Home TRANG CHỦ Thứ 6, ngày 19/10/2018
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Web Sites & Commerce Tin tức - Sự kiện
Web Sites & Commerce Hoạt động hợp tác
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Web Sites & Commerce Chuyên đề
Web Sites & Commerce Tư vấn sức khỏe
Web Sites & Commerce Tạp chí-Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động Đảng & Đoàn thể
Web Sites & Commerce Bạn trẻ
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Finance & Retail Thầy thuốc và Danh nhân
Việt Nam
Thế giới
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Trung tâm dịch vụ
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
3 5 1 1 8 7 1 0
Số người đang truy cập
4 2
 Thầy thuốc và Danh nhân
Rosalind Elsie Franklin-người có công đóng góp cho sự hiểu biết về cấu trúc phân tử DNA và tìm ra bí mật sự sống

Rosalind Franklin (1920-1958) là nhà lý sinh học kiêm nhà tinh thể học tia X người Anh. Ảnh chụp phân tử ADN của bà đóng vai trò then chốt trong việc giải mã cấu trúc AND.

Sơ lược lịch sử và điểm sáng nghiên cứu

Rosalind Elsie Franklin sinh ngày 25 tháng 7 năm 1920, mất ngày 16 tháng 4 năm 1958 do căn bệnh ung thư buồng trứng. Bà là một nhà lý sinh họctinh thể học tia X có những đóng góp quan trọng cho sự hiểu biết về cấu trúc phân tử của ADN, ARN, virus, than đáthan chì. Nghiên cứu về DNA của bà đã đạt được những thành tựu quan trọng vì ADN đóng vai trò quan trọng trong chu trình chuyển hóa của tế bào và trong lĩnh vực di truyền học, việc khám phá ra cấu trúc của nó đã giúp bà và đồng nghiệp hiểu rõ được cách thông tin di truyền được truyền lại từ cha mẹ cho con cái.

Rosalind Elsie Franklin được biết đến nhiều nhất qua công trình Photo 51 dẫn đến sự khám phá ra cấu trúc ADN. Theo Francis Crick, các dữ liệu từ bà chính là dữ liệu mà chúng tôi thực sự sử dụng để hệ thống nên lý thuyết về cấu trúc ADN năm 1953. Những hình ảnh nhiễu xạ tia X của bà xác nhận cấu tạo hình xoắn ốc đã bọ mang cho Watson xem mà không có sự đồng ý hay báo cho bà biết. Các khám phá của bà cung cấp hiểu biết có giá trị về cấu tạo ADN, tuy nhiên những đóng góp khoa học của bà đối với việc khám phá ra cấu trúc xoắn kép thường không được chú ý tới. Sau khi hoàn thành công việc nghiên cứu về DNA, Rosalind Elsie Franklin đi tiên phong nghiên cứu về virus gây bệnh khảm trên cây thuốc lá và virus gây bệnh bại liệt. Bà qua đời năm 1958 ở tuổi 37 do căn bệnh ung thư buồng trứng.


Hình 1

Thiếu thời và nền tảng giáo dục

Rosalind Elsie Franklin sinh ra ở Notting Hill, Luân Đôn trong một gia đình người Anh gốc Do Thái giàu có và có tầm ảnh hưởng. Cha bà là Ellis Arthur Franklin (1894-1964), còn mẹ là Muriel Frances Waley (1894-1976). Rosalind Elsie Franklin là con gái cả và là con thứ hai trong gia đình năm anh chị em.

Từ thời thơ ấu, Rosalind Elsie Franklin đã thể hiện khả năng học tập đặc biệt nổi trội. Bà theo học ở Trường nữ sinh St Paul nơi bà đặc biệt xuất sắc trong các môn gồm khoa học, tiếng Latin và thể thao. Cha bà giảng dạy điện học, từ học và lịch sử Cuộc chiến tranh vĩ đại vào buổi tối tại Working Men's College, về sau trở thành phó hiệu trưởng của trường. Gia đình bà còn giúp dân tị nạn Do Thái định cư sau khi trốn thoát Đức Quốc xã ở châu Âu.

Rosalind Elsie Franklin đến học tại Newnham College, Cambridge vào năm 1938 và học ngành hoá. Một trong những người dạy bà là nhà quang phổ học W.C. Price, người về sau trở thành đồng nghiệp của bà ở King's College. Năm 1941, bà được trao Second Class Honours trong kì thi tốt nghiệp. Chứng chỉ này được chấp nhận như bằng tốt nghiệp đại học để tìm kiếm việc làm. Cambridge bắt đầu cấp bằng cử nhân và thạc sĩ cho phụ nữ từ năm 1947 và những người phụ nữ từng học tại đây sẽ tự động được cấp bằng tương ứng. Rosalind Elsie Franklin làm trợ lý nghiên cứu trong phòng thí nghiệm của R.G.W. Norrish trong vòng một năm nhưng không thu được thành công lớn. Về sau, ông này đạt giải Nobel nhờ các đóng góp cho động lực học hoá học.


Hình 2

Rosalind Elsie Franklin tiếp tục làm trợ lý nghiên cứu cho Hiệp hội nghiên cứu than đá tại Anh (British Coal Utilisation Research Association). Bà nghiên cứu độ xốp của than, so sánh nó mật độ với Heli. Thông qua đó, bà phát hiện ra mối quan hệ giữa độ khít của các lỗ trong than với tính thấm của các lỗ đó. Bằng việc kết luận rằng các chất bị loại ra căn cứ vào kích cỡ phân tử khi nhiệt độ tăng, Rosalind Elsie Franklin đã giúp phân loại than và dự đoán chính xác hiệu suất của than khi dùng làm nhiên liệu cũng như trong hoạt động sản xuất khí tài thời chiến (thí dụ mặt nạ phòng độc). Công trìnnh này là nền tảng cho luận án tiến sĩ về hoá vật lý của bà tại đại học Cambridge. Bà nhận bằng tiến sĩ năm 1945.

Nhà khoa học người Pháp Adrienne Weill là một trong những người hướng dẫn của Rosalind Elsie Franklin tại Newnham. Cuối Chiến tranh thế giới thứ hai, Rosalind Elsie Franklin xin Weill giới thiệu về một chỗ làm việc dành cho một nhà hoá vật lý biết rất ít về hoá vật lý nhưng biết rất nhiều về những cái lỗ trong than. Tại một hội nghị vào mùa thu năm 1946, Weill giới thiệu Rosalind Elsie Franklin với Marcel Mathieu, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu quốc gia Pháp (Centre National de la Recherche Scientifique_CNRS), một mạng lưới các viện nghiên cứu được sự hỗ trợ của chính phủ Pháp. Điều này dẫn đến cuộc gặp của bà với Jacques Mering diễn ra tại La bô trung tâm hóa học ở Paris (Laboratoire Central des Services Chimiques de l'Etat ở Paris).

Mering là một nhà tinh thể học tia X. Ông ứng dụng tinh thể học tia X vào việc nghiên cứu tơ nhân tạo và các chất vô định hình khác. Ông dạy Rosalind Elsie Franklincác khía cạnh của việc ứng dụng tinh thể học tia X lên các chất vô định hình. Rosalind Elsie Franklin dùng các kiến thứ này lên các vấn đề rộng lớn hơn liên quan đến than, cụ thể là những thay đổi trong sự sắp xếp của các nguyên tử cacbon khi chúng chuyển thành than chì. Rosalind Elsie Franklin xuất bản vài bài nghiên cứu về vấn đề này. Các nghiên cứu của bà trở thành một phần của hệ thống các nghiên cứu vật lý và hoá học chính thống về than. Mering cũng tiếp tục nghiên cứu về các dạng thù hình của cacbon bằng phương pháp tinh thể học tia X và các phương pháp khác.


Hình 3

Tháng 1 năm 1951, Rosalind Elsie Franklin bắt đầu công việc nghiên cứu tại King's College London, trực thuộc Bộ phận Lý sinh của Hội đồng Nghiên cứu Y khoa, Vương quốc Anh dưới sự chỉ đạo của John Randall. Mặc dầu nguyên thuỷ việc nghiên cứu của bà là tinh thể học tia X đối với proteinlipid nhưng Randall hướng bà sang nghiên cứu về sợi ADN. Ông ra quyết định này trước cả khi bà bắt đầu làm việc tại Đại học King's do những khám phá tiên phong sắp được đề cập sau đây của Maurice Wilkins và Raymond Gosling (nghiên cứu sinh được giao dưới quyền hướng dẫn của Rosalind Elsie Franklin).

Ngay cả trong điều kiện trang thiết bị sơ sài, Maurice Wilkins và Raymond Gosling đã thu được tấm ảnh nhiễu xạ tia X của ADN. Hai người này đã tiến hành sử dụng tia X để nghiên cứu ADN từ tháng 5 năm 1950. Tuy nhiên, Randall lại không cho hai người này biết về quyết định chỉ định Rosalind Elsie Franklin tiếp thu công việc nghiên cứu bằng phương pháp tinh thể học tia X và công việc hướng dẫn khoa học cho luận án của Gosling. Việc này chính là nguyên nhân đáng kể gây nên xích mích giữa Wilkins và Rosalind Elsie Franklin.

Thói quen nhìn thẳng vào mắt người khác một cách dữ dội trong khi lại đối đầu một cách không kiên nhẫn và trực diện của Rosalind Elsie Franklin gây khó chịu cho nhiều đồng nghiệp. Ngược lại, Wilkins lại rất nhẹ nhàng và chậm rãi trong lời nói và tránh nhìn trực tiếp vào mắt người khác. Mặc dù sống trong bầu không khí căng thẳng nhưng Rosalind Elsie Franklin và nghiên cứu sinh Gosling đã khám phá ra hai kiểu hình ADN: ở độ ẩm cao thì sợi ADN trở nên dài và mảnh; khi khô đi thì sợi ngắn lại và dày ra. Hai kiểu hình này được đặt tên là ADN "B" và ADN "A". Do mâu thuẫn cá nhân gay gắt giữa Rosalind Elsie Franklin và Wilkins, Randall tiến hành phân chia công việc nghiên cứu. Rosalind Elsie Franklin chọn nghiên cứu về "A" còn Wilkins chọn nghiên cứu về "B" do những bức ảnh sơ khởi của ông cho thấy ADN có thể có cấu tạo xoắn. Tấm ảnh nhiễu xạ qua tia X do bà chụp trong thời gian này (gọi là "Photo 51") từng được J. D. Bernal gọi là "mội trong những tấm ảnh tia X đẹp nhất về vật chất từng được chụp".

Cuối năm 1951, các học giả ở King's chấp nhận rộng rãi rằng ADN "B" có dạng xoắn. Tuy nhiên, sau khi thu được một hình ảnh không đối xứng vào tháng 5 năm 1952, Franklin bắt đầu không tin rằng ADN "A" cũng có dạng xoắn. Tháng 7 năm 1952, để giễu cợt Wilkins (người thường xuyên bày tỏ quan điểm cho rằng ADN có dạng xoắn), Rosalind Elsie Franklin và Gosling ra một giấy báo tử thể hiện sự thương tiếc đối với "cái chết" của ADN "A" dạng xoắn. Trong năm 1952, hai người Rosalind Elsie Franklin và Gosling nghiên cứu về việc ứng dụng hàm Patterson lên các tấm ảnh tia X chụp ADN. Việc này ngốn nhiều công sức và thời gian nhưng sẽ mang đến những hiểu biết cực kỳ đáng kể về cấu trúc ADN.

Tháng 1 năm 1962, Rosalind Elsie Franklin rút lại ý tưởng của mình và kết luận rằng cả hai kiểu hình ADN đều có dạng xoắn. Bà bắt đầu viết 3 bản thảo, trong đó hai bản thảo về ADN "A" được gửi đến Acta Crystallographica ở Copenhagen vào ngày 6 tháng 3 năm 1953, một ngày trước khi Crick và Watson hoàn thành mô hình về ADN. Chắc hẳn Rosalind Elsie Franklin đã gửi thư cho họ khi hai người này đang xây dựng mô hình AND và chắc chắn đã viết thư gửi họ trước khi Rosalind Elsie Franklin biết về công việc nghiên cứu của hai người này.


Hình 4

Bản thảo thứ ba của bà là về ADN "B" (đề ngày 17 tháng 3 năm 1953), được Aaron Klug phát hiện nhiều năm sau trong đống giấy tờ nghiên cứu của bà. Klug viết bài báo trên tạp chí Nature vào năm 1974 để bổ khuyết cho bài báo đầu tiên mà ông viết nhằm nhấn mạnh các đóng góp đáng kể của Rosalind Elsie Franklin đối với việc tìm hiểu cấu trúc ADN. Nhắc lại rằng, bài báo đầu tiên của Klug là nhằm đáp lại cuốn hồi ký xuất bản năm 1968 của Watson là The Double Helix, trong đó thể hiện một bức tranh thiếu sót về những cống hiến của Rosalind Elsie Franklin.

Theo cuốn sách The Double Helix thì vào 30 tháng 1 năm 1953, Watson tới King's mang theo bản thảo chưa in của Linus Pauling, trong đó thể hiện một cách sai lầm cấu trúc của ADN. Do Rosalind Elsie Franklin không có mặt trong văn phòng nên Watson đến phòng thí nghiệm của bà cùng thông điệp khẩn về việc họ nên hợp tác chung trước khi Pauling phát hiện ra sai lầm của mình. Franklin tỏ ra giận dữ khi nghe Watson nói rằng bà không biết cách diễn giải dữ liệu của chính bà. Watson nhanh chóng rời khỏi đó và tìm đến Wilkins. Wilkins tỏ ra thương hại bà đồng nghiệp và ông này đã thay đổi lịch sử ADN khi mang cho Watson xem tấm ảnh Photo 51 do Rosalind Elsie Franklin chụp mà không được sự đồng ý của bà, đổi lại Watson cho Wilkins xem bản thảo của Pauling và Corey. Tấm ảnh Photo 51 của Franklin và Gosling đã cho cặp đôi Watson - Crick ở trường Cambridge những hiểu biết quan trọng về cấu tạo ADN, trong khi mô hình mà Pauling và Corey đề xuất lại giống một cách đáng chú ý với mô hình ban đầu của Watson - Crick.

Xây dựng mô hình cấu tạo ADN

Tháng 2 năm 1953, Francis CrickJames D. Watson bắt đầu xây dựng mô hình phân tử ADN "B" dựa theo dữ liệu tương tự với những dự liệu của các nhà nghiên cứu ở King's. Phần lớn dữ liệu của họ xuất phát trực tiếp từ nghiên cứu của Wilkins và Rosalind Elsie Franklin. Nghiên cứu của Franklin được hoàn thành vào tháng 2 năm 1953, trước khi bà chuyển đến Birkbeck, và dữ liệu của bà mang ý nghĩa rất quan trọng. Rosalind Elsie Franklin phản đối các mô hình lý thuyết sơ khởi về cấu trúc ADN. Quan điểm của bà là chỉ khi nào biết đủ về cấu trúc thì mới xây dựng được mô hình.


Hình 5

Giữa tháng 2 năm 1953, Max Perutz cho Crick xem một bản sao bài báo cáo cho Hội đồng Nghiên cứu Y khoa nhân chuyến thăm vào tháng 12 năm 1952 đến King's, trong đó có rất nhiều tính toán về tinh thể học của Rosalind Elsie Franklin. Do Rosalind Elsie Franklin quyết định chuyển đến Birkbeck College trong khi Randall kiên quyết rằng mọi nghiên cứu về ADN phải bỏ lại King's nên Gosling đã chuyển cho Wilkins các bản sao những tấm ảnh nhiễu xạ qua tia X của Franklin. Cho đến ngày 28 tháng 2 năm 1953, Watson và Crick cảm thấy họ đã giải quyết được vấn đề, và Crick tuyên bố trong một quán rượu địa phương rằng họ đã "tìm thấy bí mật của sự sống". Tuy nhiên họ biết rằng họ cần phải hoàn thành mô hình trước khi có thể chắn chắn được điều gì.

Watson và Crick hoàn thành mô hình ADN vào ngày 7 tháng 3 năm 1953, một ngày trước khi bộ đôi này nhận được lá thư từ Wilkins cho biết rằng Franklin đã rời đi và rằng giờ họ có thể đặt tất cả các bàn tay lên cái vòi bơm. Ngày mà bộ đôi hoàn thành mô hình ADN cũng chậm hơn một ngày so với ngày mà hai bản thảo của Rosalind Elsie Franklin được gửi đến Acta Crystallographica. Wilkins đến xem mô hình này vào tuần sau đó, theo tác giả Maddox thì là ngày 12 tháng 3 và đã báo cho Gosling biết về việc trở về King's. Không rõ mất bao lâu thì Gosling báo cho Rosalind Elsie Franklin ở Birkbeck, tuy nhiên bản thảo (17 tháng 3) về ADN "B" của bà không phản ánh bất kỳ kiến thức nào của mô hình Watson - Crick. Rosalind Elsie Franklin sửa chữa lại bản thảo này trước khi xuất bản nó vào ngày 25 tháng 4 trên tạp chí Nature. Ngày 18 tháng 3, khi nhận được một bản sao bản thảo của Rosalind Elsie Franklin - Gosling, Wilkins viết vào câu sau: "Tôi nghĩ hai người các vị là một cặp lừa đảo già, nhưng các vị cũng có một cái gì đó."


Hình 6

Crick và Watson xuất bản mô hình ADN trên Nature vào ngày 25 tháng 4 năm 1953, mô tả cấu trúc xoắn kép của ADN. Bài viết của cặp đôi này chỉ có một cước chú duy nhất ghi nhận về việc tham khảo "cống hiến 'chưa xuất bản' của Franklin và Wilkin". Theo một thoả thuận giữa giám đốc hai viện nghiên cứu, các bài báo của Rosalind Elsie Franklin và Wilkins được sửa đổi và xuất bản trong cùng số báo Nature nhưng dường như chỉ để hỗ trợ cho lý thuyết của Crick và Watson về cấu tạo ADN "B". Tháng 3 năm 1953, Rosalind Elsie Franklin rời King's và chuyển đến Birkbeck College thuộc Đại học Luân Đôn.

Nhiều tuần sau đó, vào ngày 10 tháng 4, Rosalind Elsie Franklin viết thư cho Crick xin phép xem mô hình của họ. Tuy nhiên, bà vẫn giữ nguyên quan điểm phản đối việc xây dựng các mô hình sơ khởi và không ấn tượng với mô hình này. Có nguồn ghi rằng bà đã bình luận rằng "Nó rất đẹp nhưng làm thế nào họ chứng minh được nó đây?" Là một nhà khoa học thực nghiệm, Rosalind Elsie Franklin dường như quan tâm tìm ra nhiều bằng chứng hơn trước khi xuất bản một mô hình. Do vậy, lời hồi đáp của bà đối với mô hình của Crick - Watson là hợp với phương pháp nghiên cứu thận trọng của bà. Tuy vậy, như trên đã nói, bà không do dự xuất bản các ý tưởng sơ khởi về ADN ở Acta, ngay cả trước khi chúng có thể được chứng minh một cách chắc chắn. Đa số cộng đồng khoa học đều do dự vài năm rồi mới chấp nhận lý thuyết về chuỗi xoắn kép. Lúc đầu đa phần các nhà di truyền học thích mô hình này bởi vì những hàm ý di truyền học rõ ràng của nó.


Hình 7

Cho đến năm 1960 thì mô hình chuỗi xoắn kép ADN mới bắt đầu được chấp nhận rộng rãi hơn. Wilkins và các đồng sự mất khoảng 7 năm để thu thập đủ dữ liệu nhằm chứng minh và chỉnh lý cấu trúc ADN. Bằng chứng thực nghiệm và việc Wilkins là người khởi xướng dùng tinh thể học tia X để nghiên cứu ADN là những lý do khiến Crick cảm thấy rằng nên bổ sung tên Wilkins vào giải Nobel về ADN.

Từ niên thiếu đến bệnh tật và qua đời của Rosalind Elsie Franklin

Rosalind Elsie Franklin chào đời vào ngày 25 tháng 7 năm 1920 tại London, Anh. Ngay từ nhỏ bà được theo học tại trường nữ sinh St. Paul - một trong số ít trường dành cho nữ giới chú trọng vào sự nghiệp. Tại đây, bà tỏ ra có năng khiếu đặc biệt về các môn khoa học và ngôn ngữ. Năm 18 tuổi, Rosalind trúng tuyển vào học viện nữ sinh Newnham, trực thuộc Đại học Cambridge, chuyên ngành vật lý - hóa học. Tốt nghiệp năm 1941, bà dành trọn 1 năm làm việc tại phòng thí nghiệm của R.G.W.Norrish - người đi tiên phong trong lĩnh vực quang hóa học. Sau khi lấy bằng tiến sĩ, bà tới làm việc tại phòng thí nghiệm của kỹ sư Jacques Mering (người Pháp) và tại đây bà học được cách xây dựng mô hình của các hợp chất cacbon bằng kỹ thuật sử dụng tinh thể học tia X và trở thành chuyên gia trong lĩnh vực này. Đây là nền tảng giúp khám phá ra cấu trúc AND ngày nay.

Giữa năm 1956, trong một chuyến công tác đến Mỹ, Rosalind Elsie Franklin bắt đầu nghi ngờ về tình trạng sức khoẻ của bản thân. Bà nhận thấy bà không còn có thể mặc váy ngắn do một chỗ sưng u ở quanh bụng. Một cuộc phẫu thuật diễn ra vào tháng 9 cùng năm đã cho thấy có hai khối u ở bụng bà. Thời gian sau này, Rosalind Elsie Franklin dành thời gian hồi phục sức khoẻ bên gia đình và bạn bè. Bà không sống cùng cha mẹ bởi vì mẹ bà than khóc và đau buồn về bà quá nhiều. Ngay cả trong quá trình điều trị ung thư thì Rosalind Elsie Franklin vẫn tiếp tục làm việc. Nhóm của bà tiếp tục cống hiến nhiều kết quả - 7 bài báo trong năm 1956 và 6 bài trong năm 1957


Hình 8

Cuối năm 1957, Rosalind Elsie Franklin đổ bệnh trở lại và được chuyển đến Bệnh viện Royal Marsden. Bà quay lại làm việc vào tháng 1 năm 1958 và được phong lên chức Research Associate ngành Lý sinh. Ngày 30 tháng 3 bà lại chuyển bệnh và qua đời ngày 16 tháng 4 năm 1958 ở Chelsea, Luân Đôn do bị viêm phổi, ung thư biểu bì thứ phát và ung thư buồng trứng. Việc tiếp xúc với tia X thỉnh thoảng được xem là nguyên nhân gây bệnh ở bà. Điều đáng tiếc, Rosalind Franklin (1920-1958) là nhà lý sinh học kiêm nhà tinh thể học tia X người Anh. Ảnh chụp phân tử ADN của bà đóng vai trò then chốt trong việc giải mã cấu trúc ADN, một trong những bước đột phá khoa học lớn nhất và quan trọng nhất trong thế kỷ XX. Thế nhưng người nhận giải Nobel không phải là Rosalind Franklin và rất ít người biết đến cống hiến vĩ đại này của bà.

Dù cuộc sống ngắn ngủi nhưng bà đã có đóng góp vĩ đại cho nền khoa học thế giới. Bà là người tiên phong trong việc khám phá cấu trúc của axit deoxyribonucleic hay còn được biết đến dưới cái tên ADN, mang thông tin di truyền mã hóa cho các hoạt động bình thường của tế bào. Tuy nhiên, những người được trao giải Nobel cho việc tìm ra cấu trúc ADN vào năm 1962 - 4 năm sau cái chết của Franklin - lại là James Watson, Francis Crick và Maurice Wilkins chứ không phải Rosalind Franklin. Vậy nguyên nhân gì khiến những cống hiến của Rosalind Franklin không được ghi nhận? Theo Jenifer Glynn - chị gái Rosalind Elsie Franklin: “Những định kiến về nữ giới trong khoa học đã không công nhận thành tựu mà nhà khoa học nữ Rosalind Elsie Franklin đạt được”.

“Bức ảnh 51” và cấu trúc của AND & tiến trình các sự kiện tranh luận

Năm 1950, Rosalind Elsie Franklin trở về Anh và cộng tác tại phòng thí nghiệm của John Randall - một nhà vật lý sinh học tại Viện King, London. Tại đây, nghiên cứu sinh Raymond Gosling - cộng tác viên của bà, đã hỗ trợ Rosalind trong mọi bài báo về ADN. Thông qua việc chụp những tấm hình Xquang họ đã tìm ra hai hình dạng của ADN, dạng “ướt” với cấu trúc hình thang xoắn và dạng “khô” với cấu trúc khác hoàn toàn. Rosalind được giao nhiệm vụ nghiên cứu xem cấu trúc nào mới thực sự là ADN. Sau khi xây dựng máy tia X tân tiến, Franklin đã chụp được hai hình ảnh tốc độ phân giải cao của ADN - một trong số đó là bức ảnh nổi tiếng có tên “Photo 51”. Cùng thời điểm đó, hai nhà sinh học Francis Crick và James Watson cũng tiến hành xây dựng mô hình lý thuyết của ADN tại phòng thí nghiệm Cavendish thuộc Trường Đại học Cambridge.

Tháng 1/1953, M. Wilkins đưa cho J. Watson những bản kẽm tuyệt đẹp do Rosalind chụp bằng tia X - “Photo 51” - và hình ảnh này là yếu tố quan trọng giúp Watson và Crick xây dựng cấu trúc ADN. Do Rosalind Elsie Franklin quyết định chuyển đến làm việc tại phòng thí nghiệm của John Desmond Bernal tại Học viện Birkbeck thuộc Đại học London nên Randall kiên quyết rằng mọi công trình nghiên cứu Rosalind Elsie Franklin n phải để lại King’s College mặc dù trong thời gian này Rosalind cũng sắp giải đáp được cấu trúc ADN.

Giữa tháng 2/1953, Francis Crick và James D. Watson bắt đầu xây dựng mô hình phân tử AND dựa trên tính toán khoa học về tinh thể học của Rosalind Elsie Franklin. Ngày 25/4/1953, báo Nature đăng bài cấu trúc xoắn kép của ADN của Watson và Crick và chỉ chú thích nhỏ về việc tham khảo tư liệu “chưa được xuất bản” của Franklin. Sau khi rời khỏi phòng thí nghiệm King’s college và Rosalind Elsie Franklin bắt đầu nghiên cứu trên tinh thể đồ các virut cùng với đồng nghiệp Aaron Klug, người Nam Mỹ (Aaron Klug sau này trở thành nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới trong 3 lĩnh vực: than, ADN và virut). Giữa năm 1956, trong chuyến công tác đến Mỹ, Rosalind Elsie Franklin bắt đầu nghi ngờ về tình trạng sức khỏe của bản thân và được các bác sĩ chẩn đoán ung thư buồng trứng. Năm 1958, bà qua đời. Việc tiếp xúc thường xuyên với tia X được xem là nguyên nhân gây ra căn bệnh này của bà. Sau 4 năm kể từ khi Franklin qua đời, giải Nobel cho việc tìm ra cấu trúc ADN vào năm 1962 chưa từng vinh danh công lao của Rosalind Elsie Franklin.

Dù cuộc sống ngắn ngủi nhưng Rosalind Elsie Franklin đã có những cống hiến to lớn cho nền khoa học của nhân loại và dù không được ghi nhận bằng giải thưởng Nobel nhưng các thế hệ sau vẫn nhớ đến bà là người có công lớn trong việc tìm ra ADN - “bí mật của sự sống”.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Bryson, B. A Short History of Nearly Everything. (2004). Black Swan ISBN 0-552-99704-8.

2.Crick, F.; Watson, J. (1953), “Molecular structure of nucleic acids” (PDF), Nature 171 (4356): 737–738, Bibcode:1953Natur.171..737W, doi:10.1038/171737a0, PMID 13054692.

3.Crick, F. H. C. What Mad Pursuit, (1988). Basic Books. ISBN 0-465-09137-7.

4.Elkin, L., O. Rosalind Franklin and the Double Helix Physics Today March 2003, pp. 42–48.

5.Franklin RE (tháng 1 năm 1950), “Influence of the bonding electrons o­n the scattering of X-rays by carbon”, Nature 165 (4185): 71, Bibcode:1950Natur.165...71F, doi:10.1038/165071a0, PMID 15403103.

6.Ferry, Georgina, 2007. Max Perutz and the Secret of Life. Published in the UK by Chatto & Windus (ISBN 0-701-17695-4), and in the USA by the Cold Spring Harbor Laboratory Press.

7.Franklin, R.E. and Gosling, R.G. (ngày 25 tháng 4 năm 1953), “Molecular Configuration in Sodium Thymonucleate” (PDF), Nature 171 (4356): 740–741, Bibcode:1953Natur.171..740F, doi:10.1038/171740a0, PMID 13054694, truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2011Reprint also available at Resonance Classics

8.Franklin, R.E. and Gosling, R.G. authors of papers received ngày 6 tháng 3 năm 1953: Acta Cryst. (1953). 6, 673 The Structure of Sodium Thymonucleate Fibres I. The Influence of Water Content II. The Cylindrically Symmetrical Patterson Function

9.Franklin, R.E. (1955), “Structure of tobacco mosaic virus”, Nature 175 (4452): 379–381, Bibcode:1955Natur.175..379F, doi:10.1038/175379a0, PMID 14356181

10.Franklin, R.E. (1956), “Structure of Tobacco Mosaic Virus: Location of the Ribonucleic Acid in the Tobacco Mosaic Virus Particle”, Nature 177 (4516): 928–30, Bibcode:1956Natur.177..928F, doi:10.1038/177928b0.

11.Holt, J. (2002) "Photo Finish: Rosalind Franklin and the great DNA race" The New Yorker October

12.Judson, Horace Freeland, "The Eighth Day of Creation:Makers of the Revolution in Biology" (London: Jonathan Cape,1979),Penguin,1995;expanded edition;New York:Cold Spring Harbor Press,1996).

13.Maddox, B. Rosalind Franklin: The Dark Lady of DNA (2002). Harper Collins ISBN 0-00-655211-0.

14.Nobel Prize (1962). The Nobel Prize in Physiology or Medicine 1962, for their discoveries concerning the molecular structure of nucleic acids and its significance for information transfer in living material, Nobelprize.org

15.Olby, R., "The Path to the Double Helix"(London:Macmillan,1974)

16.Sayre, A. 1975. Rosalind Franklin and DNA. New York: W.W. Norton and Company. ISBN 0-393-32044-8.

17.Segev, T. One Palestine, Complete, (2000) (ISBN 0-349-11286-X) Abacus History.

18.Stent, Gunther, editor. "Critical Edition of The Double Helix"(1980) W.W. Norton Co, New York and London. ISBN 0-393-95075-1.

19.Watson, J. Letter to Science, 164, p. 1539, 27 (1969).

20.Wilkins, M., The Third Man of the Double Helix, an autobiography (2003) Oxford University Press, Oxford. ISBN 0-19-280667-X.

21.Yockey, H. P. Information Theory, Evolution, and the Origin of Life (2005).

 

Ngày 09/05/2017
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang  
    Các nội dung khác »

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên khoa của Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn về các bệnh ký sinh trùng và các bệnh do véc tơ truyền, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng mới nổi như sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ, giun lươn, giun đũa chó và các bệnh thông thường khác; khám và xét nghiệm chẩn đoán bệnh bằng các phương tiện kỹ thuật cao như sinh hóa, huyết học, miễn dịch (ELISA), sinh học phân tử và chẩn đoán hình ảnh bằng nội soi tiêu hóa, siêu âm màu…

   Trung tâm Dịch vụ khoa học kỹ thuật của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế chuyên sản xuất mua bán hóa chất, vật tư, chế phẩm diệt côn trùng; dịch vụ diệt côn trùng gây bệnh, côn trùng gia dụng như muỗi, ruồi, gián, kiến…; dịch vụ phòng diệt mối mọt và xét nghiệm phát hiện tôm bằng các kỹ thuật hiện đại.


 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 CHUYÊN ĐỀ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: Khu vực 8-Phường Nhơn Phú-Tp. Quy Nhơn- Tỉnh Bình Định.
Tel: (84) 056 3547492 - Fax: (84) 056 3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng ban biên tập: TTND.PGS.TS. Nguyễn Văn Chương - Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích