Home TRANG CHỦ Thứ 7, ngày 07/12/2019
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Web Sites & Commerce Tin tức - Sự kiện
Web Sites & Commerce Hoạt động hợp tác
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Finance & Retail Chuyên đề
Dịch tễ học
Côn trùng học
Nghiên cứu lâm sàng & điều trị
Ký sinh trùng sốt rét
Ký sinh trùng
Sinh học phân tử
Sán lá gan
Sốt xuất huyết
Bệnh do véc tơ truyền
Vi khuẩn & Vi rút
Sán
Giun
Nấm-Đơn bào
Web Sites & Commerce Tư vấn sức khỏe
Web Sites & Commerce Tạp chí-Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động Đảng & Đoàn thể
Web Sites & Commerce Bạn trẻ
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Trung tâm dịch vụ
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
3 9 4 8 2 7 2 5
Số người đang truy cập
9 9
 Chuyên đề Sinh học phân tử
Một số phương pháp kỹ thuật áp dụng trong phát hiện chẩn đoán sốt rét

Chẩn đoán sốt rét dựa vào phát hiện ký sinh trùng là một trong những thành tố chìa khóa của theo dõi và quản lý ca bệnh theo khuyến cáo với các công cụ chính là kính hiển vi (KHV) phát hiện thể vô tính của Plasmodium spp. trong máu, test chẩn đoán nhanh phát hiện kháng nguyên và PCR. Ngoài KHV, phát triển của khoa học y học ngày càng có nhiều kỹ thuật XN KSTSR hoặc các thành phần của KSTSR trong máu thông qua mẫu máu hoặc dịch sinh học lấy từ bệnh nhân (phương pháp lẩy da nội bì, miễn dịch hấp phụ men ELISA, phản ứng ngưng kết, phát hiện hạt sắc tố trong các tế bào bạch cầu và đại thực bào bằng máy huyết học, test RDTs phát hiện đơn loài P. falciparum hoặc đa loài, trong đó có P. falciparum và một số loài thường gặp như P. vivax, P. malariae, P. knowlesi, phương pháp khuếch đại chuỗi DNA hoặc RNA là PCR, nested PCR, PCR siêu nhạy dựa trên phát hiện chất liệu di truyền DNA hoặc RNA của KSTSR, khuếch đại đẳng nhiệt vòng cũng có độ nhạy, độ đặc hiệu cao trong phát hiện chẩn đoán, song chi phí-hiệu quả cần quan tâm khi triển khai thường quy hoặc nghiên cứu. Một số công cụ khác đang nghiên cứu gần đây như test nhanh trong máu, nước tiểu.

Một trong những khâu then chốt quyết định cho các chiến lược PCSR và loại trừ SR là chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời bệnh nhân. Tiến trình chẩn đoán SR đầu tiên đối với một ca bệnh nghi ngờ là dựa vào các tiêu chuẩn lâm sàng, điều này sẽ sai biệt bởi lệ thuộc vào các vùng SRLH và thể bệnh sốt không do SR trong vùng đó. Do vậy, việc chẩn đoán xác định một ca bệnh phải dựa vào hoặc là KHV hoặc là dựa vào test nhanh, còn PCR khó có thể áp dụng thường quy trong CSYT. Nếu chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng thì sẽ rất ít đặc hiệu cho các ca bệnh.

Vì nhiều nguyên nhân có thể gây sốt khác cùng tồn tại trong vùng nhiệt đới, khi đó quy kết mà không có kết quả khẳng định sẽ dẫn lạm dụng thuốc, không hợp lý, không cần thiết và đe dọa tính mạng bệnh nhân. Do đó, khi quản lý ca có sốt, điều có thể biết nếu tình trạng do SR hay bệnh khác đơn thuần chỉ dựa trên lâm sàng thì e rằng chưa đủ. Để điều trị tối ưu, việc chẩn đoán chính xác rất cần thiết. Xét nghiệm KSTSR không chỉ là cách chẩn đoán chính xác ca bệnh mà còn giúp cải thiện chăm sóc BNSR có KSTSR dương tính, ca âm tính giúp loại bỏ và không điều trị thuốc quá mức, tránh tác dụng ngoại ý của thuốc trên cơ thể, tiết kiệm kinh phí, niềm tin cộng đồng sẽ tăng lên trong việc chẩn đoán và điều trị những ca bệnh có sốt nhưng không phải SR.

Xét nghiệm lam máu nhuộm giêm sa phát hiện KSTSR Plasmodium spp.

Xét nghiệm lam máu giọt dày và giọt mỏng nhuộm giêm sa soi dưới KHV là một phương pháp chẩn đoán hoàn hảo nhất đến nay. Mặc dù, việc triển khai áp dụng các loại RDTs ngày càng phổ biến, nhất là tại các vùng khó tiếp cận điểm KHV và cơ sở y tế, thì chẩn đoán giêm sa dựa vào KHV vẫn còn là “chuẩn vàng” và chưa có một phương pháp/kỹ thuật nào sánh được bởi đây là một khâu phát hiện bao phủ cả về định tính (xác định loài, định thể và giai đoạn KSTSR) và định lượng (đếm được mật độ KST/µL máu), giúp theo dõi diễn tiến và tiên lượng BNSR trong suốt quá trình điều trị, nhất là ca bệnh SRAT, giúp giám sát hiệu lực thuốc sau điều trị, hoặc còn giúp phân biệt các bệnh lý có sốt không do SR.

Vả lại, đây là phương pháp đạt được chi phí - hiệu quả và mang tính bền vững cao tại cộng đồng. Các chương trình của TCYTTG nhấn mạnh việc nâng cao kỹ năng, chất lượng KHV phục vụ SR tại một số quốc gia là thiết thực cùng với các chiến lược khác mới xây dựng tổng hòa các biện pháp PCcung cấp thường xuyên các hóa chất có chất lượng, nguồn nước sạch và mạng lưới điện cũng như hệ thống quản lý chất lượng, dễ nhầm lẫn với các vật thể lạ trong máu, thừa sót thể, kết quả sai biệt và trả lời của xét nghiệm (XN) đảo nghịch từ âm sangdương và ngược lại. Hơn nữa nếu mật độ KSTSR thấp thì KHV cũng dễ bỏ sót chẩn đoán nếu soi trong phạm vi vi trường quy định. Do đó, để XN lam máu đạt chuẩn và chất lượng vè kết quả chính xác là rất quan trọng, song đến nay việc áp dụng các test chẩn đoán nhanh nên XN điểm KHV có thể hạn chế trong hoạt động vì sự tiện ích của test hơn so với XN lam máu về các khâu, thời gian chuẩn bị và đọc kết quả.


Quy trình làm lam máu nhuộm giêm sa chẩn đoán sốt rét

Việc duy trì chẩn đoán SR có độ tin cậy cao được dễ dàng bằng sử dụng KHV ở các nước đang phát triển phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như trình độ và kinh nghiệm của người đào tạo là vấn đề quan trọng, đặc biệt là những người sau này thực hiện đánh giá XNV quốc gia, nên cần có đảm bảo chất lượng [56],[58]. Vì thế việc đảm bảo chất lượng các điểm KHV là cần thiết và thường quy để đảm bảo hệ thống hoạt động có hiệu quả nhất.

Test nhanh phát hiện kháng nguyên chẩn đoán sốt rét

Song song với chẩn đoán chuẩn vàng giêm sa, hiện tại nhiều vùng SRLH trên thế giới đã áp dụng test chẩn đoán nhanh (RDTs) phát hiện kháng nguyên của KSTSR Plasmodium spp. để chẩn đoán SR. Lợi điểm của test chính là bất cứ CBYT nào cũng thực hiện được, không cần đào tạo dài ngày và phiên giải kết quả rõ ràng dựa vào vạch âm tính, dương tính hay nhiễm phối hợp, rất dễ hiểu, không cần nguồn điện ổn định, giảm công lao động, trả lời kết quả nhanh phục vụ cho chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Hơn nữa, các ca SRAT đơn tạng hay đa phủ tạng thì KSTSR thường ẩn cư trong lòng vi huyết quản và mao mạch máu sâu, hay các phủ tạng, không ra máu ngoại vi nên xét nghiệm KHV có thể âm tính [47],[53], khi đó chỉ cần RDTs cho kết quả dương tính, quyết định điều trị nhanh, giảm biến chứngtử vong tại các tuyến.


Phiên giải kết quả test nhanh sốt rét phát hiện P. faciparum/ P. vivax

Tuy nhiên, test vẫn có các nhược điểm như nếu mật độ KSTSR quá thấp hay quá cao sẽ cho kết quả âm tính (do không hình thành (nếu thấp) hoặc ức phản ứng kháng nguyên-kháng thể (nếu cao hoặc hiện tượng prozone), do sự tồn tại kháng nguyên trong máu ngay cả khi KSTSR đã chết, nên xét nghiệm có thể cho dương tính kéo dài, vì thế không thể áp dụng test nhanh trong theo dõi diễn biến ca bệnh điều trị, bảo quản test cần lưu ý không để nhiệt độ quá cao hoặc quáthấp cũng có thể gây hỏng test hoặc biến tính chất liệu cellulose của que thử. Gần đây, một số nghiên cứu cũng chỉ ra test nhanh có thể cho kết quả âm tính giả do quần thể P. falciparum một số vùng SRLH có đột biến mất đoạn gen mã hóa cho protein giàu histidine (histidine-rich protein 2/ HRP2) như ở Nam Mỹ và châu Phi, nên cũng có thể là một yếu điểm, cần thiết kế lại kháng thể khác cho test.

Quy mô sử dụng test nhanh đã tạo racơ hội bao phủ chẩn đoán trong các CSYT, nhưng cũng đã dẫn đến nhiều thách thức cho các điểm KHV vì các xét nghiệm viên lại xu hướng dùng test hơn là lam máu-điều này cần quan tâm để duy trì yếu tố bền vững cho điểm KHV. Sử dụng RDTs cho phép nâng cao điều trị nhiều ca có sốt nhưng không phải là SR mà từ lâu đã “ẩn mình” như SR tại cả các CSYT.

Nhìn chung, công cụ RDTs cho phép tiếp cận phạm vi rộng để chẩn đoán mà bản thân KHV không thể đạt được. Khi các CBYT được đào tạo và giám sát tốt về thực hành RDTs, các thầy thuốc lâm sàng có thể tin tưởng vào kết quả RDTs và an toàn, hợp lý khi chỉ định thuốc cũng như loại bỏ các ca âm tính. RDTs giúp các tuyến y tế chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời, đặc biệt tại các vùng sâu vùng xa khó tiếp cận dịch vụ KHV. Cùng với các biện pháp màn tẩm hóa chất và thuốc phối hợp ACTs, triển khai rộng rãi dùng RDTs đạt được thành công trong PCSR toàn cầu. Ngoài ra, do BNSR có thể tiếp cận đến cơ sở y tế tư nhân nên cũng cần áp dụng RDTs để chẩn đoán nhằm tăng độ bao phủ chẩn đoán ca bệnh tốt nhất.

Xét nghiệm sinh học phân tử chẩn đoán ký sinh trùng sốt rét

Bên cạnh các XN cổ điển chẩn đoán KSTSR trên người như giêm sa, test RDTs thì các kỹ thuật dựa trên nguyên lý khuếch đại chuỗi hay phản ứng trùng hợp PCR (PCR cổ điển, nested-PCR, real-time PCR, ultra-PCR, LAMP) đang được dùng ngày càng rộng rãi trong chẩn đoán bệnh [4]. PCR có khả năng tạo hàng triệu bản sao của trình tự gen mục tiêu thông qua quy trình sao chép tổng hợp của DNA trong điều kiện đã được cài đặt sẵn trong môi trường in vitro với sự hiện diện của các cặp mồi đặc hiệu. Phương pháp nested PCR (PCR lồng), sản phẩm của phản ứng PCR lần 1 sẽ làm khuôn cho phản ứng PCR lần 2. Nested PCR sử dụng cặp mồi đặc hiệu để nhân bản bộ gen của loài Plasmodium spp. trong phản ứng PCR lần 1. Sau đó, tiếp tục dùng các cặp mồi đặc hiệu cho P. falciparum, P. vivax, P. malariae, P. ovale, P. knowlesi trong phản ứng PCR lần thứ 2. Kỹ thuật này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, có thể phát hiện KST khi ở mật độ rất thấp mà các XN khác khó hoặc không thể phát hiện được. Đây được xem là “chuẩn vàng mới” trong sàng lọc và chẩn đoán KSTSR do độ nhạy và độ đặc hiệu rất cao. Real-time PCR có cùng nguyên lý với phương pháp PCR, cũng là một phản ứng nhân lên các DNA, trình tự đặc hiệu nhưng có sử dụng chất phát huỳnh quang hiện tín hiệu ngay trong bước bắt cặp mồi và kéo dài chuỗi. Do đó, PCR này vừa có thể phát hiện KSTSR vừa có thể định lượng KSTSR trong mẫu máu theo thời gian thực dựa trên mẫu dò, nhất là hữu ích tại vùng lan truyền thấp.

  
Nguyên lý và phiên giải kết quả PCR trong chẩn đoán sốt rét

Giá trị của PCR cổ điển cũng được so sánh với giá trị chẩn đoán của RDTs và KHV trong phát hiện sốt rét trên các mẫu máu tại Equatorial Guinea [15] với nhiều vùng SRLH rất nặng. Năm 2016, tỷ lệ mắc sốt rét là 12,09% và 15% số ca tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi.Trong đó, 95,2% số ca mắc là P. falciparum, 9,5% P. vivax, số còn lại là nhiễm phối hợp. XN lam máu giêm sa và RDTs là các lựa chọn ban đầu để chẩn đoán tại thực địa. Tuy nhiên, kết quả âm tính giả có thể làm trì hoãn điều trị và tăng số người còn tồn tại mầm bệnh cho muỗi lan truyền trong cộng đồng. Thử nghiệm trên 1.724 mẫu so sánh giữa kỹ thuật KHV, RDTs với semi‑nested multiplex PCR (SnM‑PCR). Kết quả cho thấy trong số các mẫu âm theo phương pháp KHV, có 335 (19,4%) là âm tính giả, mặt khác các mẫu âm tính của RDTs thì có 128 ca (13,3%) là âm tính giả khi kiểm định lại bằng PCR. Số liệu này rất quan trọng, đặc biệt vì một nhóm bệnh nhân sẽ không được điều trị bằng thuốc [11]. Qua đócho thấy nhu cầu đào tạo lại điểm KHV và sử dụng RDTs đúng đích kháng nguyên phù hợp trong vùng SRLH, tương tự như ở Viện Nam đã từng so sánh các phương pháp này [6],[11].

Wampfler và cộng sự [46] đã phát triển một phương pháp thay thế dựa trên việc phát hiện số bản sao RNA của gen RNA 18s, có thể xuất hiện lên tới 106 bản sao ký sinh trùng so với 5 bản sao của gen RNA 18s, điều mà chỉ được dùng ở đa số các phương pháp PCR hiện tại. Việc phát hiện các bản sao RNA hơn là DNA để tăng độ nhạy hơn một bậc độ phóng đại mà không đòi hỏi thể tích máu tĩnh mạch lớn hơn, nên phương pháp này sẽ được áp dụng trong nghiên cứu này. Năm mươi (50) µL máu từ một vết chích đầu ngón tay sẽ được đưa vào ống eppendorf có chứa 250 µL chất phản ứng RNA-protect (Qiagen) và sau đó được sử dụng cho việc trích xuất RNA sử dụng một bộ kit chẩn đoán Rneasy (Qiagen).Các mẫu (+) sẽ được xác định trong rt-qPCR “một bước”, cho phép phát hiện 5 loài Plasmodium spp. Hơn nữa, các mẫu P. falciparumP. vivax, nếu có hiện diện giao bào sẽ được xác nhận bởi rt-qPCR [46] qua phát hiện các bản sao đặc hiệu giao bào đối với lần lượt các gen Pfs25 hoặc Pvs25, được thể hiện riêng trong các giao bào giai đoạn V.

Một nghiên cứu tiến hành bởi Abbas, A. M và cộng sự so sánh giá trị chẩn đoán của KHV với RDTs tại vùng SRLH Nigeria, xét nghiệm lam máu nhuộm giêm sa là chuẩn vàng chẩn đoán, song mất nhiều thời gian và đòi hỏi đào tạo cũng như kinh nghiệm thực hành. Tuy nhiên, RDTs có thể hỗ trợ chẩn đoán, nhất là những nơi không có hoặc điểm KHV hoạt động không hiệu quả. Nghiên cứu tiến hành tại hai CSYT Kano và Đại học Bayero. Tổng số 432 mẫu lam nhuộm giêm sa và đồng thời làm RDTs. Độ đặc hiệu của lam máu nhuộm giêm sa và RDTs ở hai điểm nghiên cứu trên lần lượt là 84% và 94%. Tuy nhiên, độ nhạy của KHV tại hai điểm trên là 95% và 94% và độ nhạy của RDTs là 72% và 78% [13]. Kết quả này đặc biệt cho thấy xét nghiệm KHV vẫn là chuẩn vàng trong chẩn đoán và cần xem lại loại RDTs có còn phù hợp với kháng nguyên này không?

Một số thử nghiệm phân tử mới áp dụng chẩn đoán SR trong máu và dịch sinh học

-Xét nghiệm khuếch đại đẳng nhiệt cấu trúc vòng (LAMP)

    Phương pháp chẩn đoán, phát hiện dựa trên nguyên lý khuếch đại ADN ở điều kiện đẳng nhiệt thông qua cấu trúc vòng (Loop-Mediated Isothermal Amplification- LAMP). LAMP được phát triển đầu tiênnăm 2000 do T. Notomi, trong đó khuếch đại ADN có tính đặc hiệu, hiệu quả cao và thời gian ngắn, bằng cách tận dụng ưu điểm của khuếch đại chuỗi Bst và một loạt 4 mồi được thiết kế đặc biệt để nhận diện toàn bộ 6 trình tự cách xa nhau trên ADN đích. Hiện nay LAMP được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực để phát hiện mầm bệnh trên người và lĩnh vực thú y.

Phương pháp này dựa trên sự tổng hợp ADN thay thế chuỗi tự xoay vòng được thực hiện bởi một DNA và hai cặp mồi trong và mồi ngoài được thiết kế đặc biệt, xác định trình tự gen 18S ribosom RNA của P. falciparum. Ở các bước đầu phản ứng LAMP cả 4 mồi được sử dụng, nhưng sau đó trong suốt phản ứng chu kỳ chỉ các mồi trong được sử dụng để tổng hợp ADN thay thế chuỗi. Thời gian thực hiện LAMP trung bình 1-1,5 giờ nhanh hơn so với PCR (2,5-3 giờ), nên sẽ chẩn đoán nhanh, kết quả của LAMP được quan sát ngay dưới ánh sáng thường hoặc thiết bị soi chuyên dụng UV.

Hệ thống LAMP không yêu cầu nhiều thiết bị như máy luân nhiệt, không cần đến năng lượng điện (vì có thể dùng túi ấm hoặc túi giữ nhiệt), nên có thể giảm được thời gian vận chuyển, phát hiện nhanh, có tính di động và hiệu quả kinh tế, phù hợp sử dụng tại vùng đang còn thiếu cơ sở hạ tầng cũng như yếu về khoa học công nghệ.


Kết quả xét nghiệm LAMP và nested PCR trong chẩn đoán sốt rét

- Test nhanh phát hiện sốt rét trong nước tiểu

Các nhà khoa học ở Viện Nghiên cứu sốt rét Nigeria và Đại học Johns Hopkins, Baltimore (Mỹ) phát triển phương pháp mới, đơn giản chẩn đoán SR dựa trên nguyên tắc tương tự RDTs nhưng mẫu bệnh phẩm là nước tiểu và vạch dương tính xuất hiện nếu có KSTSR sau 20 phút. Không như các phương pháp KHV hay PCR đòi hỏi CBYT phải có kinh nghiệm và thực hiện nhiều bước, thì test này cho phép mọi người có thể tự kiểm tra cho chính bản thân tại nhà khi nghi ngờ SR và không có thời gian đến CSYT và điểm nổi bật hơn là khuyến khích người dân xác định được đó có phải là SR không trước khi dùng thuốc, tránh tự dùng thuốc, lạm dụng thuốc, tăng áp lực thuốc và kháng thuốc, cũng như hạn chế tác dụng ngoại ý.

Phản ứng miễn dịch dựa trên nguyên lý sắc ký miễn dịch hình thành sớm, nên đóng vai trò như chỉ điểm sớm SR với độ nhạy và đặc hiệu cao, dễ dàng tiến hành bởi một người không qua đào tạo với việc dùng một mẫu nước tiểu. Để tiến hành, que thử được đưa vào trong một bình hay cốc sạch có chứa 100µl (5 giọt) nước tiểu, để cho que nhúng ngấm dung dịch khoảng 1-2 phút và để trong nhiệt độ phòng 20 phút.

  
Test nhanh chẩn đoán sốt rét với mẫu bệnh phẩm nước tiểu

Nếu trên que thử xuất hiện hai vạch là dương tính, nếu chỉ xuất hiện một vạch chứng là âm tính. Test cho thấy hiệu quả tương đương so với các RDTs sử dụng mẫu máu, ngưỡng phát hiện 125 KSTSR/µl, đây là con số khá tốt trong phạm vi hiệu suất phân tích 100-200 KSTSR/µl khuyến cáo đối với RDTs do TCYTTG.

- PCR mới phát hiện ký sinh trùng sốt rét trong nước tiểu, nước bọt

Tác giả Sungano Mharakurwa thuộc Đại học Johns Hopkins Bloomberg đã phát triển một test mới phát hiện KSTSR trong nước tiểu, nước bọt của người. Dù đây không nhất thiết là một thử nghiệm có tính quyết định cho chẩn đoán và điều trị, song có thể là phương pháp tiềm năng làm giảm công việc lấy máu trong các điều tra về mặt dịch tễ học khi sàng lọc sốt rét trên diện rộng. XN nước tiểu hay nước bọt có thể dễ dàng và an toàn hơn lấy máu, vả lại nó cũng cấp các thông tin cần để nghiên cứu SR trong cộng đồng như trong nghiên cứu để xác định quần thể có phát triển kháng thuốc SR hay không. PCR này có độ chính xác cao với chỉ 1 mẫu nhỏ DNA, quy trình thực hiện tương tự PCR mẫu máu, các mẫu nước tiểu và nước bọt, kết quả cho thấy DNA từ P. falciparum được sao chép cao hơn rất nhiều nước bọt so với nước tiểu.

- Chẩn đoán bệnh sốt rét thông qua các acid nucleic trong nước tiểu

Kỹ thuật chẩn đoán phân tử Xenomics tại New York (Mỹ) đã nhiều năm phát triển kỹ thuật dựa trên đặc tính DNA trong nước tiểu. Nhiều loại tế bào trong cơ thể trải qua quá trình chết tự nhiên, sản phẩm từ tế bào chết, kể cả acid nucleic sẽ theo các chất bài tiết ra ngoài hoặc được tái hấp thu. Các nhà khoa học tại Xenomics cho thấy các nucleic acid trong các dịch thể hay chúng lưu hành qua hệ thống lọc của thận để có mặt trong nước tiểu- đó là nguyên lý của hệ thống chẩn đoán này, kỹ thuật này có thể phát hiện SR ngay từ khi KSTSR xâm nhập vào tế bào gan-đây là giai đoạn mà khó phát hiện được KSTSR nếu chỉ làm lam máu.

- Chẩn đoán sốt rét dựa trên công nghệ nano

Hình ảnh hồng cầu với các protein màng là đích và là nơi dán nhãn của các phương pháp định lượng chấm sốt rét (malaria quantum dots), biểu hiện dạng cụm protein. Các chấm mang hình ảnh màu sắc lá chấm tím đỏ chỉ ra là nhân của KSTSR và sẽ tăng lên khi tăng số lượng KSTSR trong máu. Các nhà nghiên cứu tại Viện kỹ thuật quốc gia và Viện truyền nhiễm và dị ứng quốc gia đã tạo ra phương pháp liên quan phân tử nano phát quang bên trong tế bào với biểu hiện một tiến trình hoạt động chậm. Các phân tử nano nhỏ hơn gấp ngàn lần so với tế bào, gọi là “quantum dot” phát sáng rực rõ khi soi dưới ánh sáng đèn. Các hạt này có thể bao phủ bởi các chất hữucơ, dính với các protein đặc hiệu bên trong một tế bào. Quantum dot sẽ giữ màu kéo dài hơn nhiều loại thuốc nhuộm hữu cơ nào khác và các protein huỳnh quang đã được dùng trong việc làm phát sáng bên trong tế bào. Sử dụng kỹ thuật định lượng sắc tố SR có thể làm sáng tỏ tiến trình tế bào liên quan đến động lực các protein. Dùng quantum dot thiết kế đích của loại protein đặc hiệu cho tế bào hồng cầu người để hình thành nên mạng lưới màng tế bào. Khi protein này kết cụm lại với nhau trong một tế bào, mạng luới cấu trúc cung cấp sẽ di chuyển chen chúc xen kẻ trong mạch máu hẹp và khoảng không gian rất chặt, khưng khi tế bào bị nhiễm KSTSR, cấu trúc proteine bị thay đổi.

- Kỹ thuật quang từ trong chẩn đoán sốt rét

  
Kỹ thuật quang từ (a) và công nghệ chip (b) trong chẩn đoán KSTSR

Các nhà khoa học Đại học Exeter và Coventry (Mỹ) đã phát minh kỹ thuật chẩn đoán SR mới có thể sánh ngang với test RDTs hiện đang được dùng và rẻ hơn nhiều. Điểm đặc biệt hệ thống chẩn đoán này là sử dụng công nghệ quang từ (magneto-optic technology) để phát hiện haemozoin trong KSTSR vì các haemozoin thì có từ tính yếucó dạng hình chữ nhật khác biệt, chúng có tính hướng sắc quang học, hấp thu ánh sáng mạnh hơn đa chiểu. Kết quả cho biết có nhiễm KSTSR hay không chỉ sau 30-60 giây

- Sử dụng chip chẩn đoán bệnh sốt rét

Thiết bị chip có khả năng nhận biết KSTSR đang có trong máu trong vòng 30 phút và công cụ này hữu ích cho du khách đến các vùng SRLH tự chẩn đoán cho mình.Quy trình XN đơn giản, chỉ cho mẫu máu lên chip để phát hiện KSTSR, các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm trên 6700 người bệnh sốt rét ở Tây Phi và cho các kết quả đáng khích lệ.

Ngày 20/05/2019
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang  

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên khoa của Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn về các bệnh ký sinh trùng và các bệnh do véc tơ truyền, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng mới nổi như sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ, giun lươn, giun đũa chó và các bệnh thông thường khác; khám và xét nghiệm chẩn đoán bệnh bằng các phương tiện kỹ thuật cao như sinh hóa, huyết học, miễn dịch (ELISA), sinh học phân tử và chẩn đoán hình ảnh bằng nội soi tiêu hóa, siêu âm màu…

   Trung tâm Dịch vụ khoa học kỹ thuật của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế chuyên sản xuất mua bán hóa chất, vật tư, chế phẩm diệt côn trùng; dịch vụ diệt côn trùng gây bệnh, côn trùng gia dụng như muỗi, ruồi, gián, kiến…; dịch vụ phòng diệt mối mọt và xét nghiệm phát hiện tôm bằng các kỹ thuật hiện đại.


 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 CHUYÊN ĐỀ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: Khu vực 8-Phường Nhơn Phú-Thành phố Quy Nhơn-Tỉnh Bình Định.
Tel: (84) 0256.3547492 - Fax: (84) 0256.3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng Ban biên tập: TTND.PGS.TS. Hồ Văn Hoàng-Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích