Home TRANG CHỦ Thứ 3, ngày 23/09/2014
    Hỏi đáp   Diễn đàn   Sơ đồ site     Liên hệ     English
IMPE-QN
Web Sites & Commerce Giới thiệu
Web Sites & Commerce Tin tức - Sự kiện
Web Sites & Commerce Hoạt động hợp tác
Web Sites & Commerce Hoạt động đào tạo
Finance & Retail Chuyên đề
Dịch tễ học
Côn trùng học
Nghiên cứu lâm sàng & điều trị
Ký sinh trùng sốt rét
Ký sinh trùng
Sinh học phân tử
Sán lá gan
Sốt xuất huyết
Bệnh do véc tơ truyền
Dịch bệnh nguy hiểm
Sán
Giun
Web Sites & Commerce Ấn phẩm
Web Sites & Commerce Thư viện điện tử
Web Sites & Commerce Hoạt động đoàn thể
Web Sites & Commerce Bạn trẻ
Web Sites & Commerce Văn bản pháp quy
Số liệu thống kê
Web Sites & Commerce An toàn thực phẩm & hóa chất
Web Sites & Commerce Thầy thuốc và Danh nhân
Web Sites & Commerce Góc thư giản

Tìm kiếm

Đăng nhập
Tên truy cập
Mật khẩu

WEBLINKS
Website liên kết khác
 
 
Số lượt truy cập:
1 7 6 4 7 8 3 3
Số người đang truy cập
2 1 0
 Chuyên đề Dịch tễ học
Những thay đổi trong hệ thống biểu mẫu thống kê báo cáo phòng chống sốt rét năm 2011

Hệ thống thông tin phòng chống sốt rét ở Việt Nam ra đời từ 1958 với sự giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô nhằm phục vụ cho chiến lược tiêu diệt và thanh toán sốt rét. Có trên 40 biểu mẫu, sổ ghi chép và phiếu điều tra. Trong giai đoạn này các báo cáo bắt đầu từ tuyền huyện đến tỉnh và trung ương, không có các biểu mẫu thống kê cho tuyến xã.

 

Năm 1992, với sự giúp đỡ của Tổ chức Y tế thế giới, hệ thống biểu mẫu có một số thay đổi để phục vụ cho chiến lược phòng chống sốt rét. Có hơn 10 loại mẫu, phiếu được in sẵn 2 năm 1 lần với các mầu sắc khác nhau. Các chỉ số thống kê được thu thập từ tuyến xã đến huyện, tỉnh và trung ương. Mẫu có màu sắc khác nhau: mẫu báo cáo tỉnh có màu hồng, huyện màu xanh, xã màu trắng, bệnh viện màu vàng. Hệ thống biểu mẫu sau đó được đổi mới vào năm 2004 và 2009.

Đến năm 2011 do nhu cầu lồng ghép nhằm thu thập các chỉ số của Chương trình Quốc gia phòng chống sốt rét và Dự án Quỹ toàn cầu phòng chống sốt rét nên các chỉ số và biểu mẫu có 1 số thay đổi. Ngày 4/5/2001, Viện Sốt rét KST-CT Quy Nhơn đã tiến hành tập huấn hệ thống biểu mẫu thống kê báo cáo cho cán bộ dịch tễ và thống kê 15 tỉnh khu vực miền Trung-Tây Nguyên. Nội dung của hệ thống thông tin này gồm:

Định nghĩa các chỉ số

Vùng sốt rét lưu hành (SRLH): là các xã nằm trong vùng SRLH nhẹ, vừa, nặng theo phân vùng sốt rét can thiệp (tỉnh, huyện thông báo cho các xã).

Số dân trong vùng sốt rét lưu hành: là tổng số dân của các xã nằm trong vùng có sốt rét lưu hành.

Số dân đi vào vùng sốt rét lưu hành: là những người đi vào vùng SRLH. Các địa phương nơi dân đi và nơi dân đến đều phải thống kê số người đi vào vùng SRLH.

Tổng số dân nguy cơ sốt rét: Đối với vùng SRLH: số dân trong vùng SRLH + Số dân nơi khác đến. Đối với vùng không có SRLH: số dân đi vào vùng SRLHtrở về.

Ổ bệnh: thôn/bản/ấp có ít nhất 1 KST và có mặt vector truyền bệnh chính nhưng không phải là dịch.Một ổ bệnh chỉ được thống kê khi có đủ các điều kiện trên (thống kế duy nhất 1 lần trong năm).

Tổng số bệnh nhân sốt rét (BNSR): BNSR thường: BNSR lâm sàng +BN có KSTSR và bệnh nhân sốt rét ác tính.

BNSR nội địa: là bệnh nhân SR tại địa phương, có lây truyền sốt rét tại địa phương. Bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng hoặc XN có KSTSR (+) mà trong vòng 14 ngày không đi ra khỏi địa phương đó.

Bệnh nhân sốt rét lâm sàng (SRLS): người bệnh sốt rét lâm sàng là người bệnh chưa được xét nghiệm máu hoặc xét nghiệm máu âm tính với ký sinh trựng sốt rột hoặc chưa có kết quả xét nghiệm và có đủ các đặc điểm sau:

-Sốt: có triệu chứng điển hình của cơn sốt rét với 3 giai đoạn: rét run, sốt và ra mồ hôi hoặc có triệu chứng không điển hình của cơn sốt rét: sốt không thành cơn (người bệnh thấy ớn lạnh, gai rét, nhiệt độ nách ≥37.5°C) hoặc sốt cao lien tục, sốt dao động hoặc có sốt trong 3 ngày gần đây.

-Không tìm thấy cỏc nguyên nhân gây sốt khác.

-Đang ở hoặc qua lại vùng SRLH, có tiền sử mắc sốt rét trong 2 năm gần đây.

-Trong vòng 3 ngày đầu điều trị bằng thuốc sốt rét có đáp ứng tốt.

Số BNSR lâm sàng nằm trong tổng số BNSR.

Bệnh nhân sốt rét có KSTSR: Là số BNSR có xét nghiệm lam hoặc test chẩn đoán nhanh dương tính. Số bệnh nhân có KSTSR nằm trong tổng số BNSR.

Bệnh nhân sốt rét ác tính (SRAT): sốt rét ác tính là trường hợp sốt rét nặng thường gặp do nhiễm P.falciparum hoặc nhiễm phối hợp có P.falciparum có một hoặc nhiều biến chứng (hôn mê, co giật, suy gan, suy thận, đái huyết sắc tố, phù phổi cấp, thiếu máu cấp...) bao gồm: Bệnh nhân SR ác tính có xét nghiệm (+), (-) hoặc không xét nghiệm. Số bệnh nhân SRAT nằm trong tổng số BNSR.

Bệnh nhân SRAT có KSTSR: là bệnh nhân SRAT có xét nghiệm lam hoặc test chẩn đoán nhanh dương tính. Số bệnh nhân SRAT có KSTSR nằm trong số bệnh nhân SRAT.

Bệnh nhân chết do sốt rét: là bệnh nhân chết do SRAT (có xét nghiệm (+) hoặc (-), hoặc không xét nghiệm).

Số liều thuốc điều trị bệnh nhân sốt rét: số liều thuốc chỉ sử dụng với mục đích điều trị bệnh nhân sốt rét (Bệnh nhân sốt rét có KST và bệnh nhân sốt rét lâm sàng).

Số liều cấp để tự điều trị (chỉ y tế xã trở lên mới được cấp thuốc tự điều trị): là số liều thuốc cấp cho người đi vào vùng SRLH hoặc đi rừng, ngủ rẫy với mục đích mang theo để uống khi bị sốt (không phải là uống thuốc phòng định kỳ). Cho dân vào vùng SRLH: cấp cho những dân ở cùng không có SRLH đi vào vùng có SRLH. Cho dân đi rừng, ngủ rẫy: cấp cho dân sống trong vùng SRLH khi họ đi rừng, ngủ rẫy hoặc đi qua vùng SRLH khác.

Số liều điều trị khác: là số liều thuốc sử dụng với mục đích như điều trị phỏng đoán, điều trị ban đầu khi chưa có chẩn đoán chính xác

Số liều điều trị mở rộng vùng dịch:là số liều điều trị mở rộng tại các vụ dịch sốt rét.

Ca P.falciparum điều trị thuốc SR phối hợp: là BNSR có KST P.falciparum được điều trị thuốc phối hợp, có thể là ACT (arterakin, CV artecan..) hoặc thuốc phối hợp khác theo quy định.

BNSR do thôn, xã phát hiện: là các ca bệnh sốt rét thường do y tế thôn (bản, buôn, ấp..) phát hiện và điều trị hoặc chuyển lên Trạm y tế xã; là các ca bệnh sốt rét do nhân viên trạm y tế khám và điều trị tại trạm y tế xã, hoặc xuống các thôn theo lịch để khám và điều trị sốt rét (không tính số BNSR do huyện, tỉnh, các Viện phối hợp với xã điều tra).

BNSR do huyện, tỉnh phát hiện: là các ca sốt rét do nhân viên của Trung tâm y tế dự phòng hoặc Trung tâm PCSR/YTDP tỉnh khi đi khám và điều trị tại cơ sở theo định kỳ hoặc đột xuất.

BNSR do bệnh viện phát hiện: là các ca sốt rét được khám và điều trị (nội, ngoại trú) tại các phòng khám đa khoa và bệnh viện các tuyến huyện, tỉnh và các bệnh viện Trung ương năm trên địa bàn.

BNSR do y tế tư nhân phát hiện: là các ca sốt rét do các phòng khám tư nhân và bệnh viện tư nhân khám và điều trị.

Lam điều tra dịch tễ: là số lam, que thử do huyện, tỉnh xét nghiệm tại các điểm điều tra định kỳ hoặc đột xuất (điều tra xã nào thì tính số lam/test chẩn đoán nhanh và KST vào xã đó).

Số dân được bảo vệ bằng phun tồn lưu: là số dân được bảo vệ bằng phun hoá chất tồn lưu ít nhất một lần trong năm bằng các hoá chất được sử dụng trong PCSR.

Số dân được bảo vệ bằng tẩm màn: là số dân được bảo vệ bằng tẩm màn ít nhất một lần trong năm bằng các hoá chất được sử dụng trong PCSR.

Số màn được tẩm hoá chất: là tổng số màn đôi (qui 2 màn một bằng một màn đôi) được tẩm hoá chất phòng chống muỗi ít nhất một lần trong năm.

Hướng dẫn sử dụng các mẫu báo cáo

Hệ thống biểu mẫu trong công tác PCSR gồm:

-Báo cáo công tác PCSR tuyến xã (BCX) dùng cho y tế tuyến xã hoặc CNTXN (trực thuộc tỉnh) báo cáo kết quả PCSR của đơn vị trong kỳ gửi lên TTYT huyện và lưu.Mẫu có nền trắng, chữ đen.

-Báo cáo công tác PCSR huyện (BCH) dùng cho TTYT huyện (thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh) báo cáo kết quả PCSR của huyện lên TTPCSR hoặc TTYTDP tỉnh và lưu. Mẫu có nền xanh, chữ đen.

-Báo cáo công tác PCSR tuyến tỉnh (BCT) dùng cho các TTPCSR (TTYTDP) tỉnh (thành phố trực thuộc) báo cáo kết quả PCSR của tỉnh lên Cục YTDP, Viện Sốt rét-KST-CT TƯ và các Viện khu vực. Mẫu có nền hồng, chữ đen.

-Báo cáo tình hình điều trị bệnh nhân sốt rét dùng cho PKĐKKV, bệnh viện các tuyến (bệnh viện Huyện, Tỉnh và Trung ương) để gửi báo cáo công tác điều trị bệnh sốt rét cho các đơn vị thuộc hệ thống chuyên khoa sốt rét. Mẫu có nền vàng, chữ đen.

-Mẫu báo cáo công tác PCSR bộ ngành dùng cho y tế các bộ, ngành báo cáo công tác PCSR theo tuyến và gửi các Viện chuyên khoa sốt rét. Mẫu nền trắng, chữ đen.

-Sổ quản lý BNSR dùng cho Trạm y tế xã (CNTXN) và cáccơ sở y tế tương đương.

-Phiếu xét nghiệm sốt rét cho các tuyến.

-Sổ xét nghiệm dùng cho các cơ sở xét nghiệm từ điểm kính hiển vi đến các khoa phòng xét nghiệm của bệnh viện, TTPCSR (TTYTDP) Tỉnh và các Viện chuyên khoa.

-Báo cáo điều tra dịch sốt rét dùng cho các tuyến Huyện, Tỉnh và các Viện chuyên khoa trong việc điều tra và quản lý các vụ dịch sốt rét.

Quy định chung: mỗi tuyến đều có mẫu báo cáo riêng, khi báo cáo phải ghi rõ tên tháng, quí, 6 tháng, 9 tháng hay báo cáo năm.

Cách sử dụng biểu mẫu tuyến xã

Tình hình chung:Mục này báo cáo theo tháng.Thôn còn gọi là bản, buôn, ấp,

-Xã có thuộc vùng sốt rét lưu hành không: Nếu xã nằmtrong vùng SRLH thì đánh dấu (+) vào ô thích hợp.

-Số dân đi vào vùng SRLH: Là số dân của xã đến các vùng có sốt rét lưu hành (ngủ qua đêm) và trở về.

-Số dân nguy cơ:

-Đối với các xã nằm trong vùng SRLH: là số dân của xã trong tháng cộng với dân từ nơi khác đến làm ăn và ngủ lại.

-Đối với các xã không nằm trong vùng SRLH: là số dân đi vào vùng SRLH trở về.

Bệnh nhân sốt rét và điều trị: Mục này báo cáo theo tháng, thống kê theo các định nghĩa của các mục theo hàng ngang của bảng. Mỗi chỉ số được ghi theo các nguồn phát hiện sao cho tổng các cột (do y tế thôn bản, do y tế xã và y tế tư nhân) bằng cột số lượng.

Kết quả xét nghiệm: Mục này báo cáo theo tháng, xét nghiệm sốt rét được chia làm 2 loại: xét nghiệm lam máu và xét nghiệm bằng que thử (nhưParasight F ...), mỗi loại xét nghiệm được thống kê theo các cột tương ứng. Đối với trường hợp một bệnh nhân được xét nghiệm cả bằng kính hiển vi và que thử cùng cho kết quả dương tính, khi thống kê ca dương tính chỉ đưa vào một loại xét nghiệm. Các xã chưa có kính hiển vi, các lam thử được gửi cho các cơ sở xét nghiệm của huyện. Đơn vị ghi kết quả vào mục này theo kết quả xét nghiệm nhận được.

Công tác tuyên truyền: Mục này báo cáo theo tháng bao gồm tất cả các hình thức truyền thông GDSK đã tiến hành nhằm giáo dục người dân tham gia tích cực vào công tác PCSR cho bản thân, gia đình và cộng đồng như nói chuyện, thảo luận, triển lãm, văn nghệ, phim ảnh, video, báo, đài... Thống kê theo 2 dạng truyền thông: truyền thông trực tiếp như nói chuyện, thảo luận nhóm; truyền thông gián tiếp như chiếu phim, văn nghệ, triển lãm, phát thanh.

Tình hình thuốc, hóa chất và vật tư phòng chống sốt rét: Mục này báo cáo theo tháng, cột 2 (tên thuốc) đã ghi sẵn danh mục thuốc, hóa chất, vật tư theohàng dòng ở cột tên thuốc. Khi báo cáo đơn vị có loại thuốc vật tư nào ghi đúng vào dòng có tên đó, các dòng khác để trống. Trung tâm y tế Huyện căn cứ vào báo báo để có hướng xử lý hoặc cấp bổ sung hoặc điều chuyển.

Cách ghi chép biểu mẫu cho tuyến huyện và tỉnh

Tình hình chung: Mục này báo cáo theo tháng, báo cáo theo phần định nghĩavùng sốt rét của chương 1 như mẫu báo cáo tuyến xã. Thống kê số ổ bệnh dựa vào số liệu của xã (mỗi ổ bệnh chỉ được thống kê duy nhất 1 lần trong năm)

Bệnh nhân sốt rét và điều trị: Mục này báo cáo theo tháng như mẫu tuyến xã. Thống kê theo định nghĩa các mục báo cáo tuyến huyện. Mỗi một chỉ số được ghi theo các nguồn phát hiện sao cho tổng các cột (do y tế thôn bản,xã , đội YTDP, y tế tư nhân) bằng cột số lượng.

Kết quả xét nghiệm: Mục này báo cáo theo tháng, cột cơ sở phát hiện bao gồm các nguồn thực hiện xét nghiệm (thử máu, hoặc que thử) theo dòn. Do y tế xã, thôn: bao gồm các xét nghiệm (lam máu hoặc que thử) được y tế xã hoặc thôn thực hiện (đối với các xã có kính hiển vi) tại Trạm Y tế xã và các lam lấy khi đi phát hiện tại các thôn và các lam do y tế thôn lấy. Nếu xã không có kính số lam này được gửi lên tuyến trên xét nghiệm và ghi kết quả trả lời vào các cột tương ứng). Do đội YTDP bao gồm cả lam và que thử do đội YTDP Huyện thực hiện khi đi phát hiện bệnh. Do bệnh viện, PKĐKKV bao gồm các kết quả xét nghiệm lam hoặc que thử được tiến hành tại Bệnh viện và PKĐKKV. Các kết quả xét nghiệm lam hoặc que thử trong các cuộc điều tra dịch tễ của TTYT huyện hoặc TTPCSR tỉnh tiến hành được đưa vào dòng điều tra dịch tễ nhưng số lượng lam và KST thì tính vào xã đã tiến hành điều tra. Các kết quả xét nghiệm được ghi theo hàng cột tương ứng với mỗi dòng.

Phân bố sốt rét theo xã (huyện: Mục này báo cáo theo thángchỉ ghi tên xã hoặc tên huyện là các đơn vị hành chính mà Y tế Huyện, Tỉnh quản lý về mặt hoạt động PCSR. Mỗi đơn vị (theo hàng dọc) ghi rõ số lượng theo các mục hàng cột của từng kỳ báo cáo. Khi báo cáo phân bố BNSR theo địa phương nếu BNSR do bệnh viện, đội YTDP và TTPCSR phát hiện thì chuyển bệnh nhân đó về đơn vị Xã, Huyện nơi họ sống. Những bệnh nhân không rõ địa chỉ ghi thành một dòng riêng " Bệnh nhân nơi khác". Bệnh viện, TTPCSR và các cơ sở sự nghiệp không phải là đơn vị hành chính nên không ghi trong mục này.

Các biện pháp phòng chống muỗi truyền bệnh: chỉ báo cáo khi tiến hành phun, tẩm bao gồm các biện pháp phòng chống muỗi (tẩm màn bằng hóa chất, phun tồn lưu).

-Dân số nguy cơ: Thống kê như phần định nghĩa các chỉ số.

-Tên xã (huyện): Ghi tên đơn vị hành chính mà mình quản lý. Báo cáo Huyện ghi tên Xã, báo cáo tỉnh ghi tên huyện.

-Dân số được bảo vệ bằng hóa chất: Là tổng dân của địa phương được phun hóa chất cộng với số dân được bảo vệ bằng tẩm màn.

-Các dòng của cột tên xã (huyện) là tên đơn vị hành chính mà mình quản lý, mỗi một dòng tương ứng với các mục theo hàng cột.

Tuyên truyền: Mục này báo cáo theo tháng bao gồm tất cả các hình thức truyền thông GDSK đã tiến hành nhằm giáo dục người dân tham gia tích cực vào công tác PCSR cho bản thân, gia đình và cộng đồng như nói chuyện, thảo luận, triển lãm, văn nghệ, phim ảnh, Video, báo, đài... Thống kê theo 2 dạng truyền thông: truyền thông trực tiếp như nói chuyện, thảo luận nhóm; phương tiện nghe nhìn như chiếu phim, văn nghệ, triển lãm, phát thanh.

Giám sát hoạt động phòng chống sốt rét: Mục này báo cáo theo quíbao gồm các hình thức giám sát (theo dòng của cột 1) trong quí báo cáo. Ghi số lượng cụ thể theo các mục vào cột số lượt giám sát và số điểm giám sát.

Dịch sốt rét và cách giải quyết: Mục này báo cáo trong kỳ có dịch, ngoài báo cáo dịch khẩn cấp.Dịch sốt rét là hiện tượng số BNSR do lây truyền tại chỗ tăng lên đột biến so với cùng thời gian các năm trước đó tại một quần thể dân cư nhất định (thôn, xã, liên xã). Địa điểm xảy dịch và phạm vi dịch: Ghi rõ thôn, xã, huyện nếu có nhiều thôn trong một xã cùng xảy dịch chỉ ghi tên xã.

-Dân số vùng dịch: thống kê dân số đang sống trong các thôn xảy dịch, nếu là xã ghi dân số cả xã.

-Thời gian xẩy dịch: ghi thời điểm bắt đầu xảy dịch ở địa phương.

-Thời gian phát hiện dịch: Ghi thời gian đơn vị phát hiện dịch.

-Thống kê số lượng BNSR, tử vong do SR và số KSTSR theo các mục theo hàng.

-Biện pháp xử lý: ghi rõ các biện pháp mà đơn vị tiến hành chống dịch trong kỳ báo cáo như phun hóa chất (số dân bảo vệ) trong phạm vi vụ dịch hay phun mở rộng (tức là cả các vùng có nguy cơ lan đến). Về điều trị ghi rõ số lượng điều trị BNSR và số đối tượng điều trị mở rộng trong vùng dịch.

-Kết quả và nhận xét: ghi nhận xét của đơn vị về mức độ dịch, khả năng can thiệp, hiệu quả.

Đào tạo và xây dựng màng lưới: Mục này báo cáo theo quí và năm, thống kê các loại cán bộ thuộc các cơ sở theo tuyến của hệ thống PCSR hiện nay. Còn các loại cán bộ khác của địa phương không thống kê vào mục này như bệnh viện, phòng khám ĐKKV. Hàng cột được mô tả về Số cán bộ và người đã được tham gia tập huấn về các hoạt động của DAPCSR mà cơ sở quản lý.

Tình hình thuốc, hóa chất và vật tư phòng chống sốt rét: Mục này chỉ báo cáo quí, 6 tháng và cả năm gồm các loại thuốc, hóa chất vật tư của hệ thống PCSR được ghi sẵn trong cột "Tên thuốc, hóa chất vật tư và kinh phí". Ứng với mỗi dòng là các danh mục theo cột.

Nhận xét và đề nghị: ghi nhận xét về diễn biến tình hình sốt rét trong kỳ báo cáo và so với cùng kỳ của năm trước đó. Phân tích nguyên nhân (nếu có) diễn biến của tình hình. Nhận xét về số lượng, chất lượng và hiệu quả các biện pháp can thiệp. Tiên lượng diễn biến sốt rét trong thời gian tiếp theo, các khó khăn trở ngại. Đề nghị cụ thể đối với các cấp, ngành có liên quan để giải quyết các vấn đề của địa phương.

Một số qui định thời điểm báo cáocác tuyến trong hệ thống PCSR.

Thời điểm tính thu thập số liệu

Số liệu báo cáo hàng tháng được tính theo qui định của Bộ Y tế như sau: từ ngày mồng 1 của tháng đến ngày 30 hoặc 31 của tháng báo cáo. Số liệu báo cáo hàng năm, quí và 6 tháng được tính như sau:

-Quí I gồm các tháng 1 + 2 + 3.

-Qúi II gồm các tháng 4 + 5 + 6.

-Quí III gồm các tháng 7 + 8 + 9.

-Quí IV gồm các tháng 10 + 11 + 12

-Số liệu báo cáo 6 tháng đầu năm gồm quí I, quí II.

-Số liệu báo cáo 6 tháng cuối năm gồm quí III, IV.

-Số liệu báo cáo 9 tháng gồm quí I, II, III.

-Số liệu báo cáo cả năm gồm 12 tháng.

Thời điểm gửi báo cáo của các tuyến

-Tại xã (CNLTXN, BV, PKĐKKV): Thời điểm khóa sổ tổng hợp là hết ngày 30 hoặc 31 của tháng đó.

-Tại huyện: Thời điểm khóa sổ nhận báo cáo là ngày 5 của tháng sau.

-Tại tỉnh: Thời điểm khóa sổ nhận báo cáo là ngày 10 của tháng sau.

-Tại Viện và Cục YTDP: Thời điểm khóa sổ nhận báo cáo là ngày 15 của tháng sau.

Nơi gửi và nhận báo cáo

-Mỗi báo cáo tuyến huyện và xã phải làm thành 2 bản: 1 gửi lên tuyến trên, 1 để lưu.

-Đối với tuyến tỉnh phía Bắc làm thành 3 bản (1gửi về Viện Sốt rét KST-CT TƯ, 1 gửi Cục YTDP, 1 lưu tại đơn vị).

-Đối với tuyến tỉnh thuộc 2 khu vực Miền Trung và Nam Bộ làm thành 4 bản (1 gửi cho Viện Sốt rét KST-CT TƯ, 1 gửi Cục YTDP, 1 gửi Viện Sốt rét-KST-CT khu vực và 1 lưu tại đơn vị).

-Đối với các bệnh viện Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh, thành phố gửi báo cáo về TTPCSR (TTYTDP) tỉnh đó.

Các báo cáo bổ sung

-Những địa phương nhận báo cáo của tuyến dưới chậm so với qui định, phải gửi báo cáo bổ sung của tháng đó lên tuyến trên và tách riêng, không được cộng vào báo cáo tháng sau để tránh nhận định sai về diễn biến tình hình sốt rét địa phương.

-Ngoài ra, hệ thống biểu mẫu mới cũng có một số chỉ số thay đổi trong phiếu xét nghiệm, sổ theo dõi bệnh nhân sốt rét.

Ngày 14/05/2011
TS. Hồ Văn Hoàng  

THÔNG BÁO

   Dịch vụ khám chữa bệnh chuyên ngành của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế về các bệnh ký sinh trùng và các bệnh do véc tơ truyền, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng mới nổi như sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ, giun lươn, giun đũa chó và các bệnh thông thường khác; khám bảo hiểm y tế và xét nghiệm chẩn đoán bệnh bằng các phương tiện kỹ thuật cao như sinh hóa, huyết học, miễn dịch (ELISA), sinh học phân tử và chẩn đoán hình ảnh bằng nội soi tiêu hóa, siêu âm màu…

   Trung tâm Dịch vụ khoa học kỹ thuật của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thuộc Bộ Y tế chuyên sản xuất mua bán hóa chất, vật tư, chế phẩm diệt côn trùng; dịch vụ diệt côn trùng gây bệnh, côn trùng gia dụng như muỗi, ruồi, gián, kiến…; dịch vụ phòng diệt mối mọt và xét nghiệm phát hiện tôm bằng các kỹ thuật hiện đại.


 KẾT QUẢ TUYỂN SINH
  Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn thông báo trúng tuyển KTVXN khu vực miền Trung-Tây Nguyên năm học 2012-2014
 CHUYÊN ĐỀ
 CÁC VẤN ĐỀ QUAN TÂM
 LOẠI HÌNH DỊCH VỤ
 PHẦN MỀM LIÊN KẾT
 QUẢNG CÁO

Trang tin điện tử Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
Giấy phép thiết lập số 53/GP - BC do Bộ văn hóa thông tin cấp ngày 24/4/2005
Địa chỉ: 611B Nguyễn Thái Học - Tp. Quy Nhơn - T.Bình Định.
Tel: (84) 056 3547492 - Fax: (84) 056 3647464
Email: impe.quynhon@gmail.com
Trưởng ban biên tập: TTND.TS. Nguyễn Văn Chương - Viện trưởng
Phó Trưởng ban biên tập: TTND.PGS.TS.Triệu Nguyên Trung - Nguyên Viện trưởng
• Thiết kế bởi công ty cổ phần phần mềm: Quảng Ích