phòng diệt mối mọt và xét nghiệm phát hiện tôm bằng các kỹ thuật hiện đại.


 KẾT QUẢ TUYỂN SINH
  Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thông báo kết quả tuyển sinh Kỹ thuật viên xét nghiệm Trung học Khóa 37 (2014-2016)
 CHUYÊN ĐỀ
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: 611B Nguyễn Thái Học - Tp. Quy Nhơn - T.Bình Định.
Tel: (84) 056 3547492 - Fax: (84) 056 3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng ban biên tập: TTND.PGS.TS. Nguyễn Văn Chương - Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TTND.PGS.TS.Triệu Nguyên Trung - Nguyên Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích