Home TRANG CHỦ Thứ 6, ngày 22/09/2017
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Web Sites & Commerce Tin tức - Sự kiện
Web Sites & Commerce Hoạt động hợp tác
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Finance & Retail Chuyên đề
Dịch tễ học
Côn trùng học
Nghiên cứu lâm sàng & điều trị
Ký sinh trùng sốt rét
Ký sinh trùng
Sinh học phân tử
Sán lá gan
Sốt xuất huyết
Bệnh do véc tơ truyền
Dịch bệnh nguy hiểm
Sán
Giun
Web Sites & Commerce Tư vấn sức khỏe
Web Sites & Commerce Tạp chí-Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động đoàn thể
Web Sites & Commerce Bạn trẻ
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Ngành Y-Vinh dự và trách nhiệm
Web Sites & Commerce Trung tâm dịch vụ
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
3 1 7 2 1 0 6 6
Số người đang truy cập
9 9
 Chuyên đề Nghiên cứu lâm sàng & điều trị
Đồng nhiễm sốt rét-HIV và ngược lại làm cho bệnh nặng hơn? (Phần 1)

Do gây tổn thất nặng nề cho hầu hết lớp trẻ đang ở độ tuổi lao động, sốt rét và HIV/AIDS được coi là hai căn bệnh của nghèo đói cản trở sự phát triển của châu Phi, khu vực phân bố bệnh trùng nhau rất rộng lớn nên đồng nhiễm (co-infection) hai bệnh này tác động lẫn nhau gây ảnh hưởng nghiêm trọng trong y tế công cộng.

Sốt rét và nhiễm trùng HIV/AIDS là hai trong số những vấn đề sức khỏe quan trọng hàng đầu trong thời đại của chúng ta đang sống và ngánh y tế đang phải đối mặt và phức tạp trong giải quyết vấn đề sức khỏe này. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) cho biết sốt rét cùng HIV hàng năm làm cho hơn 4 triệu ca tử vong. Chỉ riêng bệnh sốt rét hàng năm đã làm cho hơn một triệu người chết (dù hiện nay con số này đã giảm đi rất nhiều), trong số đó 90% ở vùng nhiệt đới châu Phi - nơi sốt rét là nguyên nhân chủ yếu gây tử vong đối với trẻ em dưới 5 tuổi. Trẻ nhỏ và phụ nữ có thai là những đối tượng chủ yếu bị căn bệnh này tấn công. Sốt rét chiếm 10% chi phí cho dịch vụ y tế và khiến châu Phi tổn thất 12 tỷ USD hàng năm. Khu vực Nam sa mạc Sahara, châu Phi cũng là nơi mà hơn 29 triệu người sống chung với HIV/AIDS. Chỉ trong năm 2003, AIDS đã gây thương vong khoảng 2,4 triệu người và hơn 600.000 trẻ em nhiễm mới virus HIV. Bệnh lý HIV/AIDS làm tăng tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi ở những quốc gia hiện có tình trạng căn bệnh này trầm trọng. Mặc dù, tại Việt Nam tình trạng đồng nhiễm trùng (co-infection) và đồng gánh nặng bệnh tật của hai tác nhân này không nhiều. Trong 20 năm qua, số ca đồng nhiễm sốt rét và HIV virus tại Việt Nam dưới con số 10 ca (tại Gia Lai, Phú Yên, TP. Hồ Chí Minh, Nghệ An,…). Do vậy, để thấu đáo và nhằm chia sẻ cùng quý đồng về bệnh lý đồng nhiễm hai tác nhân nhiễm trùng này cũng như các khái cạnh khác liên quan, chúng tôi xin chia sẻ một số thông tin cập nhật.


Hình 1

Đồng nhiễm virus HIV và ký sinh trùng sốt rét Plasmodium spp. à Tăng nguy cơ tử vong

Như chúng ta biết lượng virus HIV trong máu của người nhiễm sẽ tăng gần gấp đôi nếu bệnh nhân đó bị nhiễm thêm ký sinh trùng sốt rét (KSTSR), và điều đó có thể làm tăng khả năng lây truyền bệnh/ virus HIV cho người khác. và trong số người nhiễm HIV đồng nhiễm sốt rét, nếu được điều trị hkỏi bệnh sốt rét thì sau 5-8 tuần lượng virus HIV trong máu họ trở về trùng bình thường gặp ở những người nhiễm virus HIV không mắc sốt rét.

Từ nghiên cứu trên, nhiều nhà khoa học đã khuyến cao tăng cường sự phối hợp giữa các dựu phòng HIV và Sốt rét để cùng lúc đương đầu với cả hai bệnh dịch này ít nặng gánh hơn. Một nghiên cứu thuần tập hồi cứu ở Malawi cho thấy có sựu gia tăng lượng virut HIV khi bệnh nhân đó nhiễm thêm ký sinh trùng sốt rét. 367 bệnh nhân trưởng thành HIV được đưa vào nghiên cứu. Trong số 334 người không có mang KSTSR tai thời điểm bắt đầu nghiên cứu, 148 người có ít nhất bị sốt rét một lần và nhận điều trị thuốc sốt rét. 77 trường hợp đã được đo HIV-1-RNA tại thời điểm nghiên cứu, trong thời gian nghiên cứu và sau nghiên cứu. Chúng tôi đã sử dụng đường hồi quy để phân tích, đánh giá tác động của 4 loại hình sốt rét (không có bất kỳ KSTSR nào, mật độ KSTSR £ 2000/ microL, có KSTSR có sốt với mật độ ³ 2000/microL) về sự thay đổi đường log HIV-1-RNA và đếm tế bào CD4. kết quả cho thấy có sự gia tăng một cách có ý nghĩa về viral load khi bệnh nhân đó mắc thêm sốt rét và đIều này làm tăng khả năng lan truyền HIV hơn.


Hình 2

Chức năng của hàng rào mạch máu não trong bệnh SRATTN trẻ em Malawi.

Một nghiên cứu của Đơn vị NCLS Nuffield, bệnh viện John Radcliffe, Anh cho thấy sốt rét ác tính thể não (SRATTN) là một biến chứng do P. falciparum gây ra. Sự kết dính giữa hồng cầu bị KSTSR với nội mạch đóng một vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh. Các triệu chứng và dấu chứng của hệ thần kinh trung ương (hôn mê, động kinh, tăng áp lực sọ não) biểu hiện rất rõ ở các bệnh nhân nhi châu Phi. Trong nghiên cứu này, xem có sự thay đổi về cấu trúc, chức năng hay chăng của hàng rào mạch máu não có tương ứng với các dấu chứng, triệu chứng bệnh không?

Thực hiện các thông số hóa mô miễn dịch trên các mẫu bệnh phẩm sau khi giải phẩu tử thi từ 8 ca bị SRATTN cho thấy có sự hoạt hóa tế bào nội mô và đại thực bào và bẻ gãy các cầu nối của tế bào nội mô giữa các tế bào mà có chứa những hồng cầu bị ký sinh đang ẩn cư trong lòng huyết quản, nhưng ngược lại không thấy một sựu rò lớn của các protein huyết tương (có sự cân bằng giữa hàm lượng albumin giữa huyết tương và dịch não tủy ở 72 trường hợp SRATTN) và sự phá vở hàng rào này chỉ xảy ra tại những nơI các hồng cầu nhiễm bị ẩn cư hay vón tắt.

Điều trị sốt rét và HIV/AIDS đồng thời có khó khăn?

Các yếu tố quyết định chung trong gây nhiễm sốt rét và HIV/AIDS. Do sự trùng hợp địa lý rộng lớn của sốt rét và HIV/AIDS đưa tới việc mắc đồng thời cả 2 bệnh, nên tương tác giữa 2 bệnh rõ ràng có ý nghĩa to lớn trên sức khỏe cộng đồng. Ở vùng cận sa mạc Sahara, châu Phi, hàng năm có khỏang 300 triệu ca sốt rét và ước lượng có khoảng 25 triệu người nhiễm HIV/AIDS. Ở châu Phi, năm 2003, HIV/AIDS đã cướp đi 2,2 triệu ca, còn sốt rét là nguyên nhân của 1 triệu ca tử vong, đặc biệt là trẻ em. Ở Đông Nam Á, Mỹ La tinh và vùng Caribbean cũng có sự xuất hiện trùng hợp quan trọng của 2 căn bệnh này.


Hình 3

Tác động tương tác giữa 2 bệnh sốt rét và HIV/AIDS biểu hiện rõ ràng nhất ở những vùng dịch HIV/AIDS phổ biến và vùng sốt rét ổn định. Cận sa mạc Sahara châu Phi có tỷ lệ nhiễm sốt rét và HIV/AIDS cao, như vậy, nhiễm đồng thời cả 2 bệnh là phổ biến tại nhiều vùng. Các nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất (Trung Phi, Malawi, Mozambique, Zambia, Zimbabwe), với hơn 90% dân số phơi nhiễm với sốt rét và tỷ lệ hiện mắc HIV ở người lớn là trên 10%. Trái lại, Nam Phi là vùng bị nhiễm HIV cao nhất với tỷ lệ hiện mắc lên tới 30%, nhưng tỷ lệ sốt rét tại đây tương đối thấp. Tuy nhiên, với dịch sốt rét thường xuyên xảy ra ở Nam Phi khiến có thể làm tăng nguy cơ mắc đồng thời cả 2 bệnh tại đây.

Ở châu Mỹ La tinh và vùng Caribbe, có một số vùng trùng khớp sốt rét và HIV/AIDS tại Brazil, El Savador, Guatemala, Guyana và Honduras. Ở các nước Đông Nam Á như Campuchia, Myanmar và Thái Lan, dịch HIV/AIDS phân bố đều nhưng sốt rét lại phân bố không đồng đều trong vùng. Sự trùng khớp đáng kể có thể xảy ra ở một số thành phố ở Ấn Độ, nơi có sốt rét đô thị và tỷ lệ lan truyền bệnh HIV đang tăng lên. Ứớc lượng có khoảng 1 tỉ người ở Đông Nam Á phơi nhiễm với sốt rét, rõ ràng là với sự xuất hiện trùng khớp của sốt rét và HIV/AIDS, ngay cả mức độ nhỏ tại những nơi này thì cũng có thể gây hậu quả to lớn lên sức khỏe cộng đồng.

Có bằng chứng quan trọng về sự tương tác giữa sốt rét và HIV/AIDS ở trên các phụ nữ mang thai (PNMT). Nhiễm trùng virus HIV làm suy yếu khả năng chống đỡ nhiễm P. falciparum của PNMT. Ở những phụ nữ này có nhiều khả năng xuất hiện các triệu chứng lâm sàng và KSTSR nhau thai hơn, mật độ KSTSR ở máu ngọai vi cao và khả năng phát hiện được KSTSR trong máu nhiều hơn. So sánh với những phụ nữ hoặc sốt rét hoặc nhiễm HIV, thì những phụ nữ nhiễm đồng thời cả hai tăng nguy cơ thiếu máu, sinh non, chậm phát triển thai nhi, kết quả sinh ra các trẻ có tỷ lệ nhẹ cân, tỷ lệ tử vong trong những năm đầu của cuộc sống cao hơn. Sự hiện diện của HIV/AIDS có thể dẫn tới việc đáp ứng kém hơn với thuốc điều trị sốt rét và thuốc dự phòng sốt rét dùng ngắt quãng trong thời gian mang thai Hơn nữa, có nguy cơ tác dụng bất lợi nếu dùng đồng thời SP dự phòng sốt rét ở phụ nữ mang thai và dùng cotrimoxazole phối hợp với trimethoprim và sulfamethoxazole dự phòng nhiễm trùng cơ hội ở người nhiễm HIV/AIDS.

Càng có nhiều những bằng chứng về tương tác giữa sốt rét và HIV/AIDS ở người lớn. Ở những vùng sốt rét ổn định, nhiễm virus HIV làm tăng nguy cơ nhiễm sốt rét và tăng triệu chứng lâm sàng ở người lớn, đặc biệt ở những người suy giảm miễn dịch nặng. Ở những vùng sốt rét không ổn định, những người lớn nhiễm virus HIV có biểu hiện AIDS làm tăng nguy cơ sốt rét ác tính (SRAT) và tử vong do sốt rét (TVSR). Thất bại điều trị sốt rét thường gặp hơn ở người lớn nhiễm virus HIV có số tế bào CD4+ thấp so với người không bị nhiễm virus HIV.


Hình 4

Các cơn sốt rét cấp tính làm việc nhân lên của virus HIV tăng tạm thời, do đó dẫn đến tải lượng vi rút trong máu tăng. Tuy nhiên, cho đến nay không có bằng chứng là sốt rét có tác dụng quan trọng lên tiến triển lâm sàng của người nhiễm virus HIV, lên lan truyền virus HIV hoặc lên đáp ứng với thuốc điều trị kháng virus ở những vùng trùng khớp sốt rét và virus HIV.

Đối với HIV/AIDS và sốt rét ở trẻ em lại là vấn đề thú vị, một số nghiên cứu đã xem xét sự tương tác giữa sốt rét và nhiễm có bệnh lý nền HIV/AIDS ở trẻ em. Tuy nhiên, những trẻ nhiễm HIV có suy giảm miễn dịch nặng thì có thể có nhiều cơn sốt rét lâm sàng hơn và có mật độ KSTSR cao hơn so với những trẻ ít bị suy giảm miễn dịch. Ở những vùng sốt rét không ổn định, những trẻ nhiễm HIV có nhiều khả năng bị sốt rét ác tính và hôn mê hơn.

Tương tác thuốc? Hiện chưa ghi nhận tài liệu nào về tương tác giữa thuốc sốt rét và thuốc kháng virus HIV về mặt dược lý hoặc trên lâm sàng. Song, theo lý thuyết thì có thể có tương tác về dược động học giữa một số thuốc sốt rét và chất ức chế protease và ức chế men sao chép ngược không nucleoside, có thể dẫn đến độc tính. Nhiều nghiên cứu tiến hành đồng thời xác định tương tác giữa các thuốc chống sốt rét và thuốc điều trị HIV/AIDS (thuốc điều tị virus và thuốc điều trị sốt rét) vẫn còn hạn chế và chưa đưa ra số liệu mới nào? Một nghiên cứu tìm thấy không có mối tương tác giữa giữa thuốc mefloquine và indinavir hay nelfinavir. Kết quả nghiên cứu dược động học thuốc mefloquine và ritonavir cho biết mefloquine làm giảm nồng độ thuốc ritonavir trong máu ít nhất 30%.

Điều này gợi ý rằng những bệnh nhân đang dùng các thuốc trên tránh sử dụng thuốc điều trị sốt rét halofantrin. Các thuốc sốt rét khác như artemether- lumefantrin cũng có thể có khả năng tương tác với thuốc kháng virus. Thuốc dự phòng các nhiễm trùng cơ hội ở người nhiễm HIV/AIDS cũng có thể tương tác với thuốc sốt rét. Có thể có tương tác giữa cotrimoxazole-dùng dự phòng các nhiễm trùng cơ hội và SP dùng ngắt quãng để dự phòng sốt rét cho các PNMT ở một số nơi tại châu Phi. Khuyến nghị là không nên dùng SP nếu cotrimoxazole đang được sử dụng hàng ngày vì có khả năng cho hiệu quả chống sốt rét tương đương.


Hình 5

Tác động đối với hệ thống và dịch vụ y tế/ Đáp ứng và khuyến cáo của TCYTTG

Sử dụng định nghĩa ca bệnh sốt rét chỉ dựa trên triệu chứng sốt ở người nhiễm virus HIV/AIDS thể dẫn đến kết quả cho rằng sốt do nhiễm trùng cơ hội, do nhiễm virrus rút và các bệnh thông thường khác được chẩn đoán và điều trị là sốt rét, điều này dẫn đến sự chăm sóc không thích hợp những bệnh nhân nhiễm virus HIV bị sốt do các nguyên nhân khác. Việc sử dụng các thuốc sốt rét đắt tiền hơn, thì việc chẩn đoán xác định KSTSR càng được nhấn mạnh, điều này đặc biệt quan trọng ở những vùng có tỷ lệ nhiễm virus HIV cao.

Ở những vùng bị ảnh hưởng bởi cả hai bệnh sốt rét và nhiễm trùng HIV/AIDS, việc lồng ghép dịch vụ y tế là rất quan trọng để đưa vào đó các phương tiện chẩn đoán và các thuốc mới độ bao phủ cũng như an toàn cho bệnh nhân, đồng thời tạo cơ hội cho cung cấp các dịch vụ y tế, cho huấn luyện và cho xây dựng kế hoạch chung. Các PNMT nhiễm HIV ở trong vùng sốt rét ổn định nên tùy thuộc vào các giai đoạn nhiễm virus HIV mà sử dụng ngắt quãng ít nhất 3 liều sulfadoxin/pyrimethamin để dự phòng sốt rét hoặc sử dụng cotrimoxazole hàng ngày trong dự phòng nhiễm trùng cơ hội. Sốt rét ở PNMT nhiễm HIV đang sử dụng cotrimoxazole nên sử dụng thuốc sốt rét không chứa sulfa. Ở những vùng sốt rét ổn định và tỷ lệ nhiễm virus HIV cao, sử dụng định nghĩa ca bệnh chỉ dựa vào triệu chứng sốt có thể dẫn đến việc chẩn đoán nhầm sốt do các nhiễm trùng cơ hội là sốt rét, dẫn đến điều trị sốt rét quá mức. Nên ưu tiên xét nghiệm KSTSR để chẩn đoán xác định sốt rét ở những bệnh nhân có nguy cơ nhiễm virus HIV, nhất là người lớn và các trẻ lớn. Thêm vào đó, nhân viên y tế nên xét nghiệm virus HIV và tham vấn cho bệnh nhân.


Hình 6

Ở các nước dịch HIV/AIDS phổ biến, giám sát thường xuyên hiệu lực thuộc sốt rét nên gồm cả việc đánh giá tác động của virus HIV lên hiệu quả điều trị sốt rét. Nên tiến hành các nghiên cứu để đánh giá các tương tác có thể có giữa thuốc sốt rét và thuốc kháng virus HIV và nên đưa dược cảnh giác vào để giám sát các phản ứng có hại cho cả thuốc sốt rét và thuốc kháng virus mới. Với yêu cầu làm giảm hậu quả tử vong của sự đồng nhiễm virus HIV và KSTSR, chương trình dự phòng và điều trị của hai căn bệnh này cần phải tăng cường phối hợp lẫn nhau. Có rất nhiều khả năng để hiệp trợ, đặc biệt hiện tại đã có cam kết về chính trị và tài chính làm giảm gánh nặng của HIV/AIDS, sốt rét và bệnh lao. Hội thảo kỹ thuật được TCYTTG tổ chức 2004 đã thống nhất những khuyến cáo chủ yếu sau đây:

-Người nhiễm HIV/AIDS trong vùng lan truyền của bệnh sốt rét đặc biệt dễ mắc và dễ tổn thương bởi sốt rét thì tẩm màn bằng hóa chất để bảo vệ là biện pháp cần được ưu tiên cao;

-Phụ nữ có virus HIV (+) mang thai có nguy cơ mắc sốt rét cần phải thường xuyên bảo vệ bằng màn tẩm hóa chất và tùy theo giai đoạn nhiễm virus HIV mà điều trị dự phòng từng đợt bằng sulfadoxin/pyrimethamin (ít nhất 3 liều) hoặc dự phòng hằng ngày bằng cotrimoxazole;

-Chương trình phòng chống hai căn bệnh này cần hợp tác để bảo đảm phân phối dịch vụ tổng hợp, đặc biệt với mạng lưới dịch vụ sức khỏe sinh sản. Tại các điểm dịch vụ y tế ngoại vi cần cung cấp các dụng cụ chẩn đoán tốt hơn cho cả hai bệnh này, thuốc điều trị chống virus cũng như thuốc chống sốt rét có hiệu quả hơn. Nghiên cứu thêm về tác động lẫn nhau giữa hai loại thuốc chống sốt rét và thuốc chống virut là yêu cầu cấp bách hiện nay;

-HIV/AIDS và sốt rét là hai bệnh dịch lưu hành nặng và có vùng phân bố địa lý trùng lặp rộng khắp ở vùng Nam sa mạc Sahara, châu Phi. Trong số đó, các quốc gia bị nhiễm hai bệnh này nặng nhất là Cameroon, Trung Phi, Malawi, Mozambique và Zambia. Những quốc gia này có trên 90% dân số phơi nhiễm sốt rét và tỷ lệ nhiễm virus HIV toàn bộ khoảng 10%. Ngoài châu Phi, hai bệnh dịch này còn trùng lặp ở những nhóm nguy cơ nhất định tại Đông Nam Á, Nam Mỹ và một vài thành phố của Ấn Độ.

Thuốc mới chữa được cả nhiếm virus HIV và sốt rét

Căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS và sốt rét có chung một số điểm tương đồng về mặt phân tử. Vì thế, có thể sắp xuất hiện loại “siêu thuốc” chữa được cả hai bệnh này.Đó là thuốc có thểức chế phân giải, dược phẩm mà các nhà khoa học tạo ra để tiêu diệt virus HIV bằng cách ngăn chặn quá trình tạo protein từ virus này.

Các chất ức chế phân giải đang trong quá trình thử nghiệm lâm sàngvà hiện là loại thuốc trị virus HIV triển vọng nhất - Photini Sinnis, trưởng nhóm thí nghiệm ký sinh trùng, thuộcTrung tâm y học NYU Langone (Mỹ) cho biết. Những chất này thay đổi hoàn toàn cách điều trịvirus HIV trong những năm gần đây. Những người uống loại thuốc này không mất mạng vì AIDS nữa.

Chất ức chế phân giải là các enzyme có thể cắt các protein thành các hình thù sao cho chúng hoạt động tích cực. Chất ức chế phân giải virus HIV ngăn chặn virus HIV trên đường đi của chúng bằng cách ngăn chặn một trong những enzym phân giải của nó thực hiện chức năng của mình. Khi không có protein phân giải, các protein của virus HIV không được phân chia và kích hoạt, khiến các phần tử của virus HIV không thể tập hợp lại để tạo thành các phần tử mới. Cơ chế tự nhiên của cơ thể là tiêu diệt các phần tử virus HIV để ngăn chặn virus tái tạo nhằm giữ số lượng tế bào virus HIV ở mức cơ thể có thể xử lý được.

Trong nhiều năm qua, nhiều nhóm nghiên cứu phát hiện ra tác dụng phụ tích cực của chất ức chế phân giải virus HIV, những enzyme này có cả tính chất chống sốt rét. Các nhà nghiên cứu tin các chất ức chế phân giải virus HIV cũng có thể chấm dứt sự hiện diện của protein phân giải trong KSTSR, giống như cơ chế ức chế virus HIV. Nhóm nghiên cứu của Sinnis thấy thuốc chống virus HIV ngăn chặn thành công KSTSR tái tạo ở chuột.

Thử nghiệm này chưa được tiến hành ở người, nhưng kết quả thử nghiệm ban đầu ở chuột thúc đẩy các nhà nghiên cứu sử dụng các chất ức chế phân giải trong điều trị virus HIV cho các bệnh nhân ở châu Phi. Ở châu Phi, nơi HIV và sốt rét chồng chéo lên nhau, thuốc HIV chúng tôi sử dụng phải là các chất ức chế phân giải, rồi mới có thêm tác dụng ngăn chặn lây lan sốt rét. Hiện tại, các chất ức chế phân giải mới được dùng để chữa bệnh sốt rét cho người mang virus HIV. Thuốc này độc hơn nhiều loại thuốc chữa sốt rét, nên không được phát cho những người chỉ bị sốt rét. Nhưng nếu các chất ức chế phân giải có thể được điều chỉnh để giảm độc tính thì sẽ được dùng cho bệnh nhân sốt rét. Đến nay, các nhà khoa học đã giới hạn loại enzym phân giải có thể chứa chất phân giải mục tiêu, nhưng họ vẫn chưa tìm ra loại enzym cụ thể. Vì vòng đời và chuỗi gen phức tạp của KSTSR, nên rất khó để thể hiện các protein của KSTSR, trong đó có enzyme phân giải) trong phòng thí nghiệm. Điều đó khiến quá trình thử nghiệm các chất ức chế enzyme phân giải của KSTSR tiến triển chậm.

Trong bài đăng trên tạp chí của Hội sinh học thử nghiệm Mỹ, Colin Berry và đồng nghiệp ở ĐH Cardiff (Anh) cho biết họ đã tìm ra enzym phân giải ẩn trong chất ức chế phân giải virus HIV ở ký sinh trùng Leishmania spp., họ hàng của KSTSR. Dù chất phân giải Dd1 này chưa được phát hiện ở KSTSR, nhóm của Berry tin rằng đây là chất phân giải mà các nhà khoa học lâu nay muốn tìm thấy. Kết quả cho thấy các protein Dd1 là mục tiêu của chất ức chế phân giải HIV, và chỉ ra rằng Leishmania Ddi1 rất có thể là mục tiêu của những loại thuốc này và là mục tiêu tiềm năng của liệu pháp kháng ký sinh trùng.


Hình 7

Liên kết giữa sốt rét-HIV/AIDS làm tăng gánh nặng bệnh tật!

Con người đã biết đến sốt rét từ nhiều thế kỷ nay và đại dịch AIDS cũng diễn ra được gần 6 thập niên, sốt rét đã giết chết hàng triệu người và vẫn tiếp tục làm tử vong gần 3 triệu người mỗi năm. Năm 1999, gần 36 triệu người trên khắp thế giới nhiễm virus HIV và 5 triệu ca tử vong vì các bệnh lý có liên quan đến AIDS. Trong thiên niên kỷ đến cả hai căn bệnh này đều được xem là nhiễm nhiều người hơn và giết chết nhiều hơn trên khắp toàn cầu nhưng bi kịch lớn hơn là nhiễm HIV còn gia tăng đáng kể quan trọng tại các quốc gia mà vốn dĩ có sốt rét lưu hành như một vấn đề không thể kiểm soát được. Nhiều nghiên cứu lý thú đã tiến hành nhằm làm rõ mối liên quan giữa hai căn bệnh tiềm năng gây chết người này.

Ảnh hưởng nhiễm virus HIV lên sốt rét

Với những gì chúng ta biết về nhiễm trùng HIV, thường thì đề cập đến các quốc gia nghèo và chậm phát triển như ở các quốc gia và vùng lãnh thổ châu Phi, gánh nặng của sốt rét và HIV song hành trên cùng bệnh nhân, trên vùng vùng địa lý. Thế nhưng, các báo cáo có sẵn trên y văn cho rằng không có hiệu quả thậm chí không có hiệu quả bảo vệ ngăn ngừa tử vong từ các biến chứng do sốt rét do P. falciparum:

(i) Sốt rét không xảy ra như một bệnh cơ hội ở bệnh nhân nhiễm trùng virus HIV;

(ii) Tỷ lệ mắc mới sốt rét không thường hơn ở các bệnh nhân nhiễm HIV;

(iii) Đáp ứng điều trị thuốc sốt rét tương tự nhau trên cả bệnh nhân nhiễm HIV và nhóm bệnh nhân không có nhiễm virus HIV;

(iv) Dù nhiễm sốt rét mật độ cao trong máu được phát hiện trên nhiều trẻ em châu Phi có nhiễm HIV có triệu chứng, song các trẻ em này đã cho thấy hiệu quả bảo vệ khỏi sốt rét ác tính thể não và tử vong do SRAT thể não. Điều này được quy kết do nồng độ các chất hay yếu tố hoại tử mô thấp hơn ở trong máu (TNFs) trên các trẻ em nhiễm virus HIV. TNF được nhiều tác giả báo cáo có hiệu quả tiềm năng trên kết dính tế bào nội mô mạch máu và vón tắc các vi tuần hoàn do các tế bào hồng cầu nhiễm sinh ra. Trên mô hình nghiên cứu ở chuột, AIDS ở chuột tìm thấy chúng có khả năng bảo vệ chông lại mức độ nặng của các triệu chứng thần kinh trên sốt rét thể não thực nghiệm và sự bảo vệ này là cao hơn với thời gian thiếu hụt miễn dịch kéo dài hơn. Interleukin 10 từ các tế bào lách đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bảo vệ;

(v) Các nghiên cứu chỉ ra không có sự khác biệt về tỷ lệ mắc mới, đăc điểm lâm sàng và đáp ứng điều trị trong số nhóm bệnh nhân có kết quả HIV (-) và nhóm có HIV (+);

(vi) Các bệnh nhân nhiễm virus HIV có thể có kết quả huyết thanh dương tính giả với sốt rét. Do đó, test huyết thanh sốt rét không có ích như test thay thế chuẩn vàng trong đánh giá nhiễm một cách hoàn toàn.


Hình 8

Ảnh hưởng sốt rét trên nhiễm virus HIV

Hình như sốt rét không gây ra tác hại lớn đối với bệnh nhân nhiễm virus và lan truyền virus HIV và ngược lại. Nhiều nghiên cứu từ các quốc gia châu Phi làm sáng tỏ vấn đề này:

(i) Các kiến thức biết về các vùng mà sốt rét lưu hành thường xuyên, các công nhân khỏe mạnh được chỉ định tiến hành giám sát chủ động bằng cách sàng lọc quần thể đối với sốt rét thông qua xét nghiệm lam máu. Điều này thật đáng sợ và cần phải thận trọng vì khi lấy máu bằng kim chích máu có nguy cơ lây truyền virus HIV rất lớn;

(ii) Trong các vùng lưu hành sốt rét, các trẻ em và phụ nữ mang thai thường thiếu máu liên quan mắc sốt rét và đòi hỏi truyền máu và truyền máu toàn phần hoặc hồng cầu khối. Điều này cũng làm gia tăng nguy cơ lây truyền virus HIV vì nó không đảm bảo chắc chắn trình trạng huyết thanh của người cho máu tại các vùng có virus HIV cực kỳ phát triển. Do đó, điều quan trọng là có xây dựng một hướng dẫn cho an toàn truyền máu ở các vùng mà tình trạng thiếu máu xảy ra (do suy dinh dưỡng, bệnh giun sán và sốt rét) và nhiễm trùng HIV lưu hành;

(iii) Sốt rét có một tác động tiềm năng liên đới đến suy giảm miễn dịch. Người ta tìm thấy trên các bệnh nhân nhiễm virus HIV mắc sốt rét có xu hướng tình trạng lâm sàng trở nên nghiêm trọng nhanh chóng thành một dạng phức hợp “AIDS realted complex” hay giai đoạn AIDS. Nhiễm trùng sốt rét làm tăng thêm sự sao chép của virus HIV;

(iv) Chloroquine, là loại thuốc sốt rét được sử dụng phổ biến nhất cho thấy có hiệu quả ức chế trên hoạt tính của thuốc chống virus của Interferons alpha và beta trên các nghiên cứu động vật. Người ta cũng tìm thấy thuốc chloroquine làm tăng sự sao chép virus trên mô hình chuột. Điều này gợi ý rằng một khả năng liên quan giữa AIDS và sốt rét, vì sư lan rộng của AIDS đã nhanh chóng ở một số nơi ở châu Phi có tỷ lệ nhiễm cao với sốt rét và thuốc chloroquine thường được dùng như một hóa liệu pháp sốt rét.


Hình 9

Sốt rét và Kaposi’s sarcoma

Tại các quốc gia khu vực cận sa mạc Sahara, châu Phi, bệnh Kaposi’s sarcoma là một khối u thường gặp và phổ biến (endemic Kaposi’s) và đã bị quy kết do yếu tố môi trường. Kaposi’s sarcoma cũng xảy ra liên quan đến tình trạng AIDS. Một nghiên cứu sự liên quan đến Kaposi’s sarcoma và lây truyền soosts rét dựa trên các dữ liệu sẵn có từ 27 quốc gia châu Phi tìm thấy một sự liên quan về mặt địa lý có ý nghĩa giữa tỷ lệ Kaposi’s sarcoma và lây truyền sốt rét. Các khả năng sau đây đã đề nghị để giải thích mối liên quan này: (i) Tác động hay ảnh hưởng ức chế miễn dịch của sốt rét có thể là một đồng yếu tố trong quá trình phát sinh bệnh tại các vùng có Kaposi’s sarcoma lưu hành; (ii) Các bất thường trong việc kết dính tế bào như cơ chế tạo bùn quánh dòng chảy của máu trong sốt rét cũng như trên các ca Kaposi’s sarcoma liên quan đến AIDS. Yếu tố này có thể góp phần vào cơ chế bệnh sinh cả AIDS và Kaposi’s sarcoma lưu hành; (iii) Kaposi’s sarcoma cũng có thể là mọt bệnh lý sinh ra do các động vật chân khớp tại châu Phi.

Tác động của sốt rét trên lan truyền HIV/AIDS và diễn tiến bệnh

Nghiên cứu đa trung tâm do Abebe Alemu và cộng sự thuộc khoa ký sinh trùng y học, ĐH khoa học Gondar, Ethiopia đăng tải trên tạp chí Parasites & Vectors 2013, cho biết sốt rét và nhiễm virus HIV là hai trong số các vấn đề y tế toàn cầu của các quốc gia đang phát triển. Chúng gây nên hơn 4 triệu cái chết mỗi năm. Hai bệnh nhiễm trùng này có giá trị tương tác nhau về mặt song phương trực tiếp và cộng hưởng nhau. Nhiễm virus HIV làm tăng nguy cơ tăng mức độ nặng của nhiễm trùng sốt rét và gánh nặng sốt rét, điều này làm tăng lan truyền sốt rét. Nhiễm trùng sốt rét cũng liên quan đến tăng hoạt tính tế bào CD4+ và điều hòa “up-regulation” của tiến trình cytokines tiền viêm và nó cung cấp một vi môi trường lý tưởng để lan rộng virus khi sao chép tế bào CD4+ và rapid HIV-1. Ngoài ra, sốt rét tăng lượng virus trong máu bởi nhiều cơ chế khác nhau. Do đó, nồng độ HIV-1 RNA cao trong máu là một yếu tố tiên đoán diễn tiến bệnh và liên quan đến nguy cơ lan truyền qua đường tình dục, lan truyền dọc. Đây là bài báo nhằm tổng hợp các thông tin về tương tác giữa HIV và sốt rét, tác động hay hiệu ứng của sốt rét lên HIV và tiến trình bệnh cũng như các vấn đề liên quan đến phòng bệnh, điều trị và đồng nhiễm cùng lúc hai bệnh này.


Hình 10

Sốt rét và nhiễm virus HIV là hai trong số vấn đề y tế công cộng quan trọng tại các quốc gia đang phát triển. Sốt rét đôi khi được gọi là vua của các bệnh, gây ra bởi ký sinh trùng đơn bào giống Plasmodium. Nó là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới. 90% số ca tử vong xảy ra tại các quốc gia châu Phi và số còn lại ở châu Mỹ Latinh và châu Á, và bệnh do vector truyền lưu hành nhất thế giới.

Bên cạnh sự gia tăng về tỷ lệ mắc tại các quốc gia đang phát triển, sốt rét và HIV/AIDS có vùng địa lý trùng lắp về phân bố hai bệnh này, trước tiên ở khu vực cận sa mạc Sahara, châu Phi, Đông Nam Á và Nam Mỹ. Trong khi nhiễm trùng một trong hai bệnh sốt rét hoặc HIV/AIDS có thể gây nên bệnh tật và tử vong, thì nhiễm trùng một bệnh có thể cũng làm tình trạng bệnh nặng nền hơn và khó điều trị hơn rồi. Hai bệnh nhiễm trùng này đã là thảm họa nghiêm trọng trên các quần thể đang sống trong vùng sốt rét lưu hành trên khắp thế giới. Các phụ nữ mang thai đặc biệt chịu các hậu quả rất nghiêm trọng khi nhiễm cả sốt rét và HIV/AIDS. Tình trạng nhiễm HIV/AIDScó thể làm tăng thêm các hậu quả không mong đợi cho sốt rét, gồm có thiếu máu, sốt rét qua con đường nhau thai.

Bệnh là nguyên nhân thứ 4 gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi và phụ nữ mang thai tại các quốc gia đang phát triển. Tỷ lệ tăng mỗi năm do hệ thống y tế suy yếu, tình trạng kháng thuốc và kháng hóa chất, biến đổi khí hậu và tham họa thiên nhiên xảy ra.HIV/AIDS cũng là một trong các dịch bệnh nguy hiểm nhất trên toàn cầu chưa từng thấy. Năm 2007, ước tính 33.2 triệu người đang sống trong thế giới HIV, trong khi 2.5 triệu người này là đối tượng trẻ em dưới 15 tuổi. Hơn nữa, 420.000 trẻ em dưới 15 tuổi nhiễm mới HIV vào năm 2007.


Hình 11

Gần 90% số trẻ em có nhiễm HIV dương tính sống trong khu vực sa mạc Sahara, châu Phi. Tại Ethiopia, trong khi 66% dân sống có nguy cơ mắc sốt rét thì có đến 1.5 triệu người nhiễm virus HIV. Các bệnh nhiễm trùng này tương tác trực tiếp song hành và cộng hưởng với nhau. Nhiễm trùng virus HIV có thể làm tăng nguy cơ và độ trầm trọng của sốt rét và làm tăng gánh nặng ký sinh trùng điều đó đã làm tăng nguy cơ lan truyền bệnh sốt rét trong cộng đồng. Các đối tượng sống trong vùng SRLH sẽ có tình trạng miễn dịch hoặc bán miễn dịch đối với sốt rét có thể hình thành các triệu chứng sốt rét trên lâm sàng nếu nhiễm HIV đồng thời.

Tương tự như vậy, sốt rét có liên quan đến làm tăng sự hoạt hóa mạnh tế bào CD4+ và điều hòa ngược các yếu tố cytokines tiền viêm, cung cấp một vi môi trường lý tưởng để lan rộng virus trong tế bào CD4+ và do đó làm sao chép HIV-1 nhanh hơn.


Hình 12

Hiểu biết về đáp ứng miễn dịch đối với sốt rét và HIV ở người sẽ dẫn chúng ta hiểu hơn về tác động trên lâm sàng và các khía cạnh khác. Nhiều bệnh cảnh nhiễm trùng khác ít nhiều có liên đới làm tăng thoáng qua dung khối hay tải lượng virus HIV.

Điều này là hợp lý để giải thích cơ chế vì sao sốt rét lại có tiềm năng làm nặng hơn diễn tiến bệnh của bệnh nhân nhiễm HIV. Mặt khác, kiểm soát mật độ ký sinh trùng trong máu là hình thức miễn dịch qua trung gian , điều này ngăn ngừa hầu hết các trường hợp nhiễm trùng sốt rét trên các bệnh nhân người lớn có tình trạng bán miễn dịch trong vùng SRLH. Về mặt lý thuyết, sự thiếu hụt miễn dịch gây ra bởi nhiễm trùng HIV, làm giảm đáp ứng miễn dịch đối với mật độ ký sinh trùng sốt rét trong máu, nên tăng tần suất cơn sốt rét. Vì thế nhiễm HIV ảnh hưởng lên triệu chứng lâm sàng, độ nặng và đáp ứng điều trị của sốt rét.

Tác động lâm sàng của các tương tác này thay đổi tùy thuộc vào cường độ lan truyền sốt rét ở vùng đó và mức độ miễn dịch của vật chủ cũng như các cá nhân bị ảnh hưởng (người lớn, trẻ em và phụ nữ mang thai). Tuy nhiên, tại các quốc gia cùng lưu hành sốt rét và HIV tại một vùng địa lý lại có rất ít nghiên cứu hoặc không có về vấn đề này. Các số liệu dưới đây được tổng hợp và phân tích dựa trên các số liệu sẵn có về thông tin của sốt rét và nhiễm HIV từ nguồn internet. Mặc dù nhiều công trình ấn bản trong 10 năm qua đề cập đến mối tương tác giữa HIV và sốt rét tại khu vực cận sa mạc Sahara, châu Phi và một số nơi khác, chúng ta vẫn còn có nhiều thông tin hơn nữa để hiểu hơn về chủ đề này giúp cho chương trình phòng chống cả hai căn bệnh hiệu quả hơn. Do đó, khoảng 90% số tài liệu y văn trong vòng 10 năm trở lại đây được cập nhật.


Hình 13

Trung bình, nếu không điều trị, diễn tiến một bệnh nhân từ khi nhiễm trùng đến khi bị giai đoạn AIDS khoảng 7-10 năm. Đây là một ước tính chính xác tương đối và một số có thể thay đổi tùy thuộc vào bệnh nhân nhiễm HIV. Nhìn chung, tỷ lệ phát triển dường như cao hơn đối với người nhiễm thông qua con đường tiếp xúc theo đường máu so với con đường tiếp xúc theo đường tình dục. Người nhận chế phẩm máu truyền có thể diễn tiến nhanh hơn, trung bình khoảng 7 năm. Các bệnh nhân hemophilia và sử dụng thuốc theo đường tiêm truyền là nhanh thứ hai. Các đồng tính nam có xu hướng tiến triển bệnh chậm hơn một tý.

Diễn tiến nhiễm trùng HIV và lây truyền bệnh liên quan mạnh với tải lượng virus. Nồng độ virus gây suy giảm miễn dịch ở người (human immunodeficiency virus type-1_HIV-1) gia tăng được phát hiện trong máu ở các người đàn ông, không lệ thuộc vào lượng tế bào CD4+. Mặc dù vấn đề là đa yếu tố, nồng độ sao chép virus và tải lượng virus trong máu cao có thể cung cấp một sự giải thích về mức độ lưu hành HIV tại khu vực sa mạc Sahara, châu Phi, vì thế nồng độ HIV-1 RNA cao trong máu là tiên đoán diễn tiến bệnh và liên quan đến nguy cơ của bệnh lây truyền qua đường máu, lây truyền dọc, lây truyền qua quan hệ tình dục của virus. Theo đó, sự hiểu biết về các yếu tố làm tăng gánh nặng virus HIV là chỉ điểm tốt cho quản lý bệnh nhân và các nổ lực trong phòng bệnh HIV.

Sốt rét là một trong những nguyên nhân quan trọng trên nhiễm trùng HIV ở người lớn cùng tồn tại song hành tại một số vùng nào đó. Tác động của sốt rét trên HIV-1 ít rõ ràng hơn. Sao chép ngược có hiệu quả và sự can thiệp của giả trình tự bộ gen virus HIV trong DNA vật chủ không được thực hiện cho đến khi các tế bào miễn dịch được hoạt hóa. Vì nhiễm trùng sốt rét có liên quan chặt chẽ với sự hoạt hóa tế bào CD4+ và điều hòa ngược của các chất cytokine tiền viêm, chúng cung cấp một vi môi trường lý tưởng cho sự lan rộng virus trong các tế bào CD4+ và vì thế tăng sao chép virus HIV-1 nhanh. Điều này được mô tả đối với sốt rét trên mô hình in vitro. Tải lượng vi virus HIV-1 trong nghiên cứu ở in vivo đầu tiên tăng lên trên các bệnh nhân mắc sốt rét và sau đó giảm sau 4 tuần kể từ khi điều trị sốt rét.

Tại Malawi, nồng độ HIV-1 trong máu tăng cao hơn gấp 7 lần ở các bệnh nhân nhiễm virus HIV-1 kèm theo bị sốt rét cấp tính hơn so với các người cho máu nhiễm HIV-1 mà không bị sốt rét. Như với các nhiễm trùng cấp tính khác, tải lượng virus tăng bị nghịch đảo sau khi điều trị sốt rét. Các thử nghiệm về số liệu này phù hợp với kết quả trên các nghiên cứu in vitro, trong đó sao chép HIV-1 tăng lên gấp 10-100 lần các tế bào đơn nhân trong máu ngoại vi phơi nhiễm với các kháng nguyên sốt rét hoặc hạt sắc tố sốt rét, qua trung gian bởi sự tăng trình diện của các yếu tố hoại tử mô cytokine alpha (tumor necrosis factor alpha_TNF-α).


Hình 14

Một số tác giả đã mặc nhiên công nhận sự sống sót rất nhiều được nhìn thấy trên các người lớn và trẻ em nhiễm HIV sử dụng cotrimoxazole hàng ngày với mục đích dự phòng là do giảm nhiễm trùng sốt rét. Trong các nghiên cứu dự phòng bằng cotrimoxazole thực hiên tại các vùng sốt rét lưu hành, sốt rét đã giảm đi hàng định. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có một sự tăng thoáng qua virus HIV trong huyết tương xảy ra trong suốt giai đoạn sốt rét. Tuy nhiên, tải lượng virus giai đoạn dưỡng bệnh tương tự mức độ trước khi bệnh xảy ra, điều này cho thấy dữ kiện này không thay đổi tải lượng virus một cách đáng kể.

Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra sốt rét cấp tính có liên quan đến sự gia tăng tải lượng virus và giảm tế bào CD4+, nhưng điều này nhìn chung quay trở lại ở mức độ trước khi nhiễm trùng một vài tuần sau khi điều trị sốt rét thành công. Về mặt lý thuyết, điều này dẫn đến tăng lan truyền virus HIV hoặc diễn tiến bệnh nhanh hơn, nhưng không cho thấy triển vọng gì. Do đó, các nghiên cứu về hiệu quả của sốt rét lên gánh nặng HIV trong máu, cho thấy nồng độ HIV-1-RNA trong máu cao hơn ở các bệnh nhân người lớn nhiễm HIV có mắc sốt rét hơn so với bệnh nhân người lớn nhiễm HIV không có ký sinh trùng sốt rét, với tải lượng virus giảm theo thời gian, có thể do điều trị sốt rét.

Tài liệu tham khảo

1.UNAIDS/WHO: AIDS epidemic update. Geneva: UNAIDS/WHO; 2004.

2.Martens P, Hall L: Malaria o­n the move: human population movement and malaria transmission. Emerg Infect Dis 2000, 6(2):28-45.

3.Rowe AK, Rowe SY, Snow RW: The burden of malaria mortality among African children in the year 2000. Int J Epidemiol 2006, 35(3):691-704.

4.WHO (2007). WHO expert committee o­n malaria 20th Report. Geneva: WHO; 2000:71.

5.Ministry of Health: Guideline for malaria vector control in Ethiopia; malaria and other vector born diseases prevention and control team. Diseases prevention & Control Department. Addis Ababa: MOH; 2002. PubMed Abstract

6.Corbett EL, Steketee RW, Kuile FO, Latif AS, Kamal A, Hayes RJ: HIV-1/AIDS and the control of other infectious diseases in Africa. Lancet 2000, 359:2177-2187.

7.Mitike G, Lemma W, Berhane F, Ayele R, Assefa AT: HIV/AIDS Behavioural Surveillance Survey. Addis Ababa, Ethiopia: Ministry of Health; 2002:143.

8.Ayisi JG: The effect of dual infection with HIV and malaria o­n pregnancy outcome in western Kenya. AIDS 2003, 17:585-946.

9.WHP (2004). Malaria and HIV interactions and their implications for Public Health Policy. Geneva, Switzerland: WHO; 2004.

10.Chandramohan D, Greenwood BM: Is there an interaction between human immunodeficiency virus and plasmodium falciparum? J Epid 1998, 27:296-301.

11.Kamya MR: Effect of HIV-1 infection o­n antimalarial treatment outcomes in Uganda: a population-based study. J Infect Dis 2000, 193:9-15.

12.Mellors JW, Rinaldo CR, Gupta P: Prognosis in HIV-1 infection predicted by the quantity of virus in plasma. Science 1996, 272:1167-1170.

13.Dyer JR, Kazembe P, Vernazza PL: High levels of HIV-1 in blood and semen of seropositive men in sub-Saharan Africa. J Infect Dis 1998, 177:1742-1746.

14.Francesconi P, Fabiani M, Dente MG, Lukwiya M, Okwey R, Ouma J: HIV, malaria parasites, and acute febrile episodes in Ugandan adults: a case–control study. AIDS 2001, 15:2445-2450.

15.Worku S, Bjorkman A, Troye-Blomberg M: Lymphocyte activation and subset redistribution in the peripheral blood in acute malaria illness: distinct T cell patterns in plasmodium falciparum and P. Vivax infections. Clin Exp Immunol 1997, 108:34-41.

16.Hoffman IF, Jere CS, Taylor TE: The effect of plasmodium falciparum o­n HIV-1 blood plasma concentration. AIDS 1999, 13:487-494.

17.Bentwich Z, Maartens G, Torten D: Concurrent infections and HIV pathogenesis. AIDS 2000, 14:2071-2081.

18..Xiao L, Owen SM, Rudolph DL, Lal RB, Lal AA: Plasmodium falciparum antigen-induced human immunodeficiency virus type 1 replication is mediated through induction of tumor necrosis factor alpha. J Infect Dis 1998, 177:437-445.

19.Migot F, Ouedraogo JB, Diallo J: Selected plasmodium falciparum specific immune responses are maintained in AIDS adults in Burkina Faso. Parasit Immunol 1996, 18:333-339.

20.Kublin JG, Patnaik P, Jere CS, Miller WC, Hoffman IF, Chimbiya N, Pendame R, Taylor TE, Molyneux ME: Effect of plasmodium falciparum malaria o­n concentration of HIV-1-RNA in the blood of adults in rural Malawi: A prospective cohort study. Lancet 2005, 365:233-240.

21.Ariyoshi MS, Van der Loeff N, Berry S, Jaffar H: Plasma HIV viral load in relation to season and to plasmodium falciparum parasitaemia. AIDS 1999, 13:1145-1146.

22.Ayouba C, Badaut A, Kfutwah A: Specific stimulation of HIV-1 replication in human placental trophoblasts by an antigen of plasmodium falciparum. AIDS 2008, 22(6):785-787.

23.Donovan D, Ariyoshi K, Milligan P, Ota M, Yamuah L, Sarge-Njie R: Maternal plasma viral RNA levels determine marked differences in mother-to-child transmission rates of HIV- 1 and HIV-2 in the Gambia. AIDS 2000, 14:441-448.

24.Lawn SD, Butera ST, Folks TM: Contribution of immune activation to the pathogenesis and transmission of human immunodeficiency virus type 1 infection. Clin Microbiol Rev 2001, 4:753-777.

25.Weissman D, Barker T, Fauci S: The efficiency of acute infection of CD4+ T cells is markedly enhanced in the setting of antigen-specific immune activation. J Exp Med 1996, 183:687-692.

26.Riley EM: Is T cell priming required for initiation of pathology in malaria infections? Immunol Today 1999, 20:228-233.

27.Spina C, Prince H, Richman D: Preferential replication of HIV-1 in the CD4+5RO memory cell subset of primary CD4+ lymphocytes in vitro. J Clin Invest 1997, 99:1774-1785.

28.Perelson AS, Essunger P, Ho DD: Dynamics of HIV-1 and CD4+ lymphocytes in vivo. AIDS 1997, 11:17-24

29.Pisell TL, Hoffman IF, Jere CS: Immune activation and induction of HIV-1 replication within CD14 macrophages during acute plasmodium falciparum malaria coinfection. AIDS 2002, 16:1503-1509.

30.Freitag C, Chougnet C, Schito M: Malaria infection induces virus expression in human immunodeficiency virus transgenic mice by CD4+ T cell-dependent immune activation. J Infect Dis 2001, 183:1260-1268.

31.Perno CF, Newcomb FM, Davis DA: Relative potency of protease inhibitors in monocytes/macrophages acutely and chronically infected with human immunodeficiency virus. J Infect Dis 1998, 178:413-422.

32.Pantaleo G, Koup RA: Correlates of immune protection in HIV-1 infection. What we know, what we don’t know, what we should know. AIDS 2004, 10:806-810.

33.Maranon C, Desoutter JF, Hoeffel G: Dendritic cells cross-present HIV antigens from live as well as apoptotic infected CD4+ T lymphocytes. AIDS 2004, 101:6092-6097.

34.Wilson NS, Behrens GM, Lundie RJ: Systemic activation of dendritic cells by Toll-like receptor ligands or malaria infection impairs cross-presentation and antiviral immunity. AIDS 2006, 7:165-172.

35.Toure-Bolde A, Sarthou J, Aribot GM, Trape J, Rogier C, Roussilhon C: P. falciparum induced apoptosis inhuman mononuclear cells. Infect Immunol 1996, 64:744-750.

36.Hviid L, Theander T, Abduhadi H, Abufeid Y, Bayoumi R, Jesen J: Transient depletion of T cells with high LFA-1 expression from peripheral circulation during P. falciparum malaria. Eur J Immunol 1992, 21:1249-1253.

37.Hogg N: Roll, roll your leucocytes gently down the vein. Immunol Today 1997, 13:113-115.

38.Greenberg AE, Nguyen Dinh P, Mann JM, Kabote N, Colebunders RL, Francis H, Quinn TC: The association between malaria, blood transfusion and HIV seropositivity in a pediatric population in Kinshasa, Zaire. AIDS 1995, 259:545-549.

39.Lackritz EM, Ruebush TK, Zucker JR, Adungosi JE, Were JB, Campbell CC: Blood transfusion practices and blood banking services in a Kenyan hospital. AIDS 1993, 7:995-999.

40.John GC, Nduati RW, Mbori-Ngacha DA: Correlates of mother-to-child human immunodeficiency virus type 1 (HIV-1) transmission: association with maternal plasma HIV-1 RNA load, genital HIV-1 DNA shedding, and breast infections. J Infect Dis 2001, 183:206-212.

41.Inion I: Placental malaria and perinatal transmission of human immunodeficiency virus type 1. J Infect Dis 2003, 188:1675-1678.

42.Mwapasa V, Rogerson SJ, Molyneux ME: The effect of plasmodium falciparum malaria o­n peripheral and placental HIV-1 RNA concentrations in pregnant Malawian women. AIDS 2004, 18:1051-1059.

43.Ned RM, Moore JM, Chaisavaneeyakorn S, Udhayakumar V: Modulation of immune responses during HIV-malaria co-infection in pregnancy. Trends Parasit 2005, 21:284-291.

44.Ter Kuile F: The burden of co-infection with human immunodeficiency virus type 1 and malaria in pregnant women in sub-Saharan Africa. AmJTrop Med Hyg 2004, 71:41-54.

45.European Collaborative Study: Risk factors for mother-to child transmission of HIV-1. Lancet 1992, 339:1007-1012.

46.Ticconi C, Mapfumo M, Dorrucci M, Naha N, Tarira E, Pietropolli A: Effect of maternal HIV and malaria infection o­n pregnancy and perinatal outcome in Zimbabwe. AIDS 2003, 34:289-294.

47.Nti BK, Slingluff JL, Keller CC: Stage-specific effects of plasmodium falciparum-derived hemozoin o­n blood mononuclear cell TNF-α regulation and viral replication. AIDS 2005, 19:1771-1780.

48.Harms G, Feldmeier H: HIV infection and tropical parasitic diseases deleterious interactions in both directions. Trop Med Int Health 2002, 7:479-488. PubMed Abstract | Publisher Full Text

49.Tkachuk AN, Moormann AM, Poore JA: Malaria enhances expression of CC chemokine receptor 5 o­n placental macrophages. AmJTrop Med Hyg 2001, 183:967-972.

50.Bulterys M, Nolan ML, Jamieson DJ, Dominguez K, Fowler MG: Advances in the prevention of mother-to-child HIV-1 transmission current issues, future challenges. AID Science [serial o­n the Internet] 2002 Feb.

51.Moore JM, Nahlen BL, Misore A, Lal AA et al., Immunity to placental malaria, elevated production of interferon-by placental blood mononuclear cells is associated with protection in an area with high transmission of malaria. Am J Trop Med Hyg 1999, 179:1218-1225.

52.Berger EA, Murphy PM, Farber JM: Chemokine receptors as HIV-1 coreceptors: roles in viral entry, tropism, and disease. Immunol Today 1999, 17:657-700.

53.Dayachi F, Kabongo L, Ngoie K. Decreased mortality from malaria in children with symptomatic HIV infection. Int Conf AIDS. 16-21 Jun 1991;2:164

54.Eckwalanga M et al. Murine AIDS protects mice against experimental cerebral malaria: down regulation by interleukin 10 of a T- helper type 1 CD4+ cell-mediated pathology. Proc Natl Acad Sci USA. 1994 Aug 16;17:8097-101

55.Muller O, Moser R. The clinical and parasitological presentation of Plasmodium falciparum malaria in Uganda is unaffected by HIV-1 infection. Trans R Soc Trop Med Hyg. 1990 May-Jun;3:336-8.

56.Chrystie IL, Palmer SJ, Voller A, Banatvala JE. False positive malaria and leishmania serology associated with HIV positivity. Int Conf AIDS. 1993 Jun 6-11;2:763

57.Risk of transmission of AIDS and other blood-related diseases during routine malaria activities. Bull World Health Organ. 1991;2:242-3

58.Greenberg AE. Studies of the relationship between Plasmodium falciparum malaria and HIV infection in Africa. Int Conf AIDS. 1989 Jun 4-9:983

59.Fleming AF. Tropical obstetrics and gynaecology. 1. Anaemia in pregnancy in tropical Africa. Trans R Soc Trop Med Hyg. 1989 Jul-Aug;4:441-8.

60.Lackritz E, Campbell C, Hightower A, Ruebush T, Were J. Is the cure worse than the disease: anemia, malaria, blood transfusion and child mortality in western Kenya. Int Conf AIDS. 1990 Jun 20;236(1):273

61.Weinke T, Schere W, Pohle HD. Malaria tropica in HIV infection. Klin Wochenschr. 1990 May17; 68(10):533-6

62.Maheshwari RK et al. Effect of interferon malaria infection. Immunol Lett. 1990 Aug;1-3:53-7

63.Baumann S, Geier SA, Noehl MA, Goebel FD. On the epidemiologic association between endemic Kaposi’s sarcoma and malaria. Int Conf AIDS. 1994 Aug; 1:(170):7-12

64.Schippers EF, Hugen PW, den Hartigh J, et al. No drug-drug interaction between nelfinavir or indinavir and mefloquine in HIV-1-infected patients. AIDS 2000;14:2794-5.

65.Khaliq Y, Gallicano K, Tisdale C et al. Pharmacokinetic interaction between mefloquine and ritonavir in healthy volunteers. Br J Clin Pharmacol2001;51:591-600

 

Ngày 06/03/2017
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang  

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên ngành của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế về các bệnh ký sinh trùng và các bệnh do véc tơ truyền, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng mới nổi như sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ, giun lươn, giun đũa chó và các bệnh thông thường khác; khám bảo hiểm y tế và xét nghiệm chẩn đoán bệnh bằng các phương tiện kỹ thuật cao như sinh hóa, huyết học, miễn dịch (ELISA), sinh học phân tử và chẩn đoán hình ảnh bằng nội soi tiêu hóa, siêu âm màu…

   Trung tâm Dịch vụ khoa học kỹ thuật của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế chuyên sản xuất mua bán hóa chất, vật tư, chế phẩm diệt côn trùng; dịch vụ diệt côn trùng gây bệnh, côn trùng gia dụng như muỗi, ruồi, gián, kiến…; dịch vụ phòng diệt mối mọt và xét nghiệm phát hiện tôm bằng các kỹ thuật hiện đại.


 KẾT QUẢ TUYỂN SINH
 CHUYÊN ĐỀ
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: Khu vực 8-Phường Nhơn Phú-Tp. Quy Nhơn- Tỉnh Bình Định.
Tel: (84) 056 3547492 - Fax: (84) 056 3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng ban biên tập: TTND.PGS.TS. Nguyễn Văn Chương - Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TS.BS.Huỳnh Hồng Quang-Phó Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích